tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19306635
12.11.2008
Hà Văn Thùy
Hành trình tìm lại cội nguồn (4)

ĐỌC LẠI TRUYỆN HÙNG VƯƠNG
TRONG ÁNH SÁNG MỚI CỦA KHOA HỌC.


Truyện Hùng Vương là huyền thoại gốc nói về tổ tiên và việc dựng nước của người Việt. Do ý nghĩa đó mà nhiều thế hệ Việt gắng sức giải mã truyền thuyết này nhằm minh định nguồn gốc tổ tiên đất nước mình. Tuy nhiên cho đến nay chưa có phương án nào thực sự thuyết phục và vì vậy, cả tổ tiên lẫn đất nước Việt thời khởi nguyên vẫn mù mờ trong huyển thoại. Nay, dưới ánh sáng những phát kiến mới nhất của di truyền học, chúng tôi có điều kiện bàn lại chuyện này.


 Muốn giải mã truyền thuyết Hùng Vương trước hết phải giải quyết hai vấn đề then chốt: một là xác định nguồn gốc sinh học của Hùng Vương và hai, xác định thời điểm cùng cương vực câu chuyện diễn ra.


 Truyện kể rằng: “Cháu ba đời của Thần Nông Viêm Đế là Đế Minh sinh ra Đế Nghi. Sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên sinh ra vua (Kinh Dương Vương)… Đế Minh lập Đế Nghi là con trưởng nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ. Vua lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân.


 Lạc Long Quân tên húy là Sùng Lãm, con của Kinh Dương Vương, vua lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ, sinh trăm con trai (tục truyền trăm trứng) là tổ của Bách Việt. Một hôm vua bảo Âu Cơ rằng: “Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó.” Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền Nam (có bản chép là về Nam Hải), phong cho con trường là Hùng Vương, nối ngôi vua” “Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang (nước này đông giáp biển Nam hải, tây giáp Ba Thục, bắc đến Hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn tức nước Chiêm Thành.”(Đại Việt sử ký toàn thư)


 Theo đoạn trích trên thì: Lạc Long Quân là cháu trực hệ của Thần Nông. Người Việt cho rằng tổ tiên của mình là Thần Nông Viêm Đế. Nhưng nhiều tài liệu nói Trung Hoa cũng nhận Thần Nông là tổ của họ. Sự tranh chấp đã điễn ra hàng ngàn năm. Nay nhờ phát kiến mới về gene ta có thể phán quyết vụ án này.


 Ta biết rằng người hiện đại Homo sapiens xuất hiện tại Đông Phi khoảng 160.000 năm trước. Khoảng 70.000 năm trước, họ theo con đường Nam Á tới miền Trung và miền Bắc Việt Nam. Tại đây hai đại chủng Mongoloid và Australoid hoà huyết sinh ra các chủng Indonesien, Melanesien… tràn khắp lục địa Đông Nam Á, sau đó di cư sang châu Úc và các đảo ngoài khơi. Khoảng 40.000 năm trước, do băng hà tan, khí hậu ấm hơn, người từ Việt Nam đi lên khai thác miền đất ngày nay có tên là Trung Quốc. Cho đến 4.000 năm TCN, người Việt cổ mà sau này được gọi là Bách Việt sống tại duyên hải Đông Á có nhân số chiếm 54% dân số nhân loại. Do tộc Lạc Việt giữ vai trò lãnh đạo về xã hội và tiếng nói, người Bách Việt xây dựng nền văn minh nông nghiệp lúa nước phát triển nhất thế giới.


 Cũng thời gian này hay muộn hơn, một nhóm Mongoloid từ Đông Nam Á theo con đường Ba Thục lên định cư ở Tây Bắc Trung Quốc và nước Mông Cổ, tạo nên chủng Mongoloid phương bắc, tổ tiên của những bộ lạc du mục sau này. Điều kiện sống đã tạo nên họ là những bộ tộc thiện chiến.


 Khoảng 5.000 năm TCN, có sự tiếp xúc, hòa huyết giữa người Mông Cổ du mục và người Bách Việt nông nghiệp bên sông Hoàng Hà, sinh ra chủng người Việt mới Mongoloid phương Nam. Là con lai Việt, người Mongoloid phương Nam sống trong cộng đồng Việt, tiếp thu văn hóa Việt, trở thành chủ nhân của văn hóa Ngưỡng Thiều.


 Khoảng 2600 năm TCN, người Mông Cổ do Hiên Viên dẫn đầu, tràn qua Hoàng Hà chiếm đất của người Bách Việt. Người Mông Cổ hoà huyết với người bản địa tạo ra lớp con lai Mongoloid phương Nam mới, là dân cư Hoa Hạ. Hầu hết học giả trước đây lầm lẫn khi coi những người tràn qua Hoàng Hà chiếm đất của người Việt là Hán tộc. Thực ra đó là người Mông Cổ. Như vậy, về mặt di truyền, trong huyết thống người Hoa Hạ vừa có máu Mongoloid phương Bắc vừa có máu Bách Việt. Truyền thuyết Trung Hoa cho rằng họ là ‘Viêm Hoàng tử tôn.’ Tới đời nhà Hán, người Hoa Hạ được gọi là người Hán. Người Hán là hậu duệ của Thần Nông Viêm Đế và Hiên Viên Hoàng Đế, được sinh ra vào 2.600 năm TCN.


