tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19002133
Tiểu thuyết
19.03.2012
Hoài Anh
Nguyễn Thông Vọng Mai Đình

VIII- Sức khỏe mới hơi hồi phục, Lê Cẩn đã nóng ruột đòi đi tìm Thủ khoa Nghĩa và Nguyễn Giao để xem việc chiêu mộ nghĩa binh đã làm đến đâu. Lan muốn giữ anh lại đến khi khỏe hẳn hãy đi nhưng anh nhất quyết không chịu. Cuối cùng cô đành để cho đi nhưng tình nguyện chở xuồng đưa anh tới Vũng Liêm, kẻo đi đường bộ, vết thương chưa lành hẳn lại tấy lên thì nguy hiểm.


Xuồng lướt trên sông Cổ Chiên sóng nước mênh mông. Gió thổi mạnh đưa những gỉ lục bình trôi xuôi. Nhìn ra xa, thấy chùa Bãi Tiên, Lê Cẩn nói:


- Em có biết vì sao lại có tên chùa Bãi Tiên không?


Lan lắc đầu:


- Hồi nhỏ có lần em theo má tới viếng cảnh chùa, nhưng còn tại sao lại kêu là chùa Bãi Tiên thì em không rành.


Lê Cẩn chỉ tay về phía đó:


- Nguyên chùa Bãi Tiên nằm trên cù lao Táng. Ngày xưa, vào một đêm trăng trong sáng tỏ, một chàng trai bỗng nhìn thấy trên cu lao gần như hoang vu này một đám thiếu nữ đẹp tuyệt trầm thướt tha qua lại, rồi xõa tó, trễ trang xiêm y gieo mình xuống tắm dưới làn nước. Chàng liều lĩnh rón rén toan bước đến gần. Vụt chốc cả đoàn giai nhân cũng dần dần biến dạng đâu mất cả. Đêm ấy chàng trở về nhà, lòng vẫn hồi hộp, không sao nhắm mắt được. Khuya hôm sau, chàng rón rén ra sân tìm chỗ kín đáo ẩn núp, nhìn trộm. Bỗng nhiên dưới ánh trăng vàng, dần dần xuất hiện đoàn thiếu nữ hôm qua, và lạ chưa, dường như đoàn mỹ nữ kia linh tính có kẻ dòm ngó, nên chỉ trong chốc lát vụt tan biết trong không, chẳng còn tìm đâu ra tăm bóng.


Nếu là yêu tinh, dễ gì chàng ta đã được yên thân. Thôi hẳn là đoài tiên nữ giáng trần, không còn ngờ gì nữa. Rạo rực trong lòng, khó giữ kín miệng được, chàng đem thổ lộ chuyện đã trông thấy người trên cù lao biết. Ai nấy đều tỏ vẻ không tin. Mọi người quyết cùng nhau rình xem cho rõ hư thực thế nào.


Mấy đêm sau, không ai thấy gì, nhiều người chế giễu chàng thanh niên si tình, bịa chuyện nhảm. Chàng thở dài phàn nàn: “Tôi đặt điều để làm gì? Các anh các chị không tin thì cứ kiếm chốn rình xem, chắc thế nào cũng có ngày trông thấy tận mắt như tôi”.


Qua tháng sáu, đến độ trăng tròn, một đôi người trong vùng còn tò mò theo dõi rình rậ bóng dáng tiên nữ xuống trần, quả nhiên được toại nguyện. Có điều về sau, đoàn tiên xuống nhởn nhơ trên bãi, chắc đã biết có mắt phàm soi mói, nên thoắt hiện thoắt ẩn, không tha thướt phô dáng yêu kiều như đêm nao chàng thanh niên đã trông thấy đầu tiên.


Lại thêm có vài ngư ông đưa tin, có nhận thấy niều dấu chân lạ trên bãi. Bởi vậy dân chúng trên cù lao Táng tin chắc có chuyện tiên nữ giáng trần phía ngoài bãi lài. Lâu ngày truyền tụng đặt tên chốn ấy là Bãi Tiên…


Lan mơ màng:


- Câu chuyện hay quá! Ước gì em nhìn thấy tiên một lần mới thỏa lòng…


Lê Cẩn cười:


- Anh thì không cần phải nhìn thấy tiên làm gì nữa.


- Sao vậy?


