tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21077900
Tiểu thuyết
13.03.2012
Hoài Anh
Nguyễn Thông Vọng Mai Đình

Thấy quân Lang Sa sắp kéo vào thành, Lê Cẩn vội cùng một số quân sĩ chia nhau ra các mặt thành chống cự. Mọi người nấp sau những lỗ châu mai trên tường thành, sẵn sàng bắn vào quân giặc. Giữa lúc đó, Lãnh binh Huỳnh Chiểu mới truyền lệnh:


- Có cụ lớn Kinh lược trong hàng quân Lang Sa, cấm không được bắn kẻo phạm tới ngọc thể của ngài…


Thấy thế nguy, Lê Cẩn vội tìm đường chạy ra ngoài thành. Bọn giặc thấy có người chạy trốn vội hò nhau rượt theo. Ra tới bờ sông, Lê Cẩn nhảy vội xuống một chiếc xuồng đậu ven sông rồi nhanh tay chèo trốn thoát. Bọn giặc trên bờ báo động cho một chiếc tàu nhỏ nổ máy đuổi tiếp. Hai tay Lê Cẩn


 Chèo đã mỏi rồi mà nhìn lại thì thấy tàu giặc đuổi gần tới nơi. Chúng muốn bắt sống Lê Cẩn nên không bắn mà chỉ kêu gọi anh đầu hàng. Lê Cẩn không dừng lại, vẫn cứ chèo miết. Một phát đạn trúng mạn sườn anh, máu loang đỏ cả áo.Lê Cẩn vội bỏ xuồng nhảy đại xuống nước. Giặc bị bất ngờ, bèn bắn hàng loạt đạn xuống sông. Chờ mãi không thấy tăm hơi gì, tàu giặc bèn quay về.


Lặn hồi lâu dưới nước, Lê Cẩn thấy đầu nặng nề choáng váng, tưởng chừng đang ngủ bị một cái chăn bất thần trùm kín lấy khiến mình ngộp thở phải cố vùng vẫy để thoát ra. Anh vội trồi lên mặt nước rồi ráng sức bơi vào bờ. Tới nơi, anh nép vào trong bụi lau sậy um tùm, tới khi biết chắc là tàu giặc không lẩn quất gần đó nữa mới lội qua rạch vào xóm. Thấy trong ngôi nhà tranh có một cô gái đang xay bột, Lê Cẩn vội kêu:


- Cô ơi! Làm ơn cứu tôi với!


Cô gái nhìn ra thấy một chàng trai người ướt như chuột lột, mặt tái nhợt, máu rỉ ra từ mạn sườn, vội chạy ra dìu vào trong nhà. Cô đưa anh một bộ quần áo đàn ông rồi chỉ cho anh vô buồng thay đồ. Cô ra vườn hái lá cây thuốc dấu giã nhỏ, dịt vào vết thương của anh rồi lấy vải xô bó lại. Vừa làm cô vừa hỏi:


- Tráng sĩ là ai, vì sao lại bị thương như vậy?


Lê Cẩn thành thực:


- Không giấu gì cô, tôi là Lê Cẩn, chánh quản cơ trong dinh quan Kinh lược. Giặc Tây lấy thành, tôi không chịu để cho chúng bắt nên liều mạng trốn thoát, bị chúng rượt theo bắn bị thương…


Cô gái nhìn Lê Cẩn hơi ngờ ngợ đã gặp anh ở đâu. Bỗng cô chợt nhớ ra đã nhìn thấy anh khi đi xem đua ghe trên sông Cổ Chiên. Những chiếc ghe dài bằng gỗ dong, chè, bời lời, móc ruột hoặc ghép bản, thân quét dầu trong và nẹp hai bên be, trước mũi gắn hình đầu rồng, lân, phụng, nai, cá hóa long… phía dưới, hai bên đắp hai con mắt lồi. Lái cong, mang đuôi con thú có đầu ở phía trước, trên cắm lá cờ vuông, viền tua, giữa để danh hiệu xã, thôn. Ghe của mỗi huyện sơn một màu khách nhau đỏ, đà, xanh, xanh lợt, tím để dễ phân biệt.


Mỗi thuyền có 23 tay bơi, đều là người cao lớn lực lưỡng. Tiếng ống lệnh nổ. Phách nhứt hô “hè”, các tay chèo cùng hẹp rập theo, cáhc khoảng bởi tiếng phèng la, rồi đồng loạt bỏ dầm xuống, bơi xốc lên, giựt ghe lướt bay trên mặt nước.


Trên sông vang dậy tiếng “hè”, “bon”. Nhịp nhàng đẹp mắt, các mái chèo cùng lúc bổ xuống, tung nước lên trắng xóa, chói lòa dưới ánh mặt trời.


Từ xa, cô gái trông thuyền đang bơi như những con rít khổng lồ với muôn ngàn chân cùng bổ xuống một lượt, theo nhịp điệu tiếng cồng. Dần dần thuyền gần lại, cô nhìn thấy trên chiếc ghe sơn màu đỏ, một thanh niên khỏe mạnh, mình trần, vận khố đỏ, đầu bịt khăn mỏ rìu đỏ, quàng mảnh vải từ vai bên phải xuống qua hông trái, đầu mối giắt vào khố bao, đang đứng lái, đưa ghe lướt vùn vụt trên mặt sông. Vừa tới giới hạn huỷ trình được ghi dấu bằng phao rơm, trên cao cắm một ngọn cờ tím thẫm, chàng ghé phao lấy thẻ rồi lái ghe rẽ quanh ngược lại. Thấy ghe chàng toan vượt lên trước, chiếc ghe đi sau liền đâm bên hông ghe chàng khiến ghe suýt bị lật, nhưng chàng tỉnh mắt nhận ra, giữ tay lái cho ghe khỏi chòng chành rồi đưaghe vút lên như tên bắn. Một ghe khác toan chận đầu ghe chàng nhưng chàng khéo léo lách ghe sang một bên, tránh đụng vào chiếc ghe ấy rồi lại cho ghe lao lên. Các ghe khác hò nhau rượt theo nhưng không ghe nào theo kịp ghe của chàng.


Sau ba vòng đua, ghe của chàng về nhất, chàng được tặng thưởng mấy nén bạc, một chuỗi tiền đồng, lá cờ nhỏ và tấm bạch chứng thư. Thấy cô cứ ngó chàng muốn rớt nhãn, các bạn đấm vào lưng cô thùm thụp, trêu ghẹo. Cô chỉ mỉm cười, đôi má ửng hồng lên…


Bữa nay nhìn Lê Cẩn, cô đã nhận ra anh chính là người lái ghe đua năm trước, nhưng cố giữ vẻ bình tĩnh:


- Vậy ra tráng sĩ là người yêu nước, căm ghét lũ giặc Tây! Được đón tiếp tráng sĩ ở đây quả là điều hạnh ngộ. Tôi mồ côi cha mẹ từ nhỏ, được người anh nuôi nấng. Trong trận Tây đánh thành năm trước, anh tôi bị giặc bắn chết. Chị dâu tôi buồn rầu sinh bệnh chẳng bao lâu sau cũng chết theo, để lại hai cháu nhỏ. