tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21050550
14.03.2012
Vũ Bằng
Cười Đông cười Tây, cười kim cười cổ (6)

Phần thứ nhì. Những chuyện vui lạ chung quanh tiếng cười. Chung quanh tiếng cười, có nhiều chuyện lạ, đã nói về ý nghĩa và giá trị tiếng cười ta không thể không biết đôi ba chuyện lạ đó.


Một nước không hề biết tiếng cười là gì


Theo một tài liệu của Vân Hạc Lê Văn Hòe tìm thấy trong báo Tàu, trao cho Ngọc Thuận và tôi, hồi 1953, được Ngọc Thuận dịch lại thì năm 1954, một báo Tàu xuất bản tháng Giêng năm đó, có kể lại rằng ở Âu châu có một nước thành lập đã hàng ngàn năm rồi mà vẫn không biết tiếng cười là gì.


a. Vị trí. Nước không hề biết tiếng cười bao giờ là Á Đa Tư Sơn Thánh Địa ở trên một hòn đảo kề ngay kẽ ngõ nước Hy Lạp, trên biển Ái Cầm. Trên bản đồ chữ Nho, tên đất ấy là Á Đa Tư Sơn.


b. Diện tích. Diện tích nước không cười này rộng từ một đến bảy dặm và dài ba mươi dặm.


c. Dân cư, phong tục. Ngay từ đầu thế kỷ thứ mười (năm 900), dân cư Bái Sơn Đình bắt đầu di cư đến Á Đa Tư Sơn. Dân số ước chừng 6 ngàn người: đa số tóc dài, râu rậm. Toàn dân ít nói năng, nét mặt lúc nào cũng nghiêm nghị, khắc khổ, đăm chiêu. Ở trên thế giới đặc biệt tu hành ấy, người ta không hề nhìn thấy bóng những cái nhìn ngang liếc dọc, cũng không nghe thấy tiếng cười nói, bông đùa bao giờ cả. Toàn thể dân chúng đều mặc độc một lối áo, áo nhà chùa vừa dày vừa nặng, che kín cả người. Đi dạo khắp nước cũng tuyệt nhiên không thấy một ai để hở chân, khoe đùi, phanh bụng, lộ lưng bao giờ cả, chứ đừng nói đến cởi trần nữa. Vì thế quanh năm, ngày tháng họ không hề tắm rửa. Người nào nhỡ lơ đễnh phạm pháp thì sẽ bị phạt rất nặng.


Có một điều kỳ quặc nhất trần đời là trên đảo không có qua lấy một bóng người đàn bà, con gái đi lại trong buồng the hoặc thấp thoáng trước mành hay nhởn nhơ ở ngoài đường ngõ, dân cư toàn một giống đàn ông. Ngay đến loài vật nuôi trong nhà như trâu, bò, ngựa, dê, cừu, chó, mèo… cũng đều lúc nhúc rặt một phường đực rựa, không có qua lấy một con cái lọt vào trong cái xã hội kỳ quặc đó.


Còn một điều bí hiểm chưa ai khám phá ra được là người, vật toàn một giống đực cả thì họ làm thế nào mà tồn tại được cho đến ngày nay mà nước này đã trải qua một ngàn năm lịch sử rồi! Ngay đến loài người cũng phải tiêu diệt, chớ đừng nói đến giống vật nuôi ở trong nhà nữa!


d. Chính trị. Chính phủ nước không biết cười đó đã hơn một thế kỷ nay, vẫn theo một chế độ riêng mà cũng không hề xảy ra một cuộc cãi lộn vì bất đồng ý kiến, hoặc nội các từ chức hay đả đảo chính quyền hoặc âm mưu đảo chính nào cả.


Suốt từ ngày lập quốc đến nay nước ấy chưa từng biết nạn ngoại xâm là gì. Xét trong lịch sử nhân loại, nước ấy có cái diễm phúc là không hề bị cuộc chiến tranh nào lôi cuốn cả. Dân chẳng gây sự với ai mà cũng chẳng ai đến đấy mà kiếm chuyện rắc rối.