- Vì anh đã thấy tiên ở ngay trên đời này rồi…


- Tiên đâu? – Lan sửng sốt nhìn quanh.


- Em nhìn theo tay anh chỉ nha. – Ngón trỏ anh xoay quanh một vòng rồi chỉ vào Lan – Tiên đây nè!


Lan ngượng ngùng:


- Anh giỡn em hoài! Tiên gì mà tiên…


- Em còn đáng quý hơn tiên chớ: Tiên chỉ biết tắm còn em thì biết chèo xuồng, tiên thấy chàng trai thì biến mất còn em… ở lại mãi bên anh…


Lan bũi môi nói dài giọng:


- Anh đã chắc em ở mãi với anh hay sao mà nói vậy. Lỡ em cũng biến đi như cô tiên ấy thì sao nào?


- Không! Anh tin chắc rằng em sẽ ở với anh cho đến khi răng long đâu bạc…


- Nói lời thì giữ lấy lời nghe không?


- Anh xin thề: nếu ai mà trái lời thì sẽ…


Lan vội ngắt lại:


- Thôi anh không phải thề nữa. Em đã hiểu lòng anh rồi.


- Còn anh thì… thương em chẳng biết để đâu, để trong túi áo lâu lâu lại nhìn…


- Vậy em là cái kiếng của anh à. – Lan giận dỗi quay đi.


- Là cái kiếng thì mới đinh ninh đôi mặt một lời song song chớ? Còn em thương anh chừng nào nào?


- Em thương anh bất tận vô hồi, ngủ quên còn nhớ, thức dậy rồi còn thương… Anh bằng lòng chưa? Lê Cẩn cảm động:


- Anh xin cảm ơn em… Thôi em chèo mệt rồi, để anh chèo đỡ cho…


- Anh còn đau, chèo làm sao được. Để em chèo cho mà.


Lê Cẩn toan giành lấy chèo, Lan giữ lại, chiếc xuồng bị động mạnh chòng chành suýt lật. Lan bực bội:


- Đã bảo để người ta chèo mà cứ giành, chút nữa thì…


- Thì hai ta cùng chết với nhau một chỗ cũng được chứ sao


- Phỉ phui! Đừng có gở miệng! Lỡ chết thiệt thì sao?


- Chết sao được mà chết! Em tưởng anh chết dễ lắm sao?


Lan chợt nhớ ra:


- Ý! Chút nữa em quên! Anh là tay đua ghe giỏi nhứt vùng này kia mà!


- Ủa, sao em biết?


- Thì em đã nhìn thấy anh từ cái bữa anh đua ghe ngo kia! Bữa đó trông anh đẹp quá! Em cứ nhìn không biết chán mắt!


Lê Cẩn ngạc nhiên:


- Vậy hả? Sao bây giờ em mới nói cho anh hay?


Lan âu yếm:


- Em muốn giành cho anh một sự bất ngờ! Anh biết không, khi anh bị thương nằm thiêm thiếp, em cũng ngồi bên giường ngắm anh như lần đầu ngắm anh đang lái ghe lướt trên sóng nước. Đúng như câu anh nói: “Thương anh chẳng biết để đâu, để trong túi áo lâu lâu lại nhìn…”.


Lê Cẩn xúc động chưa biết nói gì thì bỗng trên bờ có tiếng gọi:


- Cô gái ơi, làm ơn ghé vô cho tôi quá giang chút!


Lê Cẩn nhìn lên bờ lo lắng, tưởng là có tay sai của giặc lùng bắt mình. Nhìn kỹ nhận ra người đó là Nhiêu Tâm, anh bảo Lan ghé xuông vô bờ rồi hỏi:


- Tưởng ai té ra ông Nhiêu. Ông đi đâu vậy?


Nhiêu Tâm cũng nhận ra:


- Kìa, ông quản cơ. Tôi được anh Nguyễn Giao mời tới Vũng Liêm họp bàn công việc nên kêu xuồng xin quá giang, ai dè lại gặp ông. – Vừa nói ông vừa bước xuống xuồng. – Cám ơn cô lái nghen.