 Trước cuộc xâm lăng khốc liệt của người Mông Cổ, một bộ phận dân Bách Việt, trong đó có chủng Mongoloid phương Nam, di tản bằng thuyến khỏi lưu vực Hoàng Hà tới châu Mỹ, Đông Dương và các đảo ngoài khơi Đông Nam Á. Nguồn gene Mongoloid phương Nam trong dòng người di tản làm chuyển hóa di truyền của dân cư Đông Nam Á từ loại hình Australoid sang Mongoloid phương Nam.


 Có thể giả định câu chuyện sau: tham gia trận quyết chiến Trác Lộc trên sông Hoàng Hà, trong liên quân Việt do Đế Lai (bị gọi là Si Vưu) lãnh đạo, có cả Lạc Long Quân, con rể và cũng là em con chú của Đế Lai. Khi Đế Lai bị giết, Lạc Long Quân dẫn quân Việt cùng với gia đình lên thuyền (thời gian này, người Việt đi thuyền giỏi và làm chủ biển Đông) theo Hoàng Hà ra biển, xuôi xuống phía nam. Theo Ngọc phả Đền Hùng thì đoàn người của Lạc Long Quân đóng đô tại rào Rum, ngàn Hống (núi Hồng, sông Lam), sau đó di chuyển lên vùng Ao Việt (Việt Trì) lập nước Văn Lang.


 Trong dòng người trở về Việt Nam có chủng Mongoloid phương Nam. Những người này hòa huyết với người bản địa khiến cho vào khoảng 2000 năm TCN phần lớn dân cư Việt chuyển hóa thành Môngoloid phương Nam.


 Với phân tích trên, ta nhận thấy, từ Thần Nông cho đến Lạc Long Quân về sinh học là người Lạc Việt thuộc chủng Indonesien. Từ Hùng Vương, con cháu Cụ dần dần chuyển thành chủng Mongoloid phương Nam. Người Việt ta ngày nay là con cháu đích thực của Hùng Vương.


 Theo truyền thuyết, Hùng Vương dựng nước Văn Lang trên địa vực rộng lớn: từ bờ sông Dương Tử tới tận sát nước Chiêm Thành, nghĩa là phần lớn địa bàn sinh sống của người Bách Việt.


 Suy nghĩ thế nào về nước Văn Lang huyền thoại này? Đây chính là chỗ mà nhiều người hiểu khác nhau.


 Dựa trên thư tịch Trung Hoa nói rằng Sở Hùng Cừ làm vua nước Sở truyền nhiều đời nên một số tác giả suy luận: nước Văn Lang là nước Sở miền Kinh Việt.


 Giả thuyết này quá phụ thuộc vào sách Tàu và không phù hợp với văn bản câu chuyện vì đã đẩy kinh đô Văn Lang từ Bạch Hạc lên tận miền Kinh Sở. Không những thế, nó còn rút ngắn lịch sử Văn Lang xuống thời Chiến Quốc từ khoảng 2600 năm xuống 800 năm TCN.


 Chúng tôi đề nghị kịch bản sau:


 Trước hết nên hiểu khái niệm ‘nước’: ở thời đó nước là tập hợp nhiều bộ lạc cùng hay gần gũi về chủng tộc, ngôn ngữ, sống trong biên giới mở. Như vậy ‘nước’ Xích Quỷ là liên minh những bộ lạc Việt sống ở phía Nam sông Dương Tử do Lạc Long Quân làm thủ lĩnh. Để ghi nhớ vua cha là Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân đã lấy tên cha đặt cho đất Kinh và đất Dương. Khi bại trận Trác Lộc, Lạc Long Quân đưa bầy đoàn ra biển nhưng không hiểu vì nguyên nhân nào đó, (có thể là tiên cảm về một cuộc chiến khốc liệt và kéo dài nên cần một hậu cứ vững chắc. Cũng có thể vì lòng hướng vọng về cội nguồn quê cũ?) ông không trở lại Ngũ Lĩnh mà dông thuyền theo gió Bấc đổ bộ vào Nghệ An rồi lập nước Văn Lang. Phải chăng đây là việc thiên đô và đổi quốc hiệu: đô mới là Bạch Hạc, quốc hiệu Văn Lang thay cho Xích Quỷ? Tại vùng đô hội cũ thuộc Ngũ Lĩnh, những con cháu của Lạc Long Quân vẫn truyền đời làm chủ. Sau này, do tranh chấp nội bộ, nước Xích Quỷ phân ra thành những nước nhỏ như Ngô, Việt, Sở. Nước Sở mạnh lên, một dòng của Lạc Long Quân là họ Hùng lên ngôi, thôn tính Ngô, Việt?


 Đấy chỉ là giả thuyết nhưng có điều chắc chắn Bạch Hạc thực sự là trung tâm kinh tế văn hoá sớm và lớn của khu vực. Đồ đồng Phùng Nguyên xuất hiện từ trước nhưng tới thời kỳ này thì phát triển rực rỡ với nhiều trống đồng tinh xảo. Điều này chỉ có thể diễn ra ở địa bàn đông dân, có nền kinh tế mạnh và văn hóa cao, cũng có nghĩa là nhà nước, dù trong hình thức sơ giản cũng đã có mặt và thể hiện được hiệu lực điều hành xã hội của mình. Chính sự kiện này minh chứng cho nhà nước Văn Lang.


 Như vậy, có thể giải mã truyền thuyết Hùng Vương như sau:


- Lạc Long Quân là con cháu trực hệ của Thần Nông Viêm Đế, là hậu duệ của người Lạc Việt chủng Indonesien đi lên khai phá Trung Hoa từ 40.000 năm trước.


- Lạc Long Quân là một thủ lĩnh của liên bộ lạc Bách Việt tập hợp trong quốc gia từ phía nam Trường Giang đến tận miền Trung Việt Nam.


- Lạc Long Quân dời đô về Bạch Hạc và đổi quốc hiệu thành Văn Lang. Trong khi đó con cháu ông vẫn thống lĩnh những bộ tộc Việt miền Kinh, Dương.


- Sau đời nhà Chu, nước Xích Quỷ cũ bị xé ra thành những nước như Ngô, Việt, Sở… Một dòng của Lạc Long Quân họ Hùng nắm quyền ở nước Sở.


- Vùng kinh đô nước Văn Lang là trung tâm kinh tế, văn hoá và quyền lực trong khu vực.


Sài Gòn tháng 8 năm 2006


 


XÁC LẬP CƠ SỞ KHOA HỌC
CHO HỌC THUYẾT KIM ĐỊNH


I. Thử đánh giá sự nghiệp Kim Định.


Đến nay, Kim Định cùng học trò của ông đã cho xuất bản 42 tác phẩm do ông viết, ước chừng ngót 8000 trang in. Đấy quả là cả một rừng chữ. Không viết theo lối hàn lâm, Kim Định có cách viết riêng của mình. Ông viết trên những mảnh giấy ¼ khổ A4, dùng làm bài giảng cho sinh viên, sau đó cho in thành sách. Do cách viết như vậy mà những ý tưởng của ông thường không giải quyết dứt điểm ở từng tác phẩm mà như dòng chảy, chúng xuất hiện hết cuốn này sang cuốn khác với độ đậm nhạt khác nhau, ngày càng sáng rõ hơn. Cách viết này lại được thể hiện bằng văn phong ông già kể chuyện xưa khi uyên bác, lúc bình dân điểm xuyết bằng những dòng trửng giỡn giầu chất uy-mua. Vì vậy đọc sách của ông, người đọc không cảm thấy cái nặng nề thường có ở sách khảo cứu mà bị cuốn theo cách kể chuyện rất có duyên của một bậc thầy. Nhưng cũng do cách viết này, người đọc không dễ gì lĩnh hội ngay một lúc ý tưởng của ông. Có lẽ ông cũng muốn vậy, muốn sách của mình không phải một thức ăn nhanh mà chỉ có thể tiêu hóa từ từ, như mưa dầm thấm lâu, qua từng trang sách, qua từng ngày tháng, qua sự trải nghiệm cuộc đời.


Tôi biết đến Kim Định khá muộn. Nhưng Việt lý tố nguyên của ông đã gây ra nơi tôi cơn chấn động, một cú sốc trí tuệ chưa từng có. Đó là cú sốc hạnh phúc: dưới chân tôi bao tạp niệm sụp đổ, trên đó bay vút lên con chim Lạc kỳ vĩ dang rộng đôi cánh Việt Nho và An Vi.


Có lẽ phải đến một tuần lễ tôi ngất ngư trong trạng thái say sóng: bâng khuâng chia tay những tín điều xưa cũ từng là “của quý” trong mớ hành trang trí tuệ nghèo nàn của mình đồng thời chênh vênh tiếp nhận tri thức mới. Có quá nhiều điều tôi chưa hiểu và cũng không ít lý giải của ông chưa đủ thuyết phục… Nhưng tôi nhận ra ông là một thiên tài dũng cảm đơn thương độc mã xung trận đòi lại cho tộc Việt nền văn hóa vĩ đại bị chiếm đoạt. Giữa mê hồn trận những Khổng giáo, Nho giáo, Hán nho, Tống, Minh, Thanh nho… ông lọc ra Việt Nho cội nguồn nhân chi sơ của tộc Việt! Hai tiếng Việt Nho làm bừng tỉnh tâm trí tôi một sự giác ngộ: Từ xa xưa chúng ta có nền văn hóa Việt thuần khiết đầy trí tuệ và nhân bản…Tôi đã run rẩy sung sướng như kẻ lạc loài tìm lại được căn nhà xưa ấm êm, vững chãi của tiên tổ và hiểu rằng dân tộc ta không phải phường trôi sông lạc chợ mà có căn cơ, có một nền văn hóa đáng để học, đề thờ… Chính nhờ thấm đẫm văn hóa Việt với Nhân chủ, Thái hòa, Tâm linh mà giữa hai bờ cực đoan hữu vi và vô vi, ông tìm ra bản chất An Vi của Đạo Việt.


 Ngoài hai phát kiến lớn là Việt Nho và An Vi, Kim Định còn có công dạy cho chúng ta biết thực sự thế nào là triết học. Từ đó giúp chúng ta thoát khỏi ảnh hưởng giam hãm của thói sùng bái triết Tây vô hướng vô hồn. Ông giúp chúng ta nhìn về một Đạo trường chung cho Đông Nam Á, tìm lại cái nôi văn hóa tâm linh của dòng giống. Và hơn hết, ông giúp ta nhận lại cội nguồn để từ đó có niềm tự hào chính đáng về nguồn cội, để mà yêu nước mình, yêu dân tộc mình, để mà vững tin vươn lên trong những thời khắc nghiệt ngã của lịch sử…


Có thể nói, Kim Định đã dâng dân Việt một lâu đài văn hóa, triết học, tinh thần, tâm linh kỳ vĩ, hoành tráng và rực rỡ. Nhưng đáng tiếc, với nhiều người, quá nhiều nguời, đấy chỉ là ảo ảnh vì nó không được xây dựng trên cơ sở khoa học xác thực! Nói đúng hơn, bằng cứ khoa học của nó quá mong manh. Đó là một câu trong cuốn sử Trung Hoa: “Trước khi người Hán vượt Hoàng Hà vào Trung Nguyên thì dân Bách Việt đã tràn khắp 18 tỉnh của Trung Quốc” cùng mấy cái chõ tam biên và vài dụng cụ đồ đá phát hiện ở di chỉ Ngưỡng Thiều!


Nhiều người cho rằng Kim Định hoang tưởng, duy tâm. Trong cuốn Phê bình, phản phê bình in năm 1996, qua Trần Ngọc Thêm để phê phán Kim Định, Trần Mạnh Hảo viết: “Đó là phương pháp luận phi khoa học mà chúng tôi gọi là phương pháp truyền thuyết luận, thần thoại luận, ngữ nghĩa luận, linh cảm luận được góp chung trong cái rọ phiếm luận” (Trang 272). Chân tình hơn, thì trong diễn văn tưởng niệm Kim Định, giáo sư Trần Văn Đoàn của Đại học Đài Loan cũng nói: “Song chắc là cụ không vui vì bài "Việt Triết Khả Khử Khả Tùng?" (1993), trong đó tôi tuy khẳng định triết học của cụ, song cũng phê bình tính chất thiếu nghiêm túc và quá lãng mạn trong nền triết học An Vi của cụ.”


Cho đến nay, gần 40 năm sau Việt lý tố nguyên ra đời và 10 năm sau khi Kim Định mất, học thuyết của ông vẫn chưa có được căn bản cơ sở khoa học vững chắc. Điều này khiến cho những tư tưởng lớn của Kim Định chưa được giới khoa học trong nước và quốc tế công nhận. Do đó, học thuyết vô cùng nhân bản nhằm an dân, hưng quốc của ông chưa thực sự đi vào cuộc sống. Vì vậy, việc xác lập cơ sở khoa học cho học thuyết của Kim Định là nhu cầu bức xúc hiện nay.


II. Xác lập cơ sở khoa học cho học thuyết Kim Định.


Không biết có phải do nhân duyên nào đó không mà ngay sau khi đọc Việt lý tố nguyên, tôi hoàn toàn tin vào Việt nho và An vi của Kim Định. Tôi biết mình không phải kẻ dễ tin, càng không phải kẻ mê tín mù quáng. Có lẽ cái cơ sở khoa học thuyết phục tôi nhất lúc đó là những dòng ông trích từ sử Trung Hoa: “Trước khi người Hán vào Trung Nguyên thì người Bách Việt đã tràn khắp 18 tỉnh của Trung Hoa.” Một tư duy logic đơn giản: đã là đất của người Việt thì nền văn hóa nhân chi sơ sinh ra trên mảnh đất đó phải là của người Việt. Đó chính là Việt nho. Còn An vi ư? Chả bàng bạc chứa chan khắp cuộc đời bên ta sao? Trong lối sống, đạo sống thuần lương của người dân quê Việt ở chỗ nào chẳng có An vi?


Tuy nghĩ như vậy, nhưng tôi vẫn cho rằng, để thuyết phục nhiều người hơn, nhất là giới trẻ có học và ngày càng duy lý, cần phải xác lập cơ sở khoa học vững chãi cho học thuyết lớn nhất của dòng giống Việt mà Kim Định có công khai quật.


 Một cơ sở khoa học như vậy ít nhất phải giải quyết được hai vấn đề:


 1. Về nhân chủng học, xác định rõ: người Bách Việt là ai? Người Việt Nam là ai? Người Hán là ai? Quan hệ giữa họ thế nào?


 2. Những chủng người trên có vai trò lịch sử, văn hóa thế nào ở khu vực?


 Trả lời được những câu hỏi trên không dễ dàng gì!


Nhưng may mắn đã tới.


 Giữa năm 2004, khi tôi lên mạng tìm tư liệu cho tiểu thuyết về Triệu Võ đế thì phát hiện ra công trình của Y. Chu, Jin Li, những nhà khoa học người Mỹ gốc Hoa nghiên cứu trong Dự án Đa dạng di truyền người Hán (Chinese Human Genome Diversity Project) công bố ngày 29 tháng 9 năm 1998 mà những dòng chữ quý giá sau đã gây chấn động giới khoa học tại Mỹ: "Công trình của chúng tôi cho thấy con người hiện đại trước hết đã đến Ðông Nam Á sau đó đi lên Bắc Trung Hoa." "Từ Trung Ðông men theo bờ Ấn Ðộ Dương, ngang qua Ấn Ðộ đến Ðông Nam Á. Sau đó họ đi lên Bắc Trung Hoa, Siberia và cuối cùng là châu Mỹ." Những dòng chữ ngắn ngủi trên do nhà báo Hoài Thanh của báo Đại Chúng bên Mỹ gửi cho khiến tôi vui đến nghẹt thở vì hiểu rằng đó là chìa khóa mở ra tất cả! Từ dấu vết ban đầu này, tôi tìm tiếp và may mắn đọc được nhiều bài viết của Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Đức Hiệp, Cung Đình Thanh...


Từ nhiều nguồn tư liệu thu thập được, có thể khẳng định:


 a. Về nhân chủng


 Người Bách Việt:


- Khoảng 70.000 năm trước, hai đại chủng Mongoloid và Australoid từ Trung Đông theo con đường Nam Á tới Việt Nam. Tại đây họ hòa thuyết sinh ra những chủng người Việt cổ. Khoảng 40.000 năm trước, người từ Việt Nam đi lên khai thác Trung Hoa.


Cho tới thiên niên kỷ 4 TCN, người Việt sống ở duyên hải Á Đông có nhân số chiếm 54% nhân loại và xây dựng nền văn minh lúa nước tiên tiến nhất thế giới. Sau này lịch sử gọi là người Bách Việt. Trong gia đình trăm tộc Việt, chủng Lạc Việt có số dân đông nhất, chiếm tới 15-20% và giữ vai trò lãnh đạo về xã hội và ngôn ngữ. Chủng Lạc Việt có quyền và có trách nhiệm đại diện cho Bách Việt về lịch sử và văn hóa.


Người Mông Cổ:


Trong cuộc di cư về phương Đông, có những nhóm Mongoloid riêng rẽ đi tới vùng tây bắc Đông Nam Á. Khi băng hà tan, cũng theo cách đó, họ lên tới vùng tây bắc Trung Quốc, định cư ở đây, chuyển dần từ săn bắt sang du mục. Họ là tổ tiên chủng Mongoloid phương Bắc sau này.


Người Hán


Khoảng 2.600 TCN, người Mongoloid phương Bắc tràn qua Hoàng Hà chiếm đất của người Việt. Do sống chung đụng nên có sự hòa huyết giữa người Mông Cổ và người Bách Việt bản địa, một chủng người mới là Mongoloid phương Nam được sinh ra. Đó là người Hoa Hạ, về sau được gọi là người Hán. Như vậy, người Hán được đời từ khoảng 2.600 năm TCN và là con lai giữa người Mông Cổ phương Bắc và người Bách Việt.


Người Việt hiện đại: Lịch sử hình thành của người Việt như sau:


Người hiện đại đặt chân tới Việt Nam 70.000 năm trước.


Khoảng 40.000 năm trước, người Việt mang theo chiếc “việt”, công cụ đá mới tiên tiến bậc nhất của nhân loại thời đó, lên khai thác đất nước Trung Hoa. Thời kỳ này chữ Việt trong danh xưng Việt tộc được viết với bộ Qua. Sau đó từ Trung Hoa, người Việt đi lên Siberia rồi vượt qua eo Bering sang chiếm lĩnh châu Mỹ.


 Khoảng 15.000 năm trước, nhờ sự tiến bộ của văn hóa Hòa Bình, người Việt đã mang theo giống lúa, giống gà, giống chó… lên tạo dựng nền văn minh nông nghiệp lúa nước trên đất Trung Hoa. Nhờ thành tựu xuất sắc này mà danh xưng của tộc Việt được viết với bộ Mễ.


Khoảng 5.000 năm TCN, bên Hoàng Hà có sự chung đụng, hòa huyết giữa người Mông Cổ và người Bách Việt sinh ra chủng Mongoloid phương Nam. Là con lai Việt, họ sống trong cộng đồng Việt, tiếp thu văn hóa Việt, trở thành chủ nhân của văn hóa Ngưỡng Thiều.


Năm 2.600 TCN, trận Trác Lộc nổ ra, Đế Lai tử trận, một bộ phận quân dân Lạc Việt theo Lạc Long Quân dong thuyền xuôi Hoàng Hà ra biển, xuống phía nam, trở lại quê gốc là vùng Nghệ Tĩnh lập nước Văn Lang. Trong đoàn thuyền nhân tị nạn có người Mongoloid phương Nam. Những người mang dòng máu Mongoloid này trở về Việt Nam làm thay đổi cơ cấu dân cư Việt Nam từ loại hình Australoid chuyển hóa thành Mongoloid phương Nam.


b. Về văn hóa:


Do sống và làm chủ đất Trung Hoa thời gian dài như vậy nên người Bách Việt đã để lại ở đây nhiều dấu vết huy hoàng


- 12000 năm trước, người Lạc Việt sáng tạo ra chữ viết mà bằng chứng là văn bản khắc trên bình cổ Bán Pha 2.


- 9000 năm trước, chữ Việt cổ được khắc trên vỏ rùa. Người Việt biết chế sáo bằng xương chim hạc, biết chế rượu bằng gạo, mật ong và táo gai.


 Ít nhất khoảng 2800 TCN, vào thời Phục Hy, khi người Hán chưa ra đời, người Việt đã sáng tạo ra Bát quái, trùng quái, Hà đồ, Lạc thư… những công cụ khám phá vũ trụ và bói toán.


 Từ bức tranh hình thành nhân chủng và văn hóa trên, ta thấy, cho đến năm 2600 TCN, lịch sử đất Trung Hoa là lịch sử của người Bách Việt. Lúc này người Hán chưa sinh còn người Mông Cổ sống với văn hóa du mục ở phía bắc.


Từ sau 2600 năm TCN, người Bách Việt bị mất đất, mất chủ quyền chính trị nhưng do số dân đông và văn hóa cao nên văn hóa Việt giữ vai trò chủ đạo trong văn hóa Trung Nguyên. Nhờ đấy tạo nên thời Hoàng kim trong lịch sử Trung Hoa. Ở thời đại này, tiếng Việt hòa nhập với tiếng nói của chủng Mông Cổ và trở thành chủ thể của ngôn ngữ Trung Hoa. Trí thức Việt-Mông kế thừa văn hóa của Bách Việt, sáng tạo ra nền văn hóa Trung Hoa rực rỡ. Trong vai trò lãnh đạo xã hội, người Hán khai thác và phát triển văn hóa của người Việt lên tầm cao mới nhưng cũng dần dần lái nó sang tinh thần du mục.


III. Kết luận


Hơn 30 năm qua cho tới nay, nhiều người cho rằng, cái yếu nhất của học thuyết Kim Định là thiếu cơ sở khoa học. Nhưng tôi trộm nghĩ, chính sự thiếu cơ sở khoa học này đã thể hiện dự cảm thiên tài của ông. Lẽ thường thì từ bột gột nên hồ nhưng có thể nói Kim Định đã từ nước lã mà gột nên hồ. Trong thời gian của ông, tri thức nhân loại về nguồn gốc văn hóa Á Đông còn rất thiếu thốn, cuốn sách quan trọng Eden in the East chưa ra đời, nguồn gốc và sự di cư của người hiện đại Homo sapiens chưa được xác định. Nhất là con đường Nam Á trong cuộc hành trình định mệnh về phương Đông chưa được phát hiện. Lịch sử Á Đông còn phủ trong vòng bao trùm của lý thuyết A. Aymonier cho rằng người Á Đông là từ phía Tây đi tới và chủ nghĩa Hoa tâm vẫn bao trùm trí tuệ nhân loại… Nhưng bằng dự cảm thiên tài của mình, ông đã phát hiện ra văn hóa Việt nho cội nguồn của người Việt và bằng con đường “phiêu lưu” giải mã những truyền thuyết, huyền sử, ông tìm ra cốt lõi An Vi của đạo Việt! Là người tiên phong trong học thuật và tư tưởng, ông đã vượt qua những trí tuệ sáng láng nhất của người Việt và nhân loại. Chính vì thế, ông trở thành người độc hành lạc lõng.


 Nhưng đến nay, với những phát kiến mới của công nghệ gene, trang sử chân chính của các quốc gia và các chủng tộc Á Đông được mở ra: người ta gặp trong đó những dự báo thiên tài Kim Đinh. Khoa học thực nghiệm chính xác của nhân loại chứng minh sự đúng đắn của ông.


Điều đáng mừng là sau khi Kim Định qua đời, các học trò của ông ráng sức xiển dương học thuyết của ông. Đây là việc không dễ dàng gì vì chỉ là công việc tự nguyện của từng cá nhân hay nhóm nhỏ lực bất tòng tâm. Việc càng khó hơn khi tư tưởng Kim Định bàng bạc trong cả một rừng chữ: ai có đủ tâm, trí, bản lĩnh để thâu tóm, san định Kim Định như Khổng Tử từng làm khi xưa với sách của thánh hiền? Dường như có một nguy cơ: đáng lẽ cần cô đặc Kim Định lại theo từng luận điểm và cung ứng cho chúng những chứng cứ khoa học xác thực thì một số vị tuy nhiệt tình không nhỏ nhưng lại đem pha loãng hay nhại lại một cách nhạt nhẽo Kim Đinh. Đó là cách làm nguy hiểm, dễ khiến bạn đọc trẻ là những người của thời duy lý có phản ứng ngán ngại rời xa Kim Định.


Trong tình hình hiện nay của đất nước cũng như thế giới, việc xiển dương học thuyết Việt Nho và An vi là điều cần làm tới mức bức thiết. Có nhiều cách làm, nhưng thiển nghĩ, cần phải có công trình nghiêm cẩn cô đọng học thuyết Kim Định trong 1- 2 cuốn sách, trong đó không chỉ nêu tư tưởng Kim Định mà cần đưa vào những dẫn chứng khoa học thích đáng – cái mà sinh thời triết gia chưa làm được. Tiếp đó dịch ra tiếng Anh để giới thiệu rộng rãi với thế giới. Sinh thời Kim Định đã nghĩ tới việc này, ông đã nhờ thân hữu lo cho ông. Nhưng chắc là công việc quá khó nên sở nguyện của ông chưa thực hiện được.


Nhưng đấy là việc không thể không làm.


 


TIẾNG VIỆT CHỦ THỂ TẠO NÊN NGÔN NGỮ HÁN


Suốt thế kỷ XX, do thiếu tư liệu và do bị chi phối bởi quan niệm Hoa tâm (lấy Trung Hoa làm trung tâm) nên giới học thuật cho rằng tổ tiên dân tộc Việt là nhóm người thiểu số từ cao nguyên Thiên Sơn theo sông Dương Tử xuống vùng Hoa Nam, sau bị người Hán săn đuổi đã tràn vào đất Việt, tiêu diệt người bản địa, lập nhà nuớc Văn Lang. Lịch sử dân tộc Việt là một cuộc Nam tiến. Do bị phương Bắc đô hộ suốt một thiên niên kỷ, người Việt chịu nhiều ảnh hưởng của Trung Hoa, cả về huyết thống cả về văn hoá. Giới ngôn ngữ học lịch sử do chịu ảnh hưởng của viện sĩ Maspero (1912) cho ngôn ngữ Thái giữ vai trò chủ đạo trong thời tiền sử Ðông Á nên khi làm những nghiên cứu so sánh ngôn ngữ học đã đem chữ Hán được điển chế hàng ngàn năm đối chiếu với chữ Việt Latinh hóa mới chừng hai trăm tuổi và thống kê được, trong tiếng Việt có đến 70% vay mượn từ tiếng Hán! Sở dĩ có sự lầm lẫn lớn này là do tiếng Việt không còn văn tự gốc, tức không còn chữ Hỏa tự hay chữ Khoa đẩu nên các nhà phục nguyên Hán ngữ chỉ theo những văn bản chữ Hán rồi mặc nhiên coi chữ của người Hán có trước, vì thế bất cứ tiếng Việt nào cùng có trong ngôn ngữ Hán đều bị coi là mượn từ tiếng Hán!


 Theo quan niệm trên, nhiều nhà ngữ học quốc tế cũng như Việt Nam (Ngô Tất Tố, Trần Trọng Kim…) cho rằng, tiếng Việt mượn đến 70% từ tiếng Hán.


 Những người không tán thành cùng lắm cũng chỉ có thể ấp úng nói rằng: tuy có mượn nhưng không mượn tới mức như vậy! Họ cố tìm những từ thuần Việt để minh chứng cho luận thuyết của mình. Qua nhiều cuộc tranh luận chứng tỏ đó là những cố gắng vô vọng. Những người ít vốn cổ văn thường bị đánh gục bởi những học giả chữ nghĩa cùng mình, viện dẫn hàng núi sách Tây Tầu. Và cho đến nay, con em chúng ta vẫn bị nhồi nhét giáo điều đó!


 Trong chuyên luận này chúng tôi muốn chứng minh sự thật ngược lại: tiếng Việt đã góp phần hùn lớn để tạo thành ngôn ngữ Trung Hoa.


I. Lật ngược lịch sử


Đã tới lúc chúng ta phải từ bỏ điều ngộ nhận để viết lại lịch sử của mình. Đây là công việc khó khăn mà chúng tôi mạo muội đề xuất trong tiểu luận Tìm lại cội nguồn tổ tiên, cội nguồn văn hoá và được bàn kỹ hơn trong công trình Tìm lại cội nguồn và văn hoá của người Việt.


 Trong bài viết này, do yêu cầu của đối tượng nghiên cứu, chúng tôi chỉ xin nêu mấy nét chung nhất.


 Lịch sử dân tộc Việt trải qua hai thời kỳ: thời kỳ Bắc tiến từ Việt Nam đi lên khai phá đất nước Trung Hoa và thời kỳ thứ hai hồi hương từ Trung Hoa trở lại Việt Nam.


 Đấy là tiến trình lịch sử, còn tiến trình sinh học diễn biến như sau:


 Người Bách Việt với các chủng Indonesien, Melanesien đi lên phía Bắc. Khi người thuộc chủng Mongoloid phương Bắc từ Tây Bắc tràn xuống, đã diễn ra cuộc hoà huyết với các chủng Bách Việt bản địa, tạo ra chủng mới là Mongoloid phương Nam. Sau khoảng 300 năm, phần lớn dân Bách Việt sống trên đất Trung Hoa tham gia vào cuộc hòa huyết này. Khi trở lại Việt Nam và Đông Nam Á, những người Bách Việt Mongoloid phương Nam mang theo nguồn gene mới, lai giống với người bản địa, khiến cho chủng Mongoloid phương Nam trở thành chủ thể trong cư dân Đông Nam Á.


 Không có tài liệu làm căn cứ nhưng chúng tôi đoán rằng, khi cuộc xâm lược xảy ra, chỉ một bộ phận dân cư Bách Việt chạy khỏi nơi sinh sống. Đó là những quý tộc, tướng lĩnh, quân nhân từng đứng lên sống mái với quân xâm lược nên không thể ở lại; là lớp trí thức không chịu sống dưới ách đô hộ của ngoại tộc… Số người này có lẽ chỉ xấp xỉ 30% nhân số. Đại bộ phận người Bách Việt không có khả năng rời bỏ ruộng đồng nhà cửa với bầu đoàn thê tử nên ở lại, chịu sống cùng quân xâm lăng.


 Tràn xuống phía nam Hoàng Hà, kẻ thắng trận là những bộ lạc thiểu số Mông Cổ với số dân ít, đời sống khó khăn, bắt gặp vùng đất mênh mông, kinh tế trù phú và số dân đông đúc nên không thể và không cần thực hiện chính sách diệt chủng hay nô lệ hoá kẻ thua trận. Người chủ mới đã thực thi chính sách chung sống khôn khéo: đảm bảo quyền lợi cao nhất cho mình đồng thời không bần cùng hóa kẻ bị trị tới mức phải nổi lên chống lại. Trên đại thể, người Mông Cổ bỏ phương thức du mục, chuyển sang làm quan cai trị, làm công nghiệp, thương nghiệp- những ngành nghề hợp với sở trường và sinh lãi cao. Họ để cho người Bách Việt làm nông nghiệp và đi lính(1). Chính vì vậy, cùng với người Mông Cổ, người Bách Việt được an cư lạc nghiệp đã đóng góp tích cực vào việc xây dựng xã hội mới cả về kinh tế lẫn văn hoá. Nhờ thế, chỉ trong vòng 300 năm, từ Hoàng Đế qua Đế Cốc, Đế Chí, sang Đế Nghiêu (2356 TCN) đã là thời Hoàng Kim của xã hội Trung Hoa cổ.