Chính phủ đặt riêng một ban cảnh sát đi tuần nơi biên giới, cấm ngặt không cho một người đàn bà, con gái, một giống cái như trâu, bò, chó, dê, ngựa, cừu, gà mái bén mảng tới gần.


e. Tôn giáo. Trong nước, có tất cả ba mươi ngôi chùa rất cổ, cổ tới 800 năm. Phần nhiều những chùa ấy cao ngất ngưởng tới 8 tầng rồi mà lại còn ở mãi chót vót trên đỉnh núi cao vòi vọi. Đặc biệt nhất, có một ngôi chùa đồ sộ hơn cả là có một bức tường bao vây chung quanh dài gấp đôi chiều rộng nhỏ nhất của đảo: Hai dặm.


Cũng có ngôi chùa có thầy tu ở đấy dốc lòng theo đạo. Lại cũng có ngôi chùa do một ủy ban đứng ra trông coi. Mỗi chùa cử ra một đại biểu. Hội nghị toàn quốc có ba mươi người. Những đại biểu ấy bầu lấy một vị chủ tịch cho đến hết đời người ấy mới phải bầu lại. Đương kim chủ tịch là một vị đại tăng tên là Tào La Minh, người cao lớn, vạm vỡ khỏe mạnh, trạc độ bốn mươi tuổi.


Trong chùa, chứa những thứ quý giá vô ngần. Ngoài ngọc ngà, châu báu ra, chùa tàng trữ những thứ giống như các bản thảo Thánh Kinh về ba thế kỷ: thứ tư, thứ năm và thứ sáu.


Con cầy chết vì xạ hương, một nước bị giày xéo dưới gót sắt của giặc cũng chỉ vì chứa đầy những sản vật quý giá.


Cách đây sáu thế kỷ, nước không biết cười ấy đã bị bọn giặc bể đổ bộ lên đảo định cướp các quý vật, nhưng toàn dân nức lòng đuổi đánh nên bọn cướp thua to đành phải nhảy xuống thuyền chạy trốn ra bể.


Nghe đâu hồi năm 1944, vì lòng tham, một bọn võ biền Đức biết tiếng cũng ăn mặc giả nhà chùa mon men lên đảo hòng giở thủ đoạn cướp bóc nhưng dân chúng lừa bắt gọn thon lỏn rồi đem giết sạch.


Chính nước Hy Lạp cũng đã nhiều phen cử phái đoàn điều tra đến đảo ấy dò dẫm. Tuy dân trên đảo tiếp đãi tử tế nhưng họ đã đề phòng rất chu đáo. Rốt cuộc đoàn thám hiểm ấy cũng chẳng làm nên được công trạng gì.


Khách du lịch muốn đặt chân lên đảo thì điều tối cần là không được đem một người đàn bà, con gái hay một con vật cái nào đi theo. Hành lý phải do ban tuần cảnh biên giới kiểm soát rất kỹ càng. Khi đã bước vào nước họ, phải triệt để tuân theo những huấn thị sau đây:


1- Không được ăn nói sàm sỡ, tục tĩu.


2- Không được kể chuyện trăng gió, đĩ bợm.


3- Không được để hở người, tắm rửa.


Ba điều ấy sẽ gây ảnh hưởng tai hại cho phong tục nước họ nếu du khách không tuân theo triệt để.


Từ thần cười đến cái máy cười


Hết thảy chúng ta đều đã biết phù thế là nơi khổ ải. Năm 1953, lúc sưu tập sách cười này, Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng có viết như sau trong tinh thần ấy:


Thoạt sinh ra thì đà khóc chóe,


Trần có vui sao chẳng cười khì!


(Nguyễn Công Trứ)


Nhưng người đời cười hay khóc là tùy hoàn cảnh tâm trạng, có khi cười ra khóc mà khóc lại hóa cười.


Cô dâu từ biệt cha mẹ ra xe hoa về nhà chồng, thút thít trong khăn tay, không riêng buồn, nhớ mà còn cảm động vui sướng vì mối duyên lành.


Chàng thí sinh xem bảng không tên, chỉ ngửa mặt cười khà, nào phải vui gì thế sự, nhưng để hả cơn hờn giận của kẻ có tài mà danh chưa đạt:


Khốc như thiếu nữ vu quy nhật,


Tiếu tự thư sinh lạc đệ thì.


Vân Hạc Lê Văn Hòe cũng viết cho chúng tôi:


“Không có nụ cười tô điểm, đời như vườn không hoa. Không có mãnh lực bao biếm của cái cười, con người sẽ bất cố liêm sỉ”.


Bởi thế nên người ta cố lo đè lên màu ảm đạm của cuộc đời khổ ải những màu rực rỡ hơn cho đời tươi thắm thêm lên. Và cũng vì thế người ta luôn luôn tìm kiếm những câu bông đùa, những chuyện khôi hài ý nhị để điểm xuyết cuộc đời cho thêm phần hứng thú, tiêu tan nhọc mệt:


Một hôm, vua Thuấn đến thăm vua Nghiêu.


Thấy vua Nghiêu có vẻ buồn, vua Thuấn hỏi:


- Này bác Nghiêu, sao hôm nay bác không vui?


- Bác Thuấn ạ, bác bảo tôi không buồn làm sao được. Lũ con tôi “bất hiếu” hết!


(Theo vua Nghiêu, bất hiếu là con không giống cha mẹ, hư hỏng).


Vua Thuấn cười rộ đáp:


- Thì lũ con tôi cũng chẳng bất hiếu hết cả lũ là gì đấy.


(Theo vua Thuấn thì bất hiếu đây lại có nghĩa là không cười).


Hai vua cả cười, quên hết mọi nỗi khổ tâm.


Nụ cười là một thứ gia vị quý giá vô ngần. Ta vẫn thường thấy ở trong phòng ăn, trên bàn đựng các thức tráng miệng của người Trung Hoa bày ngất ngưởng và ngạo nghễ một pho tượng “Thần Cười” (Tiếu Thân) tỏa ra khắp phòng những luồng ánh sáng tưng bừng, linh động. Thoạt mới bước chân vào phòng ăn, người ta đã có ấn tượng vui vẻ nên khi ăn nhìn thấy nụ cười tươi tắn mà ăn ngon miệng.


Bác sĩ Pôsê (Victor Pauchel) viết rằng:


“Trong bữa ăn nên giữ cho mặt vui vẻ. Ta nên tìm những chuyện hào hứng, hoạt động mà kể. Tranh luận là điều tối kỵ trong bữa ăn. Nét mặt tươi tỉnh, thái độ hòa nhã, cử chỉ thân mật là đơn thuốc đại bổ, là thứ khác vị hoàn toàn”.


Vua Lui thứ IX lại nói:


“Sau bữa ăn, phải bông đùa thật nhiều, vì có thế mới gây được lạc quan, rất cần cho sức khỏe”.


Lúc chán nản, buồn phiền nên thắp ngọn đèn xanh thì mọi vật trong phòng như đùa giỡn, nhảy nhót, đón chào ta. Theo bác sĩ Riclây (Ricley Spiler) thì ánh sáng màu xanh chữa khỏi bệnh buồn phiền.


Cách chữa bệnh giận dữ bằng tinh thần là bảo cho người nóng nảy biết rằng tức giận rất xấu và vô ích. Chẳng tin, họ tự soi vào gương xem mặt họ lúc ấy có đẹp không.


Trước hồi Đại chiến thứ hai, mốt mặc áo có in câu yêu đời nồng nàn rất được thịnh hành ở Âu Mỹ như những câu sau: “Hãy vui vẻ”, “Hãy yêu đời”, “Quảy gánh lo đi đổ xuống sông”.


Ông trưởng ban tuyên truyền của nước Anh là đại tá Luyda (Lugdah) phát minh ra một cái máy làm cho những người chán đời trở nên vui vẻ, tươi cười và yêu đời luôn luôn.


Mùa hè năm 1951, ông đem cái máy ấy triển lãm tại một khu nghỉ mát, trong một gian hàng bày các đồ mới sáng chế, ông ta đặt tên cho máy đó là “máy nâng cao tinh thần”.


Đó là một cái ghế rất đẹp đẽ, sang trọng.


