tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20185486
Tiểu thuyết
16.03.2012
Hoài Anh
Nguyễn Thông Vọng Mai Đình

Trước khi ra đi, Nguyễn Thông đến thăm mộ người em là Nguyễn Hài. Hài tự Quý Hòa, năm Tân Dậu(2) ty địa về Vĩnh Long. Năm Ất Sửu(3) Hài bị bệnh mất, táng ở thôn Mỹ Thạnh Trung, xã Vĩnh Bình.


Đứng trước nấm mồ cỏ xanh phơ phất, Nguyễn Thông bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm cũ về đứa em ruột thịt. Nguyễn Thông sinh năm Đinh Hợi(1) ở thôn Bình Thanh tổng Thạnh Hội Hạ huyện Tân Thạnh phủ Tân An. Cha ông tên Nguyễn Hanh là một nhà nho nghèo, kết hôn với nhà họ Trịnh, nguyên quán ở Thừa Thiên, sinh được hai trai là Thông và Hài cùng mấy người con gái. Thi cử không đỗ đạt, cha ông bất đắc chí về dạy học, nên anh em ông cha dạy học ở nhà từ thuở bé. Mẹ ông rất quan tâm đến việc học hành của hai con, khi biết ông trốn học, đêm đêm thường hỏi bài vở, nếu thấy biếng nhác không thuộc bài bà thường trách phạt. Nhưng chẳng may mẹ ông mất sớm, không bao lâu cha cũng mất. Để gia đình sinh sống, Thông phải đi giúp việc cho một nhà bà con trong làng, vừa chăn trâu, vừa giúp việc vặt. Hài ở nhà chăm sóc bà nội và các em gái. Thông rất ân hận vì mình chưa thể gánh được việc nhà, đành để Hài và các em gái kêu rách, than đói. khi đó bà lão chủ nhà Thông ở, thấy Thông viết chữ tốt, bèn giúp đỡ cho ăn học. Vốn thông minh, trí nhớ bén. Thông học vượt cả bạn bè, được xóm làng khen ngợi và yêu mến. Năm mười tám tuổi, Thông được cho đi ra nhà họ ngoại ở Thừa Thiên để tiếp tục học tập. Hài đài phải bỏ học, theo nghề làm ruộng để nuôi bà nội và các em, cáng đáng mọi công việc nhà để anh yên lòng theo đuổi việc học. Năm hai mươi ba tuổi, Thông thi đỗ Cử nhân khoa thi Hương trường Gia Định. Khoa thi Hội, bài Chiếu, bài Biểu và bài Luận của ông ở kỳ đệ tam rất xuất sắc, song chẳng may quyển thi bị lấm mực, không hợp thức nên bị đánh hỏng. Vì nhà nghèo, muốn đỡ đàn gánh nặng cho em nên ông không chịu học tiếp để thi khoa sau mà ra nhận chức Huấn đạo huyện Phong Phú, tỉnh An Giang(2). Đến khi Thông được thăng hàm Hàn lâm viện tu soạn, sung vào làm việc ở Nội các, lương bổng khá hơn có thể đỡ đần chút ít cho gia đình, thì giặc Lang Sa lại đánh chiếm thành Gia Định. Giữa cơn biến cố, bao kẻ hèn nhát mang thân theo giặc, nhưng Hài vẫn giữ một lòng son sắt, vượt qua vòng khói lửa tên đạn, chở sách, dắt vợ con sang Vĩnh Long tìm anh. Không chịu sống trong vùng đất giặc. Anh em sum họp không được bao lâu thì Hài bị bệnh qua đời để lại cho Nguyễn Thông niềm tiếc thương vô hạn. Một người như Hài hy sinh mọi ước mơ của mình, đành lòng làm những việc tầm thường không tên tuổi như phụng dưỡng bà nội, săn sóc các em, trông nom từ đường, cho anh yên lòng lo sự nghiệp, đó chẳng phải đã lập được một chiến công thầm lặng hay sao. Thói thường, anh phải hy sinh cho em, cha Thông ngày xưa cũng đã từng săn sóc em trong khi đi học xa, ông nội Thông phải mang gạo đến cho các con ăn học. Đằng này, em lại hy sinh cho anh, đáng quý biết bao tấm lòng thuần phác và trung hậu đó.


Thắp xong tuần hương trên mộ em, Nguyễn Thông cầm ly rượu rưới lên mặt cỏ và đọc một bài thơ thay văn tế:


Nam sự kỷ thời định,


Lữ phần kim cánh vi.


Nhất bôi loại phương thảo,


Song lệ lạc tà huy.


Chư điệt bằng thùy thác,


Cô tung dữ chúng vi.


Mân giang đi trạo xứ,


Hàn Vũ dạ phi phị.(2)


Lúc này Nguyễn Thông càng nhớ da diết quê hương Tân An. Làng ông ở gần ngã tư Kỳ Son, ngã tư này là một ngả về Tân Trụ, một ngả về Bình Phước, một ngả về phủ lỵ Tân An, một ngả về Thanh Phú Long rồi xuôi về Chợ Gạo. Ngã tư Kỳ Son nằm bên bờ sông Vàm Cỏ Tây một khúc sông Bảo Định. Dọc bờ sông cảnh sắc rất đẹp, những hàng dừa xiêm ngả ngọn che mát rất đẹp, nhưng nhiều hơn cả là dừa nước, tua tủa chen nhau dày kín như một bức tường thành, che khuất cả tầm mắt. Dài theo rặng lá cơ man nào là cây cốc kèn, lùm bụi ô rô gia góc um tùm, quấn quít chằng chịt dưới chân những cây dừa nước xum suê, tàn cao bóng cả. Ngọn dừa gió đưa phe phẩy in bóng xuống mặt sông trong soi từng mảng mây trời. Vào tháng tám, dừa nước bắt đầu ra buồng nhưng trái không ăn được, người ta trồng nó chỉ cốt lấy lá lợp nhà. Cũng vì yêu quê hương Kỳ Son, Nguyễn Thông đã lấy hiệu là Kỳ Xuyên tên khúc sông ở chỗ bến đò Kỳ Son.


Ngã Tư Kỳ Son là đầu mối giao thông nên dân cư khá đông đúc. Những ngôi nhà mái ngói đỏ, cột đen làm gỗ sao, kề bên những ngôi nhà mái lợp lá dừa nước, vách đất. Nhà nào cũng có ao cá, vườn cây, trong vườn những gốc xoài chi chít, phía trên cành lá giao nhau che kín như một cái mái nhà. Ẩn trong cành lá không biết bao nhiêu chùm xoài chen nhau treo lủng lẳng. Quả non màu xanh nước biển, quả già da đậm vàng tươi, đó đây lác đác những quả chín cây phô màu hồng mơn mởn. Những cây vú sữa cành lá la đà, đủ loại vú sữa, trái trắng lớn cỡ chén ăn cơm, da màu xanh ngọc bích, càng già da càng ngả màu trắng nhạt, bóng mịn. Vú sữa tím nhỏ hơn, lúc chưa gì cũng màu xanh nhưng càng chín tới, phần nửa dưới càng ửng lên một màu tím sậm, pha hồng.