 Tới đây chúng tôi trình bày về sự đóng góp của người Bách Việt trong việc hình thành ngôn ngữ Trung Hoa.


 Quy luật phổ quát của nhân loại là những bộ lạc du mục thường mạnh về vũ trang nhưng văn hóa kém phát triển. Trong khi đó dân nông nghiệp có nền văn hóa cao nhưng lại kém trong chiến trận. Là tộc người giữ vị trí lãnh đạo cộng đồng Bách Việt nông nghiệp về xã hội và ngôn ngữ, người Lạc Việt có vốn ngôn ngữ phong phú vượt trội so với người thiểu số Mông Cổ2. Ngôn ngữ học thế giới cho thấy, vào khoảng thiên niên kỷ IV TCN, ngôn ngữ Môn-Khmer của người Lạc Việt (Indonesien) giữ vai trò lãnh đạo vùng Ðông Á cả về xã hội cả về ngôn ngữ. Trong khi đó, ngôn ngữ Hán Tạng (Sino-Tibétan) chỉ tồn tại trong những bộ lạc thiểu số sống ở vùng Thiểm Tây, Cam Túc. Sự vượt trội còn thể hiện ở chỗ số lượng từ vựng của người Lạc Việt nhiều, có khả năng biểu cảm cao đồng thời có nhiều từ thể hiện những khái niệm trừu tượng, đủ sức làm nên kinh Thi, kinh Dịch... 


 Khi sống trong cộng đồng cư dân mới, người gốc Bách Việt – mà kẻ xâm lăng gọi là lê dân, tức dân có nước da đen – vẫn dùng tiếng nói và cách nói của mình. Cùng với thời gian, họ học thêm những từ mới của người láng giềng Mông tộc. Cũng như vậy, người Mông bổ sung từ ngữ của lê dân vào tiếng nói của mình. Dần dần toàn bộ từ vựng trở thành của chung. Điều này cũng giống như ngôn ngữ Việt hiện đại: sau năm 1975 trong giao tiếp cũng như viết lách có việc dùng trộn trạo tiếng Bắc lẫn tiếng Nam.


Từ vựng hòa đồng khá dễ dàng nhưng người gốc Mông Cổ và gốc Việt vẫn giữ cách nói hay ngữ pháp riêng của mình. Ngữ pháp là yếu tố khá bền vững của ngôn ngữ và làm nên sự phân biệt giữa tộc người này với tộc người khác. Cách nói của người Mông có những nét khác biệt người Việt. Do sống dưới sự thống trị của người Mông nên người Việt phải tuân theo cách nói của kẻ cầm quyền. Quá trình này là lâu dài và được chi phối bởi quy luật: các vùng đất trong một quốc gia thường học theo cách nói của trung tâm, của kinh đô. Người Mông thống trị tập trung ở các đô thị, ra mệnh lệnh, giấy tờ theo cách nói cách viết của mình. Lê dân, dù ngày thường nói và viết theo thói quen của người Việt nhưng khi lên thủ đô, khi viết những văn bản hành chính buộc phải theo cách nói cách viết của chính quyền. Rồi trường học được mở, học trò phải nói và viết theo “chuẩn”. Cứ như vậy dần dần cách nói cách viết của người Mông trở thành thống lĩnh. Ban đầu tiếng nói được ký tự bằng chữ Khoa đẩu của người Việt. Khi chế ra chữ vuông, tất cả từ vựng chuyển sang viết bằng chữ vuông: tiếng Việt biến thành tiếng Hán cả về từ vựng cả về ngữ pháp. Trong thời gian chung sống như vậy, việc hòa huyết giữa người Mông và người Việt diễn ra, khai sinh chủng người mới là Mongoloid phương Nam. Chủng mới ngày càng đông đúc và trở nên thành phần đa số trong cộng đồng, sau này được gọi là người Hán.


 Ở trên là một phác họa lịch sử đồng thời là giả thuyết mang tính nguyên lý về quá trình hình thành của ngôn ngữ Trung Hoa hay quá trình hội nhập của tiếng Việt vào ngôn ngữ Hán. Nhưng dù sao đó cũng chỉ là suy đoán mang tính tư biện. Vấn đề là phải chứng minh bằng chứng cứ thuyết phục.


(còn tiếp)


Nguồn: Hành trình tìm lại cội nguồn. NXB Văn học, 2008.







(1) Kim Định. Việt lý tố nguyên. An Tiêm. Sài Gòn 1970




2 Joseph Needham & Edwin George Pulleyblank trong The Origins 1983 – Dẫn theo Cung Đình Thanh: Tiếng nói và chữ viết của người Việt cổ. Dactrung. Net.


 



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc người Việt - người Mường: Nước Xích Quỷ - Tạ Đức 21.05.2017
Nói có sách (1) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (6) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (5) - Vũ Bằng 18.05.2017
OIJ chấm dứt hoạt động, sự nghiệp OIJ trường tồn - Phan Quang 17.05.2017
Ký ức tháng Tư - Trần Đăng Khoa 02.05.2017
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
xem thêm »