Người ta đặt người chán đời ngồi lên trên ghế. Tức thì có một cái máy vô cùng huyền diệu, điều khiển một bàn tay xinh xắn, nõn nà, mềm mại đeo bít tất rồi vuốt ve, mơn trớn “bệnh nhân”. Đồng thời, một máy phóng thanh phát ra những lời nói dịu dàng, êm ái chẳng khác gì tiếng oanh thỏ thẻ như rót vào tai: “Mình hãy can đảm lên nào! Đời vui lắm! Đẹp lắm kia mà!”.


Viện Hàn lâm hoạt kê Pháp


Năm 1922, Viện Hàn lâm hoạt kê Pháp mất hai vị bất tử.


Thì giờ lặng lẽ trôi… Một năm qua mà Viện vẫn chưa tìm được người xứng đáng để trám vào hai lỗ hổng đó.


Gabrien (Gabriel de Lautrec) xưa nay vẫn nổi tiếng là trang bông đùa. Vả lại các vị bất tử cũng đã định cử ông thay thế một chân từ lâu rồi.


Ngày 31-5-1923, Đốcqua (Georges Docquois) đùa Gabrien:


- Anh không tài nào vào Viện Hàn lâm được đâu!


Gabrien thản nhiên đáp:


- Nếu chúng ta lập Viện Hàn lâm khác thì dẫu bỏ vào cối mà giã, tôi cũng không thể chệch ra ngoài được.


Tức thì Viện Hàn lâm hoạt kê Pháp (A.H.F) lấy ngày 31-5 làm ngày sinh nhật.


Cuối năm tính sổ tất niên, hỏi chỉ vẻn vẹn có hai chục ông Hàn. Hai năm sau (1925), số Hàn lâm tăng lên 25, sau lên đến 30 là tột bực, như ngày nay. Các ông Hàn cũ có đặc quyền chọn Hàn lâm mới nếu không may có ông Hàn nào bị trời bắt mất. Tuyệt nhiên không một ai được ai đứng cử vào Hàn lâm viện cả. Luật lệ của Viện vô cùng khắt khe. Nếu rủi cho một ông nào tỏ vẻ buồn rầu chán nản là bị khai trừ thẳng cánh, cấm ngặt không được giãi bày tâm sự một câu.


Các ông Hàn tuy không có quần áo riêng biệt, nhưng có cuộc hội họp hàng tháng trên bàn tiệc vui vẻ.


Đằng đẵng trong ba chục năm trời, Viện chỉ phát được năm giải thưởng hoạt kê.


Sau ba năm (1926), Misô (André Micho) trình lên Viện một sáng kiến: soạn cuốn tự điển hoạt kê (sau này báo Phong Hóa bắt chước làm theo).


Trong số các Hàn lâm, có Đốcqua (Georges Docquois) là người sốt sắng nhất muốn cho cuốn tự điển ấy ra đời, nhưng không may, ông mất sớm, nên mãi hai mươi năm sau (1946) cuốn ấy mới ra đời.


Thí dụ mấy chữ trong pho tự điển ấy:


Ái tình: Thiên đàng tạm thời của trái tim.


Bác sĩ: Người mà kẻ bệnh nuôi, nhưng ít khi giữ cho họ sống được.


Địa ngục: Nơi bịa đặt của Thiên đường.


Ích kỷ: Cái tội trong ba trăm sáu mươi lăm ngày.


Không khí: Vật không phải riêng ai, mà ai cũng có thể lấy được - chỉ trừ lúc nào ông buồn bực.


Người chửa: Người tương lai làm phổng lên hiện tại.


Rượu: Vật giết cái gì sống và giữ cái gì chết.


 


Bộ loại tiếng cười


Vân Hạc Lê Văn Hòe đã nói đúng: Vũ Quân, mặc dầu nhân lược khảo về tiếng cười, nhưng thật ra đã cứu xét tỉ mỉ kỹ càng và cái cười đã được cứu xét về đủ mọi khía cạnh. Có thể nói rằng chưa có nước nào phân ra bộ loại tiếng cười kỹ như Vũ Quân.