Lê Cẩn mừng rỡ:


- Vậy ra ông biết chỗ anh Nguyễn Giao à? Tôi cũng đang lo kiếm ảnh đây. Còn ông Thủ khoa Nghĩa thì…


- Ông thủ khoa đi khắp các làng hô hào mọi người gia nhập nghĩa quân, bị Tổng đốc Uyển báo cho Tây bắt giam vào ngục Vĩnh Long rồi.


Lê Cẩn ngậm ngùi:


- Té ra ông Thủ khoa đã sa vào tay tụi nó… Không biết ông có làm sao không?


Nhiêu Tâm nói:


- Bọn Tây và thằng Tường còn đang muốn mua chuộc nên tạm thời lúc này chúng vẫn chư a đụng tới ống ấy.


Thấy Lê Cẩn có vẻ buồn, Nhiêu Tâm lièn chuyển sang chuyện khác cho không khí bớt nặng nề:


- Ông quản cơ và cô lái có biết chuyện lão bá hộ Nọn không?


Lan nhẹ nhàng:


- Chuyện thế nào, ông kể cho cháu nghe đi.


Nhiêu Tâm cười:


- Lão bá hộ Nọn người làng Long Châu, tổng Bình Long, giàu có lớn. Lão ta muốn gặp tôi để xin kết giao, nhưng tôi không ưa nơi quyền quý nên mấy lần lão mời tôi không tới. Một bữa, lão gặp tôi tỏ vẻ mừng rỡ hỏi tôi hồi này làm ăn ra sao. Tôi liền ứng khẩu đọc:


Thấy anh tôi nghĩ lại tôi buồn,


Tôi khó anh giàu đã quá muộn,


Anh vậy, tôi vầy trời kiến vậy,


Chúc cho con cháu vậy luôn luôn.


Lê Cẩn reo lên:


- Hay quá! Quá muôn nghe ra thành quá muôn bạc hay hóa muông thú đều được hết! Chắc nghe được ông lão uất lắm phải không?


Nhiêu Tâm đắc ý:


- Lão uất lắm nhưng không làm gì được tôi. Nghe nói nhà lão có rước về một thầy đồ để dạy chữ nho. Thầy ấy ỷ tài khinh người, tôi nghe vậy đã thầm tức mình, tính có dịp sẽ trừng trị kẻ phách lối một phen. Lần sau được lời mời, tôi liền khăn áo chỉnh tề tới thăm lão. Lão tiếp rước niềm nở lại giới thiệu với tôi ông thầy đồ ý muốn mượn tay ông áp đảo tôi. Tôi mỉm cười ra vẻ khiêm cung, xưng phục thầy ta dữ lắm. Thầy càng vênh váo, chẳng chút nhún nhường, tôi liền nhỏ nhẹ xin thầy ra đề cho tôi học làm thơ. Thầy ngạo mạn:


“Làm thơ à? Thôi chẳng bõ mua cười”. Tôi nài: “Xin cứ ra để cho tôi làm thử”. Thầy gắt: “Đã biểu như vậy mà còn… Biết ra đề gì cho ông làm thử được bây giờ. Cao không tới, thấp không thông, mất thì giờ lại thêm bực chớ chẳng ích gì”. Tôi vẫn từ tốn nài nỉ. Thầy ta càng được thể tự tài cao, lên mặt vinh râu, buông sõng một câu, nói ông với cô lái bỏ qua cho;


- Cục cứt!


Tôi tằng hắng rồi nghiêm trang ứng khẩu:


Bảo tử là cha; mẹ ruột dồi,


Đẻ không nên chỗ để mày trôi.


Liếc thấy thầy ta thoáng biến sắc nhưng tôi cứ đọc luôn:


Chọt chân chẳng nỡ thây nhằm đạp,


Bịt mũi mà qua đã gớm rồi.


Chẳng chó bắt mèo ngồi ngứa mắt,


Có tong cùng chốt rượn tràm môi.


Rồi giơ tay chỉ lão bá hộ, tôi gật đầu cười, đọc tiếp:


Lẫn thay cho lão ngồi càu quẹt,


Chấp chứa làm chi những giốngg hôi.


Lê Cẩn và Lan cùng reo lên:


- Hay! Hay! - Lê Cẩn tiếp – Vậy là cả lão bá lẫn thầy đồ đều bị một vố đau nhớ đời!


Nhiêu Tâm cười hóm hỉnh:


Có lẽ sau vụ ấy, lão bá cũng biết người biết ta hơn trước nên không dám giở giọng ỷ của khinh người nữa. Lão biết mình bị người đời chửi rủa nên ráng làm một số việc từ thiện như bắc cầu đắp đường, giúp đỡ dân nghèo để mua lòng mọi người. Vừa qua khi Tây phá thành Vĩnh Long để xây công sở dinh thự, lão bá đứng ra xin giữ lại miếu để bảo tồn di tích, kể ra đó cũng là điều tốt. Vậy là vẫn còn giữ được chút gì là hương hoa đất nước.


Lê Cẩn sửng sốt:


- Tây phá hủy thành trì của ta rồi hả ông?


Nhiêu Tâm buồn rầu:


- Vừa rồi bờ thành bị san bằng, một phần làm nền cho các công thự mới, trại lính tập và mã tà, cùng xây nền chợ Vĩnh Long, phần khác làm đường xá trong tỉnh thành. Vuông đất Hoàng cung thì được dùng làm mô vạt súng cho lính tập. Ngôi đình Khao vốn là nơi khao quân, khiển tướng cũng bị triệt hạ đem về cất Tòa Bố của chúng. Từ khi đình bị triệt hạ, cuộc đất bỏ trống chỉ còn cái nền và mấy gốc dương cổ thọ chứng kiến bao cảnh thăng trầm của đất nước… Những mô súng đồng đặt dọc theo bờ sông Cổ Chiên và Vĩnh Tòng cũng bị san bằng, giặc muốn xóa không còn một dấu tích gì về lịch sử oai hùng của ông cha ta nữa…


Lê Cẩn bồi hồi nhớ lại chính mình đã dùng cỗ súng này bắn giặc Lang Sa khi chúng đánh thành lần đầu. Khi tọng thuốc đạn vào nòng súng, anh đã nhồi thêm vào đó khối căm hờn nén chặt chì nổ tung xác quân xâm lược. Chỉ vì chính sách chủ hòa của triều đình mà những cỗ súng lớn đúc bằng gang này trở thành vật vô dụng và bị kẻ thù tàn phá. Chiếc Cầu Lầu, cây đa Cửa Hữu biết có còn chăng hay phó mặc cho vật đổi sao đời…


Xuồng đã tới gần Vũng Liêm, Lan nói với Nhiêu Tâm:


- Có câu “chuyến đò nên nghĩa”, xin ông Nhiều làm cho cháu một bài thơ để ghi lại cuộc gặp gỡ hôm nay.


Nhiêu Tâm khiêm tốn:


- Từ trước đến nay tôi chỉ quen làm thơ phúng thích chớ ít khi làm thơ nghiêm chỉnh. Nhưng để tạ lòng cô gái đã cho nhờ thuyền, tôi xin đọc một bài thơ làm món quà tặng đôi bạn trẻ và những người đồng trang lứa, nhân thể giãi bày tâm sự của lớp già chúng tôi. Rồi ông cất giọng đọc:


Đoàn trước qua rồi đã vững tay,


Đường xa riêng sợ lớp sau này.


Buồm trương ngán sóng e về nỗi,


Thuyền nặng ra khơi ngại chở đầy.


Lỡ xoát phải kềm tay lái bát,


Biết khôn có giữ sợi neo thầy.


Chờ tan dông gió đưởng xưa lại,


Kẻo trẻ bơ thờ khấp khởi dây.


Nghe xong thơ, Lê Cẩn chắp tay trịnh trọng:


- Chúng cháu xin hứa giữ vững sợi neo thầy mà lớp người đi trước trao lại, ráng đưa thuyền đi tới đích.


Nhiêu Tâm cười, cái cười hài lòng khi lớp người tuổi trẻ đã hiểu được lời ký thác của mình.


Tham biện Vĩnh Long a-lít-xơ Xa-li-sét-ti là một tên quan cai trị khét tiếng không quỷ, giỏi thủ đoạn chiêu dụ dân chúng tòng phục nhà nước Lang Sa. Với những ai gan góc chống lại, y cũng đàn áp tàn nhẫn không chút nương tay.


Thấy Mai Đăng Xuân là người có thế lực trong vùng, Xa-li-sét-ti đích thân đến mời ông ra làm tri huyện Duy Minh. Nhưng ông khéo léo tìm cách từ chối, rồi cùng Nguyễn Giao âm thầm chiêu mộ nghĩa binh chống giặc.


Chẳng bao lâu hào kiệt trong vùng như các ông Hoàng Cao Hổ, Trần Điều cũng tìm đến tụ nghĩa. Đại bản doanh của nghĩa quân đóng ở ấp Tư làng An Trường trong nhà ông Xuân.


Ông Xuân và Nguyễn Giao đang lo lắng về chuyện Bùi Hữu Nghĩa bị giam trong ngục thì bà Đỗ đến báo tin ông Thủ khoa đã khước từ lời dụ dỗ của giặc và tay sai. Được tấm gương khí tiết của ông cổ võ, mọi người đều tăng thêm quyết tâm chiến đấu.


Nghĩa quân An Trường thường chặn đánh bọn lính đi theo và dựa vào thế lực của Tây, từ Cầu Kè, Bắ Sa ma, Ô Dùng, Láng Thé, Ba Si đến quấy nhiễu dân. Xuất phát từ An Trường, nghĩa quân đi đánh các nơi trong vùng để bảo vệ nhân dân, đã gây được tiếng vang. Trai tráng trong tỉnh bị hà hiếp đều dồn về gia nhập nghĩa quân.


Thấy Lê Cẩn tới nơi, Nguyễn Giao rất mừng vì hiện đang thiếu người giỏi võ nghệ huấn luyện cho những trai tráng mới nhập vào hàng ngũ.


 Từ đó hàng ngày Lê Cẩn đưa nghĩa quân ra bãi đất giồng dạy võ nghệ. Bắt đầu anh cho mỗi người xách hai quả tạ nặng 100 cân, hai tay xách hai quả, đi một quãng đường dài ba, bốn mươi trưọng. Rồi dạy múa côn gỗ, côn sắt, gươm, siêu và đại đao. Anh cho mọi người cầm giáo dài, đứng cách xa bù nhìn mười trượng, chạy đến đâm. Chỗ đất nghĩa quân đứng cách xa bù nhìn có đào sẵn ba cái hố, cứ ba hố thò ba quãng đất không. Nghe trống thúc phải chạy nhảy qua ba cái hố sâu rồi nhắm đâm trúng bù nhìn. Xong, anh dạy họ bắn súng có máy đá, từ chỗ đứng bắn đến chỗ dựng bia cách xa 25 trượng, phải bắn sáu phát, trúng vòng hay trúng cái dĩa đích trên bia. Chỉ một vài tháng sau, nghĩa quân đã tập luyện thành thạo đủ các môn võ nghệ. Lê Cẩn lại mở cuộc thi đấu roi để sát hạch, dựng hai côn gỗ đầu còn bọc giẻ và có nhúng mực. Cứ hai người một thi đấu với nhau, dứt một hiệp nếu ai có nhiều dấu mực trên áo tức là bị côn đánh trúng thì người ấy bị thua cuộc. Sau đó thi bắn, bia là một người bù nhìn bằng bùn quét vôi. Người thi đứng cách bia hai mươi trượng. Ai bắn trúng ba phát liền vào bụng, đầu, mắt bù nhìn hay vào khuyên vòng thì người ấy thắng cuộc. Cuối cùng là thi đấu quyền, một người đấu với năm người, hễ ai thắng ba người thì cho là được cuộc, chỉ thắng hai người coi như là thua.


Được tập luyện đến nơi đến chốn, nghĩa quân chẳng những đã tăng thêm thể lực và tài năng mà về nhuệ khí cũng ngày một lên cao.


Lê Cẩn được các tướng nghĩa quân đồng thanh cử làm Đốc binh. Nhiêu Tâm tạm thời thay thế Bùi Hữu Nghĩa trong việc hô hào trai tráng gia nhập nghĩa quân. Còn Lan thì làm nhiệm vụ đưa tin tức, liên lạc với các nhóm nghĩa quân khác.


Một bữa Lan về báo tin, bọn Tây rất chú ý đến An Trường, cử tên Thực về làm chủ quận Vũng Liêm và giao cho y nhiệm vụ mang quân về đánh phá vùng này. Lê Cẩn bèn bàn bạc với các tướng lĩnh tìm cách phòng thủ để chặn đánh địch. Dọ theo quận lỵ Vũng Liêm, nghĩa quân đào hào đắp luỹ để ngăn tàu chiến Lang Sa từ ngoài vào vàm sông Cổ Chiên chạy vào. Cách bốn ngàn thước, thuộc về ấp Vạn Điền, đắp một thành cao để đóng binh.


Vài ngày sau, lại có Cử Trị đến thăm. Biết ông hay đi đây đi đó biết nhiều tin tức, mọi người xúm xít quanh ông hỏi thăm tình hình. Ông vui vẻ:


- Sau khi Vĩnh Long thất thủ, ba tỉnh miền Tây bị giặc chiếm nhưng dân ta không chịu khuất phục đã đứng lên khởi nghĩa ở khắp nơi. Phan Liêm, Phan Tôn, con trai quan Phan cầm đầu nghĩa binh đánh Tây ở Vĩnh Long, Trà Vình, Sa Đéc, Bến Tre, Lê Văn Thạch, Phạm Văn Đồng, Âu Dương Lân, Lâm Văn Lễ khởi nghĩa ở Vĩnh Long, Long Xuyên, Cần Thơ. Ong Chưởng đánh Tây ở Rạch Chùa Sóc Trăng. Quản Nhơn đánh vào thành Mỹ Tho. Rồi Võ Đinh Sâm nổi dậy ở vùng Ba Láng, Trà Niềng Cần Thơ, giết chết tên cai tổng Định Bảo Nguyễn Văn Vĩnh làm tay sai cho giặc. Oanh liệt nhất là Thành thủ úy Hà Tiên Nguyễn Văn Lịch đánh chiếm đồn Rạch Giá một số lớn giặc Lang Sa và mã tà, trận này giặc thiệt hại nặng phải đưa viện binh từ Vĩnh Long, Định Tường qua để bù vào số tổn thất…


Lê Cẩn sảng khoái:


- Vậy là lòng người ở đâu cũng như nhau, đều chung niềm căm hờn lũ giặc. Tôi muốn nhờ bác Cử đi liên kết với các nhóm nghĩa binh ở các nơi khác, để làm thanh viện cho nhau; nếu có thời cơ sẽ đồng loạt đánh địch ở khắp chốn, làm cho chúng đối phó với nơi này thì nơi khác sơ hở, đi đến chỗ lúng túng trở tay không kịp. Đó là kế nội công ngoại hợp, dương Đông kích Tây, khiến giặc ăn không ngon, ngủ không yên, lúc nào cũng nơm nớp đề phòng nghĩa quân đánh úp.


Cử Trị hào hứng:


- Được, tôi xin làm tròn phận sự ông Đốc binh giao cho. Tánh tôi hiếu động không thích ru rú một chỗ. Phải đi nhiều mới làm thơ được. Đi một ngày đàng làm một sàng thơ mà.


Hoàng Cao Hổ và Trần Điều từ ngoài bước vô. Trần Điều mặt lúc nào cũng đỏ nên người ta kêu là tên là Điều, người cao lớn nên còn có tên là ông Lơn Tưởng. Tay Trần Điều xách một con cần đước(1) vừa đi vừa nói oang oang.


- Bữa nay biết có ông Cử Trị tới nên tôi đi kiếm con cần đước về nhậu chơi, để nghe ông Cử đọc thơ cho vui.


Cử Trị thích thú:


- Cần đước à? Vậy thì còn gì bằng!


Trần Điều chặt đầu con cần đước, hứng lấy máu cho vào bình rượu. Xong, nướng lên bếp lửa cho chín, lột lấy thịt và ruột. Củ hành lột vỏ xắt mỏng, lấy một phần xào vàng với mỡ đẻ sẵn. Kiệu chua xắt lát, đậu phộng rang đâm giập, rau răm lặt rửa sạch xắt nhỏ, ớt bằm nhỏ ngâm với giấm làm gia vị.


Thịt cần đước nguội, Trần Điều xé ra từng miếng vừa ăn, bỏ vô chậu, để muối rang, nước mắm, tiêu, đường, củ hành, kiệu và giấm ớt trộn kỹ, thấm đều với thịt. Cuối cùng rắc đậu phộng và rau răm trộn lẫn. Rồi lấy ra đĩa bàn, tưới hành mỡ xào và rắc chút đậu phộng, rau răm lên trên.


Mâm nhậu được đặt lên ván, Mai Đăng Xuân, Lê Cẩn, Nguyễn Giao, Nhiêu Tâm, Hoàng Cao Hổ, Trần Điều và Cử Trị ngồi quây quần chung quanh. Mọi người vừa nâng ly thì Cử Trị cười nói:


- Bác Trần Điều biểu tôi đọc thơ nhưng tôi không có thơ mà chỉ có phú thôi. Tôi xin đọc bài phú “Ăn thịt cần đước” để các vị cùng nghe. Rồi ông ứng khẩu đọc:


Trám càn đức chi đầu,


Ẩm càn đức chi huyết,


Phanh càn đức chi thi,


Thực càn đức chi nhục.(2)


Cử Trị dứt lời, mọi người cười to uống cạn ly rượu. Mỗi người nhắm một miếng thịt cần đước. Thịt xé miếng dòn không nát vụn, dậy mùi rau răm, mọi người đều cảm thấy vị béo, đậm đà, vừa chua cay vừa ngọt dịu. Bỗng Nguyễn Giao nói:


- “Đước” là “đức” đọc trại ra, ông Cử dùng chữ “càn đức” lỡ ra người ta cho là ám chỉ vua Tự Đức thì sao?


Trần Điều đã ngà ngà say nên nói to:


- Thì Tự Đức cũng được chứ sao? Vua mà đầu hàng giặc thì cũng đáng đem ra xử tội!


Mai Đăng Xuân cười hỏi nhỏ Cử Trị:


- Nhà nho thâm lắm, ông Cử chơi xỏ vua Tự Đức thiệt không sợ mất đầu à?


Cử Trị cười:


- Tây tôi còn không sợ thì còn sợ gì cái người sợ Tây?


Nhiêu Tâm vỗ đùi khen:


- Lời bác quả là hào hùng, tôi xin thay mặt anh em kính mời bác một ly rượu!


*


Từ khi tên Thực được Tây cho làm chủ quận Vũng Liêm, hắn khét tiếng tàn ác, hàng ngày thường đưa lính về các làng lùng sục những người tình nghi là có gia nhập nghĩa quân. Vốn là thủ hạ của Đốc phủ sứ Trần Bá Lộc nên hắn học được cách tra tấn của quan thầy: nhà nào đàn ông đi vắng, hắn bắt người già trẻ nhỏ bỏ vô lòng cối giã gạo, giã cho đến xương tan thịt nát, bao giờ chịu khai thân nhân mình trốn ở đâu chỉ cho hắn bắt, lúc ấy hắn mới tha.


Nghĩa quân rất căm thù hành động của con chó săn cho giặc nhưng chưa biết làm cách nào chặn được hắn. Đốc binh Lê Cẩn cho họp các tướng lại bàn bạc. Mọi người nhình nhau chưa ai nẩy ra một ý kiến gì.


Bỗng Lan đứng lên nói:


- Tôi có một cách này. Quận lỵ sát bên cạnh nhà lồng chợ, hay là tôi mang một gánh bún đến bán cho bọn lính đóng trong quận. Giữa lúc chúng đang mải ăn uống, ta bất ngờ xông vào đánh úp quận, ắt là diệt được tên Thực và cả bọn chúng.


Mọi người đều tán đồng. Từ bữa sau trở đi, ngày ngày Lan gánh một gánh bún đến chợ bán, cố tình lân la trước cửa quận lỵ. Thấy cô nàng xinh xắn, khuôn mặt trái xoan đôi má lúm đồng tiền lại thêm nước da bánh mật với đôi mắt sắc như dao cạo và sống mũi dọc dừa càng làm tăng vẻ duyên dáng, một tên lính trong quận mon men ra ăn hàng. Món bún xáo vịt rất ngon khiến tên này hết sức khoái khẩu và khoe với các bạn. Một vài tên khác lại kéo ra chúng vừa ăn vừa nắm nỏm khen ngon. Hết tên này đến tên khác rủ nhau ra ăn nên chỉ trong một loáng cả gánh hàng hết sạch. Ăn xong chúng lại dặn:


- Mai cô lại gánh hàng tới đây nghen!


Có tên còn dặn với:


- Nhớ mang theo cả rượu đế nữa cô à!


Hôm sau Lan lại mang theo rượu đế và bộ lòng vịt, đầu cánh vịt cho chúng nhậu. Từ đó chúng quen lệ ngày nào cũng ra ăn hàng. Có tên nói:


- Bữa nay chưa lãnh lương, cô cho thiếu tiền, mai mốt tôi trả.


- Được, các thầy cứ để khi nào trả cũng được.


Có tên lỗ mãng chòng ghẹo:


- Cô em có chồng chưa?


Lan tủm tỉm:


- Chồng ấy à? Em còn kén…


- Kén người như thế nào nào? Hắn nắm lấy tay Lan, chỉ vô ngực mình. – Người như qua có được không cô em?


Lan vẻ e thẹn:


- Thầy buông tay em ra kẻo ở đâ nhĩ mục quan chiêm, thầy làm vậy lỡ các thầy khác trông thấy lại giận em thì khổ em lắm a thầy!


- Sợ cái gì? Thằng nào xía vô, đập cho nó bể sọ. Cô em phải biết rằng: Qua đi Lục tỉnh giáp vòng. Tới đây trời khiến đem lòng thương em, em cứ về với qua rồi muốn gì cũng có…


- Lương bổng thầy được bao nhiêu mà đòi lấy em về?


- Nhiều lắm, em ưng qua thì mặc tình ăn xài phủ phê, quần là áo lượt đàng hoàng. Qua sẽ sắm cho em chiếc cà rá hột xoàn hay bộ nhẫn vang quán khiểu “cửa khúc liên hườn” như các ỷ các ý ở chợ Vĩnh Long đó…


- Thầy lấy tiền đâu ra mà mua những thứ đó chớ?


- Qua chỉ cần bắt một thằng làm nghịch mang nộp quan chủ quận là có tiền thưởng liền. Thôi em về với qua đi. Trông thấy em chịu cực tối ngày gánh hàng đi bán qua rầu lắm. Em về với qua rồi qua cho tiền mở một tiệm tạp hóa ở cổng dinh quận để em làm bà chủ… - Vừa nói hắn vừa quàng tay lên vai Lan.


Một tên ghen tức nói với tên kia:


- Nè, cái thằng kia, mày làm cái trò gì vậy hả? Bộ mày muốn chiếm riêng cô đó một mình phải không? Mày không biết tao là ai à?


Tên kia sừng sộ đáp lại:


- Cổ ưng tao việc gì đến mày mà mày xía vô? Tao uýnh cho mày què giò để chừa cái thói giành mèo của người khác!


- A! Thằng này muốn làm tàng hả? Tao sẽ vặn họng mày cho mày hết nói sàm!


Nói rồi hắn xông tới thụi luôn một đấm vào mạn sườn tên kia, tên kia cũng đá luôn một phát làm hắn té nhào. Bạn của hắn sáp vô đánh tên kia tới đổ máu mắt máu mũi. Bọn lính trong đồn cũng chạy ra, bênh vực bạn của mình. Lợi dụng lúc bọn lính đang đánh lộn nhau, nghĩa quân từ chỗ mai phục xông ra, dùng gươm giáo đâm chém bọn lính, đứa thiệt mạng, đứa lạy van xin tha chết.


Tên Thực thấy động từ trong dinh quận chạy ra thì bị Nguyễn Giao đón đường xốc mũi giáo đâm thẳng vô bụng. Hắn gục xuống chết không kịp kêu một tiếng.


Lê Cẩn truyền nổi lửa đốt nhà lồng chợ. Ngọn lửa bùng lên rực rõ báo tin thắng trận cho cả vùng đều hay. Thấy Lan quang gánh chạy tới, anh nói vui:


- Gánh bún đi, gánh súng về, bữa nay em lời nhiều rồi đó nghe!


Lan nhoẻn cười, trong ánh lửa đôi má cô càng ửng hồng hơn bao giờ hết.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Thông Vọng Mai Đình. Rút từ Tuyển tập truyện Lịch sử của nhà văn Hoài Anh, Quyển XV. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








(1) Cần đước là con của cua đinh, một loài rùa.




(2) Chém đầu cần đước, uống máu cần đước, xẻ thây cần đước, ăn thịt cần đước. Trong Nam, chữ “đước” cũng đọc là “đức”.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 26.04.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 16.04.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 30.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
xem thêm »