Hồi nhỏ, Nguyễn Thông đã nhiều lần cùng em qua bến đò Thanh Phú Long bên một gò đất cao mọc nhiều cây dừa, cây sao, rồi tới thăm ngôi đình Bình Phục Nhứt đồ sộ hay tới làng An Lộc Long xem những ruộng dưa xanh đen vân vàng lúc lỉu như đàn heo con. Tới chòi dưa, chỉ cần hỏi xin người chủ có thể cho đến bốn năm trái dưa ăn hay mang về tùy thích. Bổ ra ăn, qua làn vỏ mỏng, cùi dưa trắng tinh không dày như các loại dưa khác, những miếng dưa tròn đỏ tựa thoa son, thịt xốp, ăn tới đâu mắt ngọt tới đó… Vậy mà bây giờ đứa em ruột thịt đã nằm dưới lớp đất sâu. Còn bao giờ được ăn chung với nhau một miếng dưa quê nữa.


*


Khi rời Huế, vào Nam đánh giặc, Nguyễn Thông để bà vợ là Ngô Thị A Thúy ở lại kinh đô. Bà là con gái cảu cư sĩ Ngô Kính, người đồng quận và là chúa của Thượng thư bộ Công Ngô Nhân Tĩnh, hiệu Nhữ Sơn, một trong Gia Định tam gia(1), nên rất am hiểu văn chương, thường khuyến khích chồng làm thơ. Bà cũng muốn theo chồng vào Nam nhân tiện thăm lại quê hương Tân An nhưng vì bà mới sinh con nhỏ nên Nguyễn Thông khuyên bà ở lại Huế để nuôi con. Tám năm trời xa cách, Nguyễn Thông không khỏi buồn nhớ vợ con, nhưng nghĩ đến nhiệm vụ nên ông phải nén lòng. Lần này về Bình Thuận, ông có thể đón vợ con về sum họp để an ủi bà sau ao nhiêu ngày nhớ thương chờ đợi. Có đêm ông nằm mộng thấy bà, đôi mắt lệ đầm đìa, mái tóc xanh dài xổ tung vì biếng cài cành trâm gỗ mộc mạc trên đầu. Khi chia tay bà đã trao cho ông một kỷ vật, đó là một bức tranh cô gái đang bơi chèo. Trên đề bào thở của Lê Quang Định, bạn thân của Ngô Nhân Tĩnh. Bài thơ như sau:


Thiên nhiêu tú mị khả kham xan,


Dao lỗ giai nhân cách khả quan.


Dương liễu phong minh yêu đới trụy,


Phù dung sương đạm kiểm chi hàn.


Vi hàm xuân muôn kiều vô lực,


Bán lộ thu tình ảnh dục lan.


Khước hậu đan thanh thiên trước bút,


Bất tương hoàn bội hoa hồng nhan.(1)


Trao bức tranh, bà nói với ông:


- Đây là vật gia bảo của nội tổ em để lại, xin tặng cho chàng để lúc nào chàng cũng nhớ đến em…


Bức tranh ấy ông vẫn treo đầu giường, hàng ngày ngắm nghía cho khuây nỗi nhớ, nhất là khi nghĩ đến cảnh đơn độc của cả hai mẹ con. Có lẽ con ông lúc này đã lớn lắm rồi. Không biết nó có hay nhắc đến cha nó hay không? Thư bà cho hay nó đã đi học được hai năm nay rồi, cuối thư, bà còn bảo nó viết mấy dòng chữ hỏi thăm cha, để ông qua nét chữ mà biết được sức học của nó. Bức thư ấy ông cũng nâng niu như một kỷ vật quý báu chẳng khác gì bức tranh gia bảo kia. Ông cuốn cả tranh và thư cho vào rương, bên cạnh tập thơ ông làm trong tám năm qua.


Ngôi nhà ba căn hai chái, mái lợp ngói, cách ván, ở trong một khu vườn cây ăn trái, cau, dừa. Trước sân cỏ trồng hoa kiểng, và đặt một bàn “Thiên” để thờ vọng trời. Một giàn bầu che mát sân, góc sân để lu nước uống.


Khỏi vười mới tới ruộng. Vì có nước lớn, nước ròng nên dưới bến có cầu thang lên xuống cho người đi thuyền.


Trong nhà bày bàn thờ, chừng bộ ngũ sự: lư, chân đèn, lư cắm nhang, chén cúng nước, tô đựng nước, chén bịt bạc cúng rượu và lục bình bằng sứ. Tường thờ thấp hơn, nối liền từ bàn thờ đến sát vách buồng, trên giường đặt vài món kỷ niệm của người đã quá cố như quạt, gối,… lúc này bày hoa quả, trà rượu, cỗ bàn. Gian bên bày bộ ván gỗ dày, “lên nước” để tiếp khách.


Sáng sớm, Nguyễn Thông sửa sang đai mũ lạy biệt bàn thờ tổ tiên rồi bảo trẻ soạn hành trang. Ông lại nhờ họ hàng giúp ông săn sóc người em dâu đã góa bụa và hai cháu nhỏ mồ côi.


Bà con thân thích, đều đến tặng quà, thương khóc tiễn chân ông ra đến bờ sông. Người thời khuyên gắng ăn uống để lấy sức khoẻ, người thời tỏ lòng mong nhớ khi xa cách.


Nguyễn Thông ráng uống chén rượu hoan tống, nhưng nước mắt cứ nhỏ xuống đầm đìa hai má. Đáp lại những lời chúc lên đường may mắn, ông cảm khái nói với mọi người đưa tiễn:


- Người ta sinh ở đời trọng nghĩa lớn, chẳng thể vì tình làng xóm mà bỏ nghĩa được. Riêng cảm vì tình thân cốt nhục mà nửa đường đành phải lìa nhau. Bọn trẻ thì còn có cơ hội gặp lại nhưng người già thì e rằng phen này vĩnh biệt mà thôi. Bà con đã bỏ quê hương Tân An bị giặc chiếm, theo Tông tỵ nạn sang đây, tôi vô cùng cảm kíc. Thông này xin chúc bà con ở lại mạnh khỏe, bao giờ đuổi sạch lũ giặc ra khỏi sáu tỉnh Nam kỳ, lúc đó ta sẽ được cùng nhau nâng chén mừng tái ngộ tại cố hương Tân An yêu dấu…


Rồi ông quay lại nói với Nguyễn Giao:


- An có lòng tiễn thầy lên đường, thầy rất cảm động. Nhờ anh nói giùm với các bạn đồng môn: các anh hãy nhớ lời thầy khuyên dặn trong buổi dời mộ Võ phu tử, gắng làm người có ích cho dân cho nước, đó là các anh đã đền ơn thầy rồi vậy.


Nói xong Nguyễn Thông khảng khái bước xuống chiếc thuyền con dâu ở bờ sông. Thuyền rời bến. Gió lạnh nổi lên, cuốn lá rụng tách rời khỏi cành. Nguyễn Thông thầm nghĩ, mình cũng chẳng khác gì chiếc lá tách lìa cành cũ, người sinh không có gốc rễ, có đâu quây quần với nhau lâu dài mãi được. Chim bị nhốt ở lồng thì nhớ rừng sâu, cá được thả thì vẫn ở yên nơi cũ. Đến như giống vật mà còn có tình nhớ nơi nương tựa, huống hồ người lại không nhớ nhà, nhớ quê cũ khi phải xa lìa hay sao?


Nguyễn Thông nhìn về phía tỉnh thành Vĩnh Long, hình ảnh tòa Văn Xương Các uy ghiêm trang nhã hiện ra trước mắt ông. Nơi chứa đựng sách vở của người xưa, những áng văn bất hủ của ông cha: bài Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ văn, Bình Ngô đại cáo… nơi từng văng vẳng tiếng ngâm thơ của Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Đặng Dung… nơi chính ông đã từng ngồi đọc sách, làm văn và xướng họa với các bạn thơ.Văn Xương Các lúc này đã trở thãnh tương trưng cho hồn nước bốn ngàn năm văn hiến mà không một thế lực ngoại xâm nào có thể hủy diệt. Dầu giặc có thiêu hủy tan tành chăng nữa, Văn Xương Các mãi mãi đứng vững trong lòng người. Văn Xương Các với đường nét kiến trúc hài hòa, đậm đà màu sắc dân tộc, kết đọng lại cái tài khéo, cái tinh hoa của bao đời, lúc này đã trở thành chiến lũy ngăn chựn sự xâm nhập của những gì lai căng mất gốc, từ thứ tiếng Tây giả cầy, lối ăn mặc lố lăng dị hợm cho đến thứ văn chương xu nịnh bọn giặc cướp nước. Khi cho xây Văn Xương Các, lúc đầu ông chỉ nghĩ lấy đó làm nơi thờ xử sĩ Võ Trường Toản cốt để nêu cao bai học nghĩa khí của Võ xử sĩ cho người đời noi theo. Không ngờ đến nay, khi thành lũy của triều đình xây bằng vôi gạch, sắt thép tan tành trước súng đạn của giặc thì Văn Xương Các trở nên thành trì bất khả xâm phạm, bảo vệ những gì quý giá nhất trong hương hỏa của ông cha.


VII- Trong khi Bùi Hữu Nghĩa bị giam ơ nhà ngục Vĩnh Long thì Nguyễn Thông cũng bị giam ở nhà ngục Quảng Ngãi.


Nguyên sau khi đến Bình Thuận, Nguyễn Thông tiến hành điều tra cơ bản vùng cao nguyên La Ngư, Bà Dần phía nam tỉnh Bình Thuận. Tiếp đó Nguyễn Thông được bổ lãnh chức Án sát Khánh Hòa.


Năm Mậu Thìn(1), Nguyễn Thông được điều về Kinh giữ chức Biện lý bộ Hình. Nhân dịp này, ông điều trần bốn việc: chọn người tài bổ làm quan, tăng cường việc võ bị, bàn về thuế vô thô sản, chú trọng điều khoan hậu, ở cuối lại xin vua giảm việc tuần thú, bớt sự xây dựng. Sớ dâng lên, vua Tự Đức không bằng lòng, nhưng không kiếm được cớ gì bắt tội ông, liền cử ông làm chức Bố chánh tỉnh Quảng Ngãi, cốt tống ông đi xa cho khuất mắt.


Năm Kỷ Tỵ(2), dân Trung kỳ chết đói, nhà nước phải lo phát chẩn được một ít rồi, vua cho phép dân được đem tiền, đem lúa ra nạp quyên mà lấy bá hộ, bát phẩm, cửu phẩm. Nhưng mà dân đó quá, có lúa có tiền đâu mà quyên. Vua xuống dụ cho các quan cho dân quyên chịu đã, nghĩa là số quyên một lần 1000 quang tiền thì đóng trước đi 300 quan, rồi phát bằng cho đã, chừng nào đóng đủ số tiền đó thì sẽ phong sắc cho. Còn tiền đóng thì cứ để lại kho làng ấy. Chỉ dụ xuống rõ ràng như thế. Cách một năm thì thấy các dụ khác kê hết tiền chưa đóng và đã đóng rồi bắt phải đem hết ra tỉnh để cấp cho lính. Tỉnh sức xuống các phủ huyện, phủ huyện sức xuống các làng. Dân trả lời rằng vau cho phép quyên chịu, chớ không có bắt đóng ngay, năm này mất mùa, dân không có mà đóng. Quan tỉnh tâu bộ, bộ tâu vua, vua buộc phải làm tội hết những dân ấy. Nhưng mà trong luật của ta, những cái luật tiền bạc thuộc về dân qua lại với nhà nước thì ít thấy lắm, các quan không biết theo mặt luật gì mà án, phải tâu lên vua hỏi phải làm án gì, thì vua bắt làm theo luật “thượng thư bất dĩ thiệt”, nghĩa là chiếu theo cái luật của quan dâng thư cho vua nói về chính trịmà không thật. Quan bộ cứ đó mà làm tội, đến khi tư về các tỉnh, người thì 6 năm, người thì 8 năm, người thì 12 năm tù… Thế là cả nhà cả họ ai nấy cũng đều lấy làm đau lòng xót ruột.


Khi cái án đó đi đến Quảng Ngãi, gặp quan Bố chánh Nguyễn Thông, đã giỏi luật lệ mà lại có lòng thương dân lo việc nước. Ông cứ từng câu mà bẻ hết cả cái án, rồi ông gửi trả lại cho bộ, nói rằng: “cía vụ này là chỉ có vua với quan nói dối dân, chớ dân không nói dối ai chút nào cả; còn chiếu theo cái luật “thượng thư bất dĩ thiệt” thì không đúng vào đâu cả”. Vua biết mình lỗi, nhưng mà mắc cỡ, mật bảo quan bộ Hình và quan đầu tỉnh Quảng Ngãi kiếm cớ hại ông.


Ít lâu sau bộ Hình gửi công văn vào giao cho quan đầu tỉnh xét việc Nguyễn Thông kết án sai lầm. Quan đầu tỉnh nghe lời tên nha lại Lê Doãn vu cáo cho Nguyễn Thông bao che cho người nhà mà xử án thất xuất. Nguyễn Thông cứ thực nói rằng vụ án này vì cớ có con em trong nhà dính líu vào, từ chối không dự vào việc tra xét, việ kết án la do quan án sát chịu trách nhiệm. Quan đầu tỉnh cứ vịn vào lời Lê Doãn, cho đó là chứng cớ, tư lên bộ Hình xin bắt tội ông. Khi đó quan Thượng thư bộ Hình Lê Tuấn ra Bắc sung chức Khâm sia đại thần trong quân thứ Hoàng Tá Viêm, quan Tham tri bộ Hình chiều ý vua, kết án ông pahỉ tội trượng đồ(3)


Khi đó ở Quãng Ngãi có một số người vốn kính mến Nguyễn Thông như ống tú tài Trần Bá Tuấn, hiệu Bắc Nhai, ông Nguyễn Đăng Cẩn, hiệu Nguyên Điền, ông giàBình Trang, ba ông này chân không bước đến thị thành, khi Nguyễn Thông làm bố chánh thì có việc các ông mới đến công đường, việc xong thì về. Ngoài ra còn một người là ông Đông Tân, vốn ở trong đám nha lại, các bạn đồng sư đều coi thường mà chính Nguyễn Thông cũng rất ít để ý.


Hôm ấy nghe tin Nguyễn Thông bị bắt, ông Nguyên Điền đang cày ruộng tức khắc bỏ cày mà về, chạy tới tìm các bạn nhờ tìm cách giúp Nguyễn Thông thoát nạn. Lúc ấy, ông Bắc Nhai thì vợ ốm hơn một tháng không dậy được, cũng bỏ mặc ấy, cùng ông Nguyên Điền đi vận động sĩ phu và dân chúng đứng lên minh oan cho Nguyễn Thông. Ông Đông Tân thì cha già bảy mươi tuổi cũng nhờ cậy hàng xóm trông nom, cùng mang lương lặn lội với ông già Bình Trang đi gấp ra kinh bày tỏ việc của Nguyễn Thông cho các quan biết để tìm cách tâu vua xin giảm tội cho ông.


Ra đến Kinh người đầu tiên mà các ông Đông Tân và Bình Trang đến tìm gặp là quan Thượng thư bộ Hộ Phạm Phú Thứ.


Phạm Phú Thứ, hiệu Trúc Đường, biệt hiệu Giá Viên, Trúc Ấn, quê làng Đông Bàn, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Năm Nhâm Dần(1), ông thi Hương đậu Giải nguyên, năm quý Mão(2) thi Hội đậu Hội nguyên đệ tam giáp đồng Tiến sĩ năm mới 22 tuổi. Ông đã trải qua các chức vụ: Tri phủ Lạng Giang, Kinh diên Khởi cư chú, Viên ngoại lang bộ Lễ, Tả tham tri bộ Lại được sung vào cơ mật viện, Tham tri bộ Hình.


Năm Nhâm Tuất(3), ông được cử làm phó sứ trong phái bộ Phan Thanh Giản sang Pháp chuộc ba tỉnh miền Đông Nam kỳ. Trong khi ở Pháp, ông còn đi thăm các nước châu Âu như: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý, Anh… Qua quan sát và thẩm vấn ngót hai mươi cơ sở kỹ nghệ nhẹ, từ máy điện báo đến hệ thống công trình lọc nước biển lấy nước ngọt, hệ thống trữ và dẫn nước mưa của Anh, xưởng khí đốt, xưởng bện dây thừng tàu biển, xưởng thủy tinh, xưởng giấy hoa, nhà máy thuốc lá, nhà nuôi tằm, xưởng tạc tượng, hiệu chụp ảnh, khinh khí cầu… của Pháp; và hơn bảy cơ sở kỹ nghệ nặng, từ tàu thủy đến xe lửa, nhà máy luyện kim, xưởng cơ khí, xưởng đóng và sửa chữa tàu thủy, xưởng phân giới, xưởng làm đạn… của Pháp, Phạm Phú Thứ đã ghi lại những điều tai nghe mắt thấy với một tinh thầnh khoa học: miêu tả tỉ mỉ và số liệu chính xác. Trong suốt cả cuộc hành trình, ông đã tổng hợp những trí thức khoa học ấy trong tập Tây phù nhật ký, được dâng lên vua đúng hai ngày sau khi sứ bộ về đến Huế và đã được giữ kín ở viện Cơ mật, không công bố. Đến khi làm Tổng đốc Hải Yên, Phạm Phú Thứ đã dựng lại nhà xuất bản Hải Học Đường, cùng với các quan tỉnh có nhiệt tình như Nguyễn Tăng Doãn, Nguyễn Tiến Khang, Võ Khoa… in lại một số sách khoa học, kỹ thuật của phương Tây được các giáo sĩ phương Tây và Trung Quốc viết hoặc dịch ra chữ Hán như: Vạn quốc công pháp (cách thức giao thiệp quốc tế), Bác vật tân biên (sách nói về khoa học), Khai môi yếu pháp (phương pháp khai mỏ), Hàng hải kim châm (cách thức đi biển)…


Ngoài ra, ông còn dâng một số bản điều trần quan trọng kiến nghị triều đình thay đổi chính sách mới có thể tồn tại được, nhưng vua Tự Đức đã bác bỏ những đề nghị của Phạm Phú Thứ, cho là xa vời, phiền phức.


Nghe ông Đông Tân và ông Bình Trang kể về nỗi oan của Nguyễn Thông, Phạm Phú Thứ đã hiểu ngay: Nguyễn Thông bị nhà vua ghét vì đã nhiều lần dâng sớ can vua. Thì ngay chính ông đã chẳng bị vua ghét đến nỗi đã bị 3 lần giáng chức, phục chức, 18 lần thay đổi nhiệm sở và một lần làm lính trạm đi cắt cỏ ngựa đó sao? Ông nói với hai người cứ yên tâm, ông sẽ bàn bạc với các bạn đồng liêu tìm cách tâu vua xét lại cái án oan cho Nguyễn Thông, người mà ông vẫn kính trọng là cương trực, yêu nước.


Từ dinh thượng thư bộ Hộ ra, hai người lại đến bộ Lại gặp ông Thị lang Nguyễn Tư Giản, là người quen biết Nguyễn Thông khi ông còn ở Kinh.


Nguyễn Tư Giản, vốn tên là Văn Phú, tự Tuân Thúc, sau đổi là Tư Giản, hiệu Vân Lộc Thạch Nông. Người xã Du Lâm, huyện Đông Ngạn, tỉnh Bắc Ninh(1), đỗ cử nhân khoa Quí Mão(2) đõ nhị giáp tiến sĩ khoa Giáp Thìn(3) năm mới 22 tuổi.


Ban đầu làm Tu soạn hàn lâm viện, Tri phủ Ninh Thuận, rồi về Kinh giữ chức khởi cư trú ở lầu Kinh điên, tiếp đó làm Thi giảng học sĩ ở Viện Hàn lâm.


Năm Tự Đứ thứ mười(4) sau trên một chục năm xa quê, ông xin vua cho về Bắc thăm nhà. Tự Đức chuẩn y nhưng giao cho ông nhiệm vụ nghiên cứu tình hình sông ngòi đê điều ở ngoài Bắc. Nguyên là vào thời gian này ở Bắc kỳ hệ thống đê sông Hồng thường bị vỡ, gây tai họa vô cùng lớn đối với nhân đân. Vậy àm để khắc phục thiên tai này, trong Nội các có hai chủ trương trái ngược nhau: phải phá bờ đê và phải tiếp tục đắp thêm đê. Bàn luận đã nhiều nhưng chưa ngã ngũ. Cho nên Tự Đức muốn Tư Giản điều tra nghiên cứ tình hình tại chỗ. Biết rằng bản thân Tự Đức vốn không tán thành việc đắp đê trong cuộc vật lộn với thiên tai thì Tự Đức rất bi quan nên Tư Giản đã tiến hành công việc một cách thận trọng, nghiên cứu điều tra rất tỉ mỉ, cụ thể và khi hết hạn nghỉ ở Bắc, ông trở lại Huế với một bản điều trần soạn thảo công phu. Trước hết ông phân tích nhiều mặt để thấy rằng phá bỏ đê là điều rất nguy hiểm, sau đó ông kiến nghị mười điểm:


- Đắp đê ở bờ biển để ngăn nước mặn.


- Nạo vét cửa biển để khỏi ứ đọng sỏi cát.


- Xây các dập để ngừa lúc nước lên to bất thình lình.


- Đào các sông nhánh để giữ dòng chính.


- Khơi các dòng cũ để phân tán sức nươc lũ.


- Lấp các nguồn nước đục để đỡ đọng bùn cát.


- Dự trữ tiền gạo để có sẵn chi phí.


- Trả tiền công hậu cho những người làm đê.


- Mở rộng việc quyên tiền giúp cho công việc trị thủy.


- Đặt ngạch dân đinh chuyên trách coi sóc đê điều chống lụt.


 Tự Đức thấy bản điều trần có nhiều ý mới, bèn giao cho bộ Lại, Công, Hộ nghiên cứu và bàn bạc trực tiếp với tác giả về kế hoạch thực hiền. Năm Kỷ Mùi(1). Tư Giản được thăng làm Lại bộ Hữu thị lang sung Hiệp lý đê chính sự vụ ở Bắc kỳ. Trở về Bắc, ông bắt tay vào thực hiện ngay những dự định và làm được một số việc có ích như: nạo vét cửa sông Cái, khơi lại sông Cửu An ở Hưng Yên, nắn thẳng lại sông Thiên Đức (sông Đuống) để giải phóng lòng sông khiến nước lũ thoát nhanh hơn. Con sông đào xong, nước chảy không úng nữa, dân được nhờ, nhưng riêng ông chỉ phải đền mấy vạn quan vào kho, vì khi khởi công, vụng tính, ông đã trù một khoản tiền nhỏ hơn khoản tiền thực chi. Ông trù ít đi, cốt để nhà vua không ngại mà cho ông được thực hành sở kiến của ông, nhưng có điều là ông trù ít quá.


Trị thủy đâu phải là chuyện dễ dàng nên các năm sau vẫn có chỗ vỡ đê. Tự Đức không hài lòng cho giải tán Kha đê chính vào năm Khâm Tuất(2).


Cùng lúc ấy, ở Hải Dương có nạn thổ phỉ từ Tàu sang quấy nhiễu. Tự Giản được cử làm quan Tham biện quân vụ Hải – Yên (Hải Dương – Quảng Yên) để giúp việc tiễu phạt. Nhưng có một lần lũ giặc phá được thành huyên Cẩm Giàng và kéo tới bao veây thành tỉnh Hải Dương. Nguyễn Tư Giản bị đình thần hạch tội là bất lực và bị cách mọi chức tước. Ông về ngồi dạy học ở làng Đôn Thử (Thanh Oai, Hà Đông) trong khoảng một năm rồi chuyển ra Hà Nội dạy ở phố Hàng Bồ).


Sau ba năm nghỉ việc, tới năm Ất Sửu(3) Tư Giản lại được gọi vào Kinh cho phục chức, ban đầu lại làm Tu soạn ở Viện hàn lâm, rội lại Thi độc học sĩ ở lầu Kinh điên.


Khi Pháp đánh thành Gia Định, Nguyễn Tư Giản dâng sớ thiết tha xin triều đình không nên nghị hòa với Pháp.


Năm Mậu Thìn(4), Nguyễn Tư Giản được phong hàm Hồng lô Tự khanh và sung làm Giáp phó sứ trong phái bộ sang sứ nhà Thanh với mục đích nhờ nhà Thanh giúp quân chống Pháp. Năm ấy cũng là năm đầu Kinh Trị ở Nhật. Trong khi đi sứ, ông hiểu rõ tình thế trong ngoài, biết rõ cả việc duy tân ở nước Nhật, định bụn phen này về chỉ dâng sớ xin nhà vua biến pháp. Đi sứ về, ông được thăng Thị lang bộ lại kiêm Sung biện Nội các.


Ông đứng ra ủng hộ các ông Nguyễn Trường Tô, Bùi Viện, năm lần dâng sớ xin nhà vua cải cách việc chính trị, võ bị, mở mang công thương nghiệp, mở cửa biển thông thương với hết thảy các cường quốc châu Âu. Họ túm lại đông thì lườm nguýt lẫn nhau, mình không nguy ngay, có đủ thời cơ mà sửa sang mọi công việc. Mỗi năm cho một đoàn du học sinh chừng năm trăm người sang Âu Mỹ học đủ các môn kỷ xảo, học thuật mới. Mỗi năm một lớp đi học, trong mười năm thì có mười lớp, đến năm thứ mười một, lớp đầu thành tài đã về; mỗi lớp năm trăm, cho hư hỏng đi nữa, cũng được một trăm người thành tài; trong hai mươi năm, ta đủ nhân tài để dùng…


Sớ tâu lên, vua Tự Đức cho ông là vu khoát không nghe.


Bây giờ, nghe hai ông Đông Tân và Bình Trang kể về tình hình của Nguyễn Thông, Nguyễn Tư Giản nhớ lại khi mới gặp Nguyễn Thông ở Kinh, ông đã phải ngạc nhiên sao ở miền Nam lại có người văn chương giỏi đến nỗi chính ông cũng phải kính nể. Ông làm bài thơ tặng Nguyễn Thông như sau:


Ngã gia Nhị Hà bắc lưu xứ,


Quân gia Khung giang chi hạ du.


Nhị thủy phát nguyên Điền nam cảnh,


Tương cách nhất sơn đông tây lưu.


Khung giang nam nhập Ngưu giang thủy,


Hộ giao tỷ trạch dữ nhất kỷ.


Ức quân tâm khổ tặc trung lai,


Tam tỉnh kinh trần thảng thốt khí.


Thùy tri thập tải trùng tương kiến,


Tứ thành ai lệ hướng quân trụy.


Hà tiên tái kiến Ngưu giang thanh,


Nhị thủy diệc phú tấy binh hành?


Thiết thuyền trực chỉ Thiên hán hoành,


Thương minh vô ba khán nguyệt minh.


Tọa niệm giang hà phương nhật xu,


Ngô tào thử trách lương phi khinh.


Dữ quân tạc dạ khuynh phế phủ,


Đăng hoa bán lạc, mặc hoa vũ.


Lưu quân bất đắc ích trù trướng,


Nam vọng trùng quan trở yên vũ.


Thử biệt thượng tu các nỗ lực,


Bách xích lâu thượng quan hải vũ.


Mạc sử giang thần hướng nhân tiếu,


Giang sơn như thử đãn thanh khiếu!(1)


Nhận được bài thơ, vừa đọc qua,Nguyễn Thông đã phóng bút họa ngay rằng:


Ngã văn thiên tượng, Bạch ngọc kinh thắng ư chi thập châu.


Tử khoa hạc bối tiêu hao du.


Tam thanh phiếu diểu vân bất đoạn,


Trường hà nộ lãng hung hung hướng nhân lưu.


Tần niên thoái phi diê thiếp thủy,


Mao tồi vũ sát hạ Nam ký.


Vân ông lâm phong trung thương hoài,


Vị ngã cao ca trung dạ khỉ.


Ca thành phách tiên tự thú tả,


Kim bàn thác lạc giao châu trụy.


Giang sơn cảm phát tảo tứ thanh,


Trang tựu tử trục tặng ngã hành.


Trầm ngâm âu vĩnh Hà Hán hoành,


Khởi thị huỳnh huỳnh Nam dẩu minh.


Hiệp trung Long tuyền thổ hoa thực,


Nhãn để sinh sự phù vân khinh.


Bình sinh sự phù ân khinh.


Bình sinh vô xứ tả can phủ,


Kim tịch bất giác thần phi vũ.


Công kim hữu đạo tá minh chủ,


Vân lôi lạc bút sinh cao vũ.


Quan sơn phủ hải hà túc luận,


Yếu sử kinh hồng điện tư vũ.


Ngã cùng na ty lâm hác tiếu,


Sơn trung quy lại ngọa thính viên hạc khiếu.(1)


Đọc xong bài họa, trước tiên Nguyễn Tư Giản giật mình về tài năng văn chương của Nguyễn Thông. Mình đi sứ, phàm những nơi thắng cảnh bên Trung Hoa đều tìm đến du ngoạn, đề bài thơ nào là các văn nhân danh sĩ bên ấy đều tấm tắc khen ngợi, nhưng vẫn chưa làm được bài thơ có khí hùng hồn, chí cao rộng nhưn thế này. Thường thường làm thơ thù tạc người ta hay dùng chữ có sẵn cốt tâng bốc nhau, đằng này Nguyễn Thông vừa bộc lộ tâm sự của mình, không được vào Nam sát cánh đánh giặc cùng bạn bè, bà con “do dự trong đêm, sông Ngân kéo ngang trời đã lâu, trỗi dậy nhìn sao Bắc đẩu sáng lập lòe phía Nam, gươm Long tuyền trong bao đã mòn vì rỉ sét”, vừa bày tỏ ý kiến củ mình đối với triều đinh, đừng trông mong vào những nguồn lợi mà triều đình tưởng có thể thu được nhờ nghị hòa với Pháp “cái lợi của muối và sắt chưa đủ để bàn, điều quan trọng là làm cho nhân dân lại được yên ổn”. Lời văn chứng tỏ một học vấn sâu rộng: “quan sơn phủ hải” là lời của Quản Trọng với Tề Hoàn Công, ý nói phải thu được nguồn lợi về biển (cá, muối) và núi (mỏ sắt) thì mới có thể làm cho nước giàu quân mạnh. Còn “điện tư vũ” lấy từ câu “Duật lai tư vũ” trong thơ Miên, Đại nhã, Kinh Thu, nghĩa là đến đó khởi sự làm nhà, ý nói dân được an cư lạc nghiệp. nhưng cái quan trọng hơn là tâm hồn cao thượng không thiết gì danh lợi, chỉ một lòng yêunước thương dân “việc mưu sinh trong đáy mắt coi như mây nổi”. Nguyễn Tư Giản thừa biết Nguyễn Thông không màng vinh hoa phú quí, sở dĩ ra làm quan chỉ là để ó điều giúp dân một cách thiết thực, có hiệu quả mà thôi. Khi Nguyễn Thông ở Quãng Ngãi đi kinh lý thủy lợi, vận động nhân dân đào kênh đắp đập, khai hoang, trồng cây, như vậy cũng phù hợp với chủ trương trị thủy mà Nguyễn Tư Giản hằng đeo đuổi.


Mải nghĩ ngợi chợt ngoảnh lại thấy hai người dân chờ đợi đã lâu, Nguyễn Tư Giản nói:


- Các ông cứ về, để ta thu xếp việc này cho. Nếu được gặp ông Hy Phần(1), nhờ nói giùm, ta gửi lời kính thăm ông, chúc ông mạnh khoẻ bình an.


Về phần các ông Bắc Nhai, Nguyên Điền đi vận động sĩ phu và dân chúng đứng lên xin giảm tội cho Nguyễn Thông, được rất nhiều người hưởng ứng.


Xảy nghe tin Thương biện hải phòng tỉnh Bình Định là Trần Văn Điển hặc tội Tổng đốc Bình Phú là Thân Văn Nhiếp, bộ Hình xin cách chức Thân Văn Nhiếp, Tự Đức không đồng ý nên sai Thượng thư bộ Công là Nguyễn Bính vào Bình Định xét án. Khâm sai trên đường phải đi qua Quảng Ngãi. Mọi người rủ nhau đón đường ông ấy kêu ca.


Mấy ngày sau, từ sáng sớm mọi người đã tề tựu trên đường quan lộ. Hàng đầu là các sĩ phu, văn thân khăn áo chỉnh tề, hàng sau là dân chúng già trẻ trai gái, quần nâu áo vải, mọi người đều quỳ ngăn đường. Trên cùng là ông Bắc Nhai, áo mũ tú tài, đầu đội một tờ trạng khiếu oan.


Hồi lâu, nghe thấy tiếng trống khẩu tong tong và tiếng loa thét dẹp đường. Rồi một đạo quân đi tới, một tên lính cầm Mao tiết gồm có một cái cán bằng tre có chín đốt, đầu mút là một sợi dây dài có những chùm lông, tượng trưng cho uy quyền của vua, một tên lính cầm tấm biển sơn son thếp vàng “Phụng chỉ Khâm sai”, có lọng vàng che. Hai bên là hai tấm biển “Túc tĩnh” và “Hồi tỵ”(1). Rồi đến một viên chánh đội, sau lưng là một tên lính mang loa đồng hai bên là lính mang trống khẩu. Tiếp đó là một toán lính mang cờ ngũ hình. Cả đoàn đi oai nghiêm theo nhịp trống khẩu,


Quan Khân sai ngồi trên vành voi, có lọng che. Bốn người lính, một ngồi trên đầu voi tay cầm bút, nếu voi dở chứng thì vỗ vào đầu voi, một người đứng cạnh cái bành để hầu lọng, dưới đất hai người một đi trước như để dắt voi và một đi sau tay câm mác lào, thúc vào chân sau của voi, nếu voi không chịu đi. Các quan võ cưỡi ngựa xúm xít chung quanh, theo sau quân hầu nhộn nhịp.


Tên lính mang loa đã thét: “Dẹp đường cho cụ lớn trẩy”, nhưng đoàn người vẫn quỳ không nhúc nhích. Ông Bắc Nhai dâng tờ trạng trên đầu lên. Quan Khâm sai liền bảo một võ quan hầu cận đến lấy tờ trạng đưa ông xem. Liếc qua thấy nội dung tờ trạng là xin giảm tội cho Nguyễn Thông, quan Khâm sai truyền:


- Các ngươi cứ bình tâm lui về làm ăn, bản chức hứa sẽ làm đúng chức trách của mình ở đâu thì cũng có phép nước, các ngươi không lo.


Mọi người cùng cúi rạp xuống, đồng thanh:


- Mong cụ lớn Khâm sai đèn trời soi xét, giảm tội cho quan bố chúng con, chúng con đội ơn cụ lớn.


Quan Khâm sai gật đầu, phất tay ra hiệu. Mọi người lục tục tản ra hai bên đường nhường lối cho đội quan quân đi.


Nguyễn Bính biết Nguyễn Thông khi ở Kinh từng giữ chức biện lý bộ Hình, từng dâng sớ đề nghị sắc xuống cho các Nha xét kỹ luật lệ hiện hành ghi trong Hoàng Việt luật lệ, chỗ nào cần thì sửa đổi. Không những triều đình không nghe, mà còn bị các quan Bộ Hình thì ghét cho là bới móc việc của họ, nên họ lợi dụng dịp này để trả thù. Trong tờ sớ điều trần bốn việc về nội trị, còn có đoạn viết: “Chính lệnh càng nghiêm thì người phạm tỗi càng nhiều, hình phạt càng nhiều thì tệ hại càng thêm. Nhân đó, các quan coi việc hình chiếu luật khép tội, vạch lông tìm vết, moi gốc tìm mầm, một người dân mắc tội mà cả xóm bị tra hỏi, một kẻ lại phạm pháp mà cả nhà mắc vạ lây. Lời xét xử càng chặt chẽ thì số tù đinh càng đầy lao, tiếng sầu oán không thấu đến triều đường, song vang dậy khắp thông quê”. Lại có đoạn viết: “Lam quan không có đủ tư cách mà cho giữ chức điều khiển, không thật quả trong sạch mà cho giữ việc can răn, quen thói nể nang mà cho làm việc bổ bán quan chức. Như thế mà muốn quan lại xứng chức, nhân dân thỏa lòng và chính sự mở mang thì phỏng có được không?”. Như vậy thì Nguyễn Thông không chỉ “đắc tội” với các quan lớn trong triều mà còn bị bọn tham quan ô lại các địa phương thù ghét. Việc xét án Nguyễn Thông phải có sự đồng tình của bộ Hình và quan đầu tỉnh Quãng Ngãi mới có thể làm điên đảo trắng đen. “Chúng khẩu đồng từ, ông sư cũng chết”, huống hồ ở đây là “ba bộ đồng tình”.


Cái đó cũng chưa quan trọng bằng việc Nguyễn Thông khuyên vua giảm việc tuần thú, bớt sự xây dựng. Là Thượng thư bộ Công, ông không lạ gì tính Tự Đức thích xây dựng đền đài lăng tẩm. Mấy năm trước cũng vì chuyện bắt lao dịch khắc nghiệt để xây dựng Khiêm lăng mà dẫn đến cuộc nổi dậy chống lại triều đình mà phần lớn người tham gia là nhân công thuộc xưởng thợ Dương Xuân. Tự Đức sau phen chết hụt vì “Giặc Chày Vôi” vẫn chứng nào tật ấym thích động dụng việc thổ mộc, đốc thúc việc hoàn thành Khiêm lăng mà vua gọi là “Vạn niên cơ”(1). Đã thế mà sau khi xây xong, vua soạn bài ký Khiêm lăng, còn viết bài minh để tự răn mình: “Ở Dương Xuân là nhà của ta, núi thấp mà đất hẻo lánh cũng giống ý nhún nhường của ta để tự trách, ai cùng lòng với ta để vẹn chí ta, ôi tìm mà chưa được, chỉ có giời soi xét cho lòng ta có như bia đá này”.


Biết tính vua như thế, Nguyễn Bính tuy phải chiều ý vua nhưng trong thâm tâm vẫn cảm phục Nguyễn Thông là người thẳng thắn dám nói. Ông tuy không phải là cứng cỏi bạo dạn cho lắm, nhưng cũng là người đúng mực, làm việc cần mẫn. Ông biết rằng nếu quả thật là người vì tư tình mà làm trái pháp luật thì không làm gì có chuyện sĩ phu và dân chúng đón đường xin tha cho Nguyễn Thông. Dựa theo những điều đã tìm hiểu và điều tra được, ông làm sớ tâu vua, đại lược nói: “Khi thần đi qua Quãng Ngãi, dân trong hạt và biền binh đến trước thần kêu rằng: hạt ấy đất xấu dân nghèo, mà Nguyễn Thông đến trị nhậm, đào ngòi lạch, đắp bờ đê, cấm trấp tệ hại của nha lại, đè nén những kẻ cường hào, dân được tiện lời nhiều lắm, nhưng công việc cũng chưa làm xong, nay nghe tin phải mất chức, như mất người nhờ cậy. Xin cho viên ấy ở lại, may ra xong được công việc ấy. Thần xin đem việc ấy tâu lên, xin bệ hạ chuẩn y cho để xem thành hiệu sau này, khi đó sẽ định xử”.


Tự Đức xem sớ xong, nói rằng: “Vụ án này có quan hệ đến nhân mạng mà Nguyễn Thông thiếu sót trách nhiệm, nếu không trị tội nặng hỏi lấy gì làm gương để răn bảo trăm quan. Ý trẫm đã quyết rồi, khanh đừng nói thêm gì nữa. Vả chăng việc trẫm giao cho khanh là điều tra về vụ Thân Văn Nhiếp chứ không phải vụ này. Thân Văn Nhiếp là đại thần mới cần phải cân nhắc, còn các quan cấp dưới, cứ để cho bọ Hình xét xử tâu lên.


Phạm Phú Thứ và Nguyễn Tư Giản cũng hết sức tâu vau xin giảm tội cho Nguyễn Thông. Vua cho là kéo bè kéo cánh bênh che cho nhau, không chịu nghe.


Một bữa, Tự Đức vời Nguyễn Tư Giản vào hầu nghe bài thơ mới làm. Xư a nay vua chỉ trọng tài thơ của Nguyễn Tư Giản, vua từng nói với các quan, bảo văn của Ngụy Khắc Đản thì cứng rắn giống lối cổ, Phan Thanh Giản thì tao nhã giống như lối cổ, ngoài ra không gì khác nữa; văn của Phạm Thú Thứ chưa được tao nhã cứng rắn lắm, phải nên cố gắng cũng được như thế.


Tự Đức ngồi ở tiện điện, vời Nguyễn Tư Giản vào cho ngồi uống trà, rồi đem hai bài thơ vua làm, sai đọc lên. Nguyễn Tư Giản muốn nhân dịp này cứu Nguyễn Thông, bèn hết lời khen ngợi thơ vua hay. Tự Đức phổng mũi hỏi:


- Tài thơ của khanh thì ta đã biết rồi, nhưng trong triều hiện nay có ai sánh tài thơ sánh kịp khanh hay không?


Nguyễn Tư Giản lễ phép:


- Muôn tâu Ngài Ngự, mới đây thần được đọc thơ của viên bố chánh Quãng Ngãi Nguyễn Thông, thấy có nhiều câu tuyệt diệu…


Tự Đức ngạc nhiên:


- Nguyễn Thông? Người ở nam trung chỉ có thứ văn chương sông chằm lau lách, làm gì có thứ văn chương lăng miếu đài các mà khanh quá khen như vậy?


Nguyễn Tư Giản lấy từ trong tay áo ra bài thơ Nguyễn Thông họa bài thơ ủa mình, dâng lên rồi nói:


- Đây là một bài thơ của Nguyễn Thông, xin dâng lên ngự lãm.


Tự Đức đỡ lấy bài thơ đọc, ông vua mê thơ này càng đọc càng say sưa thích thú đến quên bẵng cả mình đang là chí tôn thiên tử. Ông gật gù đọc câu “Trầm ngâm lậu vĩnh Hà hán hoành, Khởi thị huỳnh huỳnh nam đẩu minh”, đến câu “Công kim hữu đạo tá minh chủ”, càng thêm đắc ý. Nhưng đến hai câu “Quan sơn phủ hải hà túc luận, Yếu sử kinh hồng điện tư vũ”, ông hơi cau mày, trán nhíu lại như cố nghĩ một điều gì… Bỗng ông sực tỉnh, hỏi Nguyễn Tư Giản:


- Có phải người làm bài thơ này là viên quan bị tội mà khanh xin cho hôm trước không?


- Muôn tâu Ngài Ngự, chính phải. Thần trộm nghĩ, Nguyễn Thông tuy có tội, nhưng viên ấy làm việc thủy lợi đắc lực, xin lượng thánh khoan cho viên ấy được lưu lại ở Quảng Ngãi trù liệu việc thủy lợi, để lấy công chuộc phần nào tội lỗi, rồi sẽ chung phẩm sau…


- Trẫm nghĩ thương tài văn chương của y mà khoan giảm cho y thôi. Tuy trong thơ của y có câu phảng phất cái ý dèm phê chính sự, nhưng xét câu “Quân kim hữu đạo tá minh chủ”, thì biết y tuy ngông cuồng nhưng vẫn chưa quên quân thần, trẫm cũng mở đường cho y hối cải tự tân, mà chuẩn y cho được lưu lại Quảng Ngãi lo xong việc thủy lợi.


Thế là một bài thơ đã cứu mạng cho Nguyễn Thông! Chuyện ấy chỉ có thể xảy ra trong cái triều đình “thiên tử thi phú, quần thần từ chương” này!


 


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Thông Vọng Mai Đình. Rút từ Tuyển tập truyện Lịch sử của nhà văn Hoài Anh, Quyển XV. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








(2) Năm 1865.




(3) Năm 1827.




(1) Năm 1827.




(2) Tc Cn Thơ, thi đó thuc tnh An Giang cũ.




(2) Việc ở cõi Nam bao giờ mới tính xong. Mộ chôn đất khách nay lại càng thêm hiu quạnh. Rưới một chén rượu vào đám cỏ thơm trên mộ. Hai hàng nước mắt rỏ đầm đìa đương lúc bón tà. Mấy cháu con em tôi biết ký thác cho ai. Mình lẻ loi ra đi, trái với mọi người. Ta nay ở sông Mân Thít đời thuyền ra đi. Giọt mưa lạnh ban đêm tầm tã.




(1) Ba nhà thơ lớn đất Gia Định: Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tĩnh.




(1) Dịch: Vẻ tốt đẹp thiên nhiên đã làm cho người ta thèm thuồng, có thể ăn được. Người đẹp bơi chèo lại càng thêm ưa mắt. Dải lưng thướt tha như làn gió nhẹ lướt cành dương liễu. Phấn mặt mát lạnh như màu sương nhạt điểm hoa phù dung. Nét xuân sắc hơi buồn, dáng rất ẻo lả. Làn thu ba nửa lộ, bóng như lờ mờ. Chỉ giận người thợ vẽ hạ bút còn thiên lệch. Không đem đồ trang sức bằng ngọc hoàn ngọc bội mà vẽ cho người hồng nhan.




(1) Năm 1868.




(2) Năm 1869.




(3) Phạt trượng và bắt đi đày.




(1) Năm 1842.




(2) Năm 1843.




(3) Năm 1863.




(1) Nay thuộc ngoại thành Hà Nội.




(2) Năm 1943.




(3) Năm 1844.




(4) Năm 1857.




(1) Năm 1859.




(2) Năm 1862.




(3) Năm 1865.




(4) Năm 1868.




(1)     Dịch nghĩa: Nhà tôi ở dòng sông Nhị Hà trôi ra hướng Bắc.


 Nhà bác ở hạ lưu sông Cửu Long.


Hai dòng nước đều bắt nguồn từ đất VânNam. Chỉ cách bởi một ngọn núi mà chia ra hai dòng đông tây.


Nước sông Cửu Long chảy vào Bến Nghé phía Nam,


Con giao long hung dữ đời tới đó đã trên một kỷ.


Nhớ bác từ trong cảnh giặc giã đắng cay tới đây,


Từ khi ba tỉnh khói bụi kinh hoàng đột ngột bốc lên,


Ai biết rằng mười năm nay lại gặp nhau,


Cả bốn thành đều rõ lệ vì bác,


Bao giờ lại được nhìn thấy dòng Bến Nghe trong lặng,


Sông Nhị cũng được ngâm bài ca rửa binh giáp.


Ruổi thuyền vút lên đến tận dòng Ngâ hán,


Tới chỗ mông mênh không có sóng để xem trăng sáng.


Ngồi nghĩ núi sông đương lúc bị suy sụp,


Trách nhiệm ấy với ta khong phải là nhẹ nhàng.


(xem tiếp trang kế)


Đêm qua cùng bách ngỏ hết nỗi lòng,


Ngọn đèn hoa đã sắp tàn mà dòng mực vẫn như hoa nhảy múa.


Giữ bác không được càng bùi ngùi.


Nhìn về phương nam bị khói mưa che mất ánh sáng.


Chuyến từ biệt này chúng ta còn phải gắng sức,


Để lên lầu cao trăm thước nhìn khắp bốn phương.


Đừng để cho thần sông cười cợt người,


Non sông như thế mà chỉ biết kêu hoài!




(1)     Dịch nghĩa bài thơ Nguyễn Thông:


Tôi nghe kinh Bạch Ngọc trên trời đẹp hơn cả trong mười châu


Nghĩ đến việc cưỡi hạc lên đó tiêu dao.


Nhưng ba tầng trời xanh mây giăng mịt mờ không dứt.


Sông dữ sông Trường Hà cuồn cuộn xô tới phía người.


Liền năm như diều bay lui rồi sa xuống nước,


Xạc xờ lông cánh sắp xuống phương Nam.


Ông Vân Lộc trước gió mấy lần cảm thương.


Vì tôi ca vang một bài lúc nửa đêm.


Ca xong ông rọc giấy chính tay chép lại,


Chữ viết trên giấy như lệ ngọc của giao nhân rơi lã chã xuống mâm vàng.


Cảm vì núi sông mà phát lộ văn chương trong sáng, làm thành bốn bức tiễn tôi lên đường.


(xem tiếp trang kế)


Do dự trong đêm, sông Ngân kéo ngang trời đã lâu,


Trỗi dậy nhìn sao Bắc đẩu sáng lập lòe phía Nam.


Gươm long tuyền trong bao đã mòn vì rĩ sét,


Việc mưu sinh trong đáy mắt coi như mây nổi.


Suốt đời không có chốn nào bộc lộ nỗi lòng,


Ông là bậc có đạo đời nay ra giúp vua hiền.


Hạ bút xuống như mây tụ sấm rền sinh ra mưa ngọt,


Cái lợi cảu muốn và sắt chưa đủ để bàn,


Điều quan trọng là làm cho nhân dân lại được yên ổn.


Tôi nay cùng đường làm sao tránh khỏi sự cười chê của núi khe,


Đành trở về trong núi nằm nghe vượn hót chim kêu.


 




(1) Tên hiệu của Nguyễn Thông.




(1) Túc tính: Yên lặng. Hồi tỵ: tránh ra.




(1) Cơ nghiệp vạn năm.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 11.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
xem thêm »