Cười có nhiều thứ lắm, nhưng theo hai câu thơ cổ:


Cười như chàng trẻ hỏng thi,


Khóc như thiếu nữ lúc đi lấy chồng.


(Khốc như thiếu nữ vu quy nhật,


Tiếu tự thư sinh lạc đệ thì).


Vương Thực Phủ, tác giả Tây Sương Ký viết:


Cười đây là nghĩa thế nào?


Bao nhiêu nước mắt nuốt vào tim gan.


Ta lại còn có câu tục ngữ:


Ăn thì ha hả, trả thì hi hỉ.


Do đấy, ta có thể tạm phân loại tiếng cười ra hai loại:















A- CƯỜI CHÂN THẬT


(phát ra trị thâm tâm)



1- Cười giòn giã


2- Cười thẳng thắn


3- Cười thấm thía


4- Cười đậm đà


5- Cười nôn ruột


6- Cười khanh khách


7- Cười hả hê


8- Cười rộ


9- Cười vang


10- Cười lăn lộn


11- Cười khằng khặc


12- Cười nức nở


13- Cười sặc sụa


14- Cười nụ



15- Cười chúm chím


16- Cười có duyên


17- Cười ngất


18- Cười nhã nhặn


19- Cười sằng sặc


20- Cười ha hả


21- Cười mụ dạy


22- Cười đằm thắm


23- Cười như nắc nẻ


24- Cười như pháo ran


25- Cười hở mười cái răng


26- Cười vỡ bụng (se flanquer une bosse de rire)



 















B- CƯỜI QUẮT QUÉO



1- Cười tít


2- Cười xẻn


3- Cười góp


4- Cười rè


5- Cười phá


6- Cười phà


7- Cười mỉm


8- Cười trừ


9- Cười khà


10- Cười gượng


11- Cười khẩy


12- Cười kháy


13- Cười nhạt


14- Cười cợt


15- Cười hợm hĩnh


16- Cười tức


17- Cười gằn


18- Cười ruồi


19- Cười xòa


20- Cười mũi


21- Cười tủm


22- Cười tình


23- Cười hi hi


24- Cười hi hỉ


25- Cười khì


26- Cười hềnh hệch


 



27- Cười ranh mãnh


28- Cười lả lớt


29- Cười tủm tỉm


30- Cười khúc khích


31- Cười toe toét


32- Cười rúc rích


33- Cười thầm, cười vụng


34- Cười nửa miệng


35- Cười vô duyên


36- Cười nhăn nhó


37- Cười hóm hỉnh


38- Cười ngạo nghễ


39- Cười khinh khỉnh


40- Cười chua chát


41- Cười Đổng Trác


42- Cười Tào Tháo


43- Cười nheo đuôi mắt


44- Cười nụ hoa đại


45- Cười trong râu


(rire dans sa barbe)


46- Cười nhếch mép


(rire au bout des lèvres)


47- Cười đầu răng


(rire au bout des dents)


48- Cười mắt (mục tiếu)


49- Cười chê (sỉ tiếu)


50- Cười nhí nhảnh



Nếu đẹp đã có tiếng đồn


Lọ là nhí nhảnh như trôn chích chòe.


Đó là bộ loại tiếng cười, nhưng tôi không hiểu tra cứu ở đâu mà có người lại viết như sau trong lược sử tiếng cười Á Đông:


Theo lẽ tạo hóa, tiếng cười cũng phải tùy thời mà tiến triển.


Dưới đời Tam Quốc, Trương Phi cười kha kha, Ngụy Diên cười khà khà.


Tiếng cười khì khì phát sinh vào lúc Sĩ Nhiếp sang cai trị nước ta. Đến nhà Tiền Lê, Lê Đại Hành cười hồ hồ. Cuối Lê sang đầu triều Nguyễn, khi nước ta mới tiếp xúc với Tây phương thì những tiếng cười rung rúc, cười ông ổng, cười vang… lần lượt chào đời. Kế đến phong trào lấy Tây, các me cho ra đời tiếng cười rúc rích. Có lẽ các “mẻng” bị cù nhiều quá chăng? Rồi tiếp luôn đến tiếng cười văng tê, cười bạt mạng.


Nhất là từ ngày Nguyễn Tường Tam khai sinh nhóm Tự lực Văn đoàn thì tiếng cười lại thay đổi muôn hình, bất cứ truyện ngắn hay truyện dài nào cũng có điểm tiếng cười cả.


Ngọc Thỏ (tức Nhị Lang Dương Mầu Ngọc) cười oang oang.


Trúc Đỳnh cười rơi cả mũi.


Tam Lang cười ruồi.


Nam Cao cười rung cả rốn.


Nguyễn Công Hoan cười khèng khẹc.


Nguyễn Tuân cười khảy.


Tô Hoài cười hồn nhiên, cười hô hô.


Muốn cho thật đầy đủ về bộ loại tiếng cười, tưởng cũng nên biết mấy nét làm lý về cái cười của người ta.


Mỗi lúc điểm một nụ cười hay nhoẻn miệng cười không phải là dễ. Cho nên cười cho ra cười cũng khó lắm. Mỗi nụ cười hay mỗi tiếng cười làm cho phẩm giá con người tăng lên hay hạ xuống.


Bởi thế ta càng phải thận trọng lắm.


1- Bất cứ phải, trái, hay, dở, khen, chê cũng cười: đó là tiếng cười của kẻ si ngốc.


2- Giọng cười oang oang làm rung cả cửa kính là tiếng cười phương đần độn.


3- Tiếng cười không được giòn giã là người kém thông minh.


4- Người nóng tính thì tiếng cười đổ dồn từng hồi như vũ, như bão.


5- Tiếng cười của người yếm thế thì buồn bã, rã rượi, rời rạc.


6- Người vô tâm thì tiếng cười ở trong cổ họng.


7- Người nào cười hi hi là trong người đau yếu, ủy mị, tính tình thay đổi luôn.


8- Người ham vật chất thì tiếng cười hô hô. Đó là những đệ tử trung thành của chủ nghĩa hưởng thụ.


9- Có tiếng cười quan trọng đổ từng chuỗi như thác réo.


10- Cũng có kẻ đem hết cả sức lực trong người ra dốc vào tiếng cười. Ấy là tiếng cười gắng gượng.


11- Cười để tỏ vẻ kiêu căng, đắc thắng. Khi mới chiếm được nước Pháp, Hítle vội vàng đáp máy bay sang chiêm ngưỡng vị đệ nhất anh hùng Nã Phá Luân đệ nhất ở Ba Lê để cười cho thỏa chí bình sinh.


12- Cái cười lãnh đạm của Stalin để lộ những chiếc răng ngắn ám khói thuốc lá, lác đác bọc vàng.


13- Hạng người nghĩ ngợi, lo âu thì chỉ hay cười nửa miệng. Có lẽ vì thế nên ta có câu hát:


Đêm năm canh, ngày sáu khắc chàng ơi,


Chàng cười nửa miệng, thiếp vui nửa lòng!


Cũng tương tự như câu:


Mặt ngoài thì cười vui mà trong lòng thì nghiêm khắc (Tiếu diện hổ).


14- Tiếng cười khinh bỉ thì cộc lốc. Tiếng cười ấy chẳng qua chỉ là một cái nhăn mặt mà thôi.


15- Người khô cạn tình cảm thì tiếng cười nhạt nhẽo.


16- Mỗi khi kẻ tham ăn cười thì cái cạnh cằm xị kia xếp lại thành mấy nếp nhăn.


17- Giọng cười lạnh lẽo là người nham hiểm.


18- Lại có cái cười đau xót:


Ăn thì hả hê, trả thì hi hỉ.


19- Tiếng cười hả hê tỏ ý châm chọc.


20- Người có tiếng cười giảo quyệt thì vô cùng nham hiểm, chẳng ai lường được.


21- Tiếng cười độc ác the thé như tiếng vải xé.


22- Kẻ ác nghiệt thì tiếng cười hiểm độc, nghẹn ngào.


23- Cái cười kiểu súc hay vô ý thức đã không đánh lừa được ai thì chớ và đáng lẽ làm cho người ta vui lòng thì nó lại khiến người ta phát cáu.


24- Lại có tiếng cười nịnh hót. Thấy người trên cười, chẳng biết hay, dở ra sao cũng cố cất tiếng cười, mặc dầu rất nhạt, nhạt hơn cả nước ốc, để hóa theo, lấy lòng vì thế cổ nhân mới có câu “Cười theo, dạ hớt”.


25- Cười để thu lợi, như cái cười của lão đánh cá bắt được cả đôi trai, cò (Bang duật tương trì, ngư ông đắc lợi tiếu hi hi).


26- Cười để lấy lòng người mà thi hành mưu kế (Nhất tiếu khuynh thành túy tặc tâm, nghĩa là một cái cười nghiêng nước làm cho giặc say).


27- Cười he hé là người gian hùng.


28- Có cái cười nham hiểm, độc ác như cái cười của Tào Tháo.


29- Lý Lâm Phủ là người vẽ giỏi, viết tốt, tính ôn hòa, đối với mọi người hết sức tỏ vẻ niềm nở, bất cứ tiếp chuyện ai cũng cười nhưng thực ra trong lòng hết sức nguy hiểm. Vì thế người đương thời mệnh danh cho hắn cái xước hiệu là “tiếu lý tàng đao” nghĩa là trong cái cười có giấu con dao.


30- Người nào cười khẽ thì thiếu tính cách và dễ bị cám dỗ, nhưng dồi dào về tinh thần.(1)


31- Khi nào cười bộc phát và ầm ĩ thì tuy không kém xã giao, nhưng dễ bị xúc động và kém nghị lực.(2)


32- Khi ta thấy tiếng cười tươi tắn, ngay thẳng thì ta biết ngay là nó chứa đầy mãnh lực và trong sạch.


33- Tiếng cười hơ hớ chỉ người được thỏa mãn.


34- Trong tiếng cười ha ha mà chữ “a” kéo dài là tính người dễ dãi, có lòng tốt. Nếu chữ “a” kéo dài ra một cách nhẹ nhàng, ấy là người điều độ. Còn chữ “a” ngắn ngủn, cộc lốc và chua chát thì là người hay gắt gỏng, giả dối.


35- Những người thỉnh thoảng mới cười, nhưng cười “thả cửa”, cặp mắt, đôi môi và nét mặt đều ăn nhịp với nhau thì mạnh mẽ và bộc trực, khoan dung, chan chứa tinh thần.(1)


36- Cái cười thanh nhã hơi chúm chím nở ở hai đầu cánh môi.


37- Cái cười đằm thắm giống hệt đóa hoa nở buổi bình minh đượm những giọt sương sớm trong vắt như kim cương.


38- Cái cười nheo đuôi mắt sáng ngời như vì sao mai lóng lánh, nhấp nhánh ở trên bầu trời xanh ngắt.


39- Giọng cười ngây thơ đưa ra một làn hơi nóng đùa giỡn, nhảy nhót, đú đởn trên cặp môi tươi thắm, xinh xắn của cậu bé con kháu khỉnh hòa nhịp với tiếng cười giòn giã, cao cả của người mẹ ngồi ngắm con thì có khác gì tiếng hạc tung cánh bay cao hòa với tiếng gió thoảng qua.


40- Cái nụ cười tươi tắn để khuất phục lòng người như nụ cười của đào Píchpho (Marie Pickford), Gláp (Clark Gable).


41- Tiếng cười ho ho tỏ người vui vẻ, yêu đời, ưa mỹ thuật, nhất là có khiếu về âm nhạc.


42- Trong tiếng Việt, chưa có chữ nào có thể hình dung nổi tiếng cười dưới đây:


Tiếng cười luông hảo, chân thật, đích đáng, phát ra từng chuỗi giòn giã, làm hớn hở, rạng rỡ mặt mày, lòng xuân phơi phới, tinh thần lâng lâng, bụi trần. Đó là tiếng cười nên cười, tiếng cười của con người đang làm người.


Tiếng cười trung hậu ấy không những là biểu hiện cho tấm thân cường tráng mà lại còn chứng tỏ cái tinh thần mãnh liệt nữa. Người bệnh không thể nếm cái hương vị cao quý của cái cười ấy được. Còn kẻ ác tâm thì dầu có xắn quần móng lợn đuổi bảy ngày cố bắt lấy nó thì nó cứ bay bổng tuyệt vời.


43- Cười để nếm mùi thành công sau bao chật vật ở đời:


Bạn ơi, nâng cốc rượu đầy,


Cười lên cho bõ những ngày lầm than.


44- Cười để lấy thêm nghị lực mà vượt khó khăn ở đời:


Nhưng cũng sống trong đêm khổ não


Miệng cười trong lúc nếm chua cay.


hoặc:


Sầu đông trong héo ngoài tươi,


Vui là vui gượng, cười là cười khuây.


45- Cười để khinh mọi việc ở đời nhỏ như hạt cát bụi:


Bấy lâu nay xuôi ngược trên đường đời,


Anh thấy chăng? Tôi chỉ hát, chỉ cười!


hay:


Rồi một chiều thủ đô bùng khói lửa,


Chàng trai cười bên tiếng khóc nỉ non


Của mẹ già, vợ đói, con than,


Tan tác hết, chỉ còn lòng hai nở.


46- Cười để coi cái chết nhẹ như lông hồng:


Bao anh hùng, bao chiến sĩ vô danh


Trong bóng tối đã cười theo cái chết.


hay:


Ta đi cười gió, khinh mưa


Dấn chân khói lửa, nắng mưa tung hoành.


hoặc:


Vàng tâm xuống nước cứ tươi


Anh hùng lâm nạn cứ cười, cứ vui.


47- Đại biểu Nga ở Liên hiệp quốc cười trước khi trả lời một câu hỏi:


- Người ta đồn nước Nga cũng có bom nguyên tử?


- Không có cái gì lạ ở dưới ánh sáng mặt trời.


Cái cười ấy là cái cười tự tin.


48- Mỗi khi uất ức điều gì, cô bé Maria (Maria), tức là bà Quyri (Pierre Curie) sau này, chỉ ngạo nghễ cười để tỏ vẻ phẫn uất đối với chế độ hống hách của kẻ chuyên chế.


49- Có cái cười tin vào tương lai tốt đẹp:


Tuy chông gai hiểm trở,


Đường vẫn ngát hoa cười.


Tuy băng ngàn, vượt núi,


Vẫn gặp suối reo vui.


Tuy gian nan vất vả,


Vẫn thấy đời xanh tươi.


50- Cười để tỏ vẻ lịch sự, như câu chuyện dưới đây:


Theo một nhà tâm lý học Anh, một hôm, một người kể một câu chuyện khôi hài cho bốn người khác giống nghe: Mỹ, Đức, Anh và Pháp. Dứt chuyện, người Mỹ vẫn thản nhiên ngồi hút xì gà như không có chuyện gì xảy ra hết. Người Pháp cười một lần, người Đức hai lần, và người Anh ba.


Nhà tâm lý học kết luận rằng:


1) Người Pháp hiểu ngay cái hay ở chỗ nào nên thành thực cả cười.


2) Người Mỹ tự phu: bất cứ việc gì ở đời mình cũng hiểu cũng biết cả rồi, nên không thèm để ý đến, mới ngồi lạnh như tiền.


3) Người Đức tuy chưa hiểu chỗ đáng cười, nhưng cũng cứ cười để mà cười. Người kể chuyện phải giảng giải, người Đức dù chưa hiểu rõ, lại gượng cười lần nữa.


4) Còn người Anh thấy hai người kia cười cũng cứ cười để mà cười. Lần sau vì gượng lịch sự mà cười. Còn lần chót sau nghĩ chín, hiểu thấu cái hay mới bật lên cười.


(còn tiếp)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








(1) Ceux qui ont de petits rires manquent de caractères et ne résistent pas aux tentations, mais, en revanche, plutôt bien doués intellectuellement.




(2) Ceux qui rient d’une facon explosive et bruyante sont non pas sociables mais sujets à des impulsions et souvent de volonté faible.




(1) Ceux qui rient rarement, mais librement, les yeux, les lèvres et le visage en harmonie, sont solides, ouverts, généreux et pleins d’esprit.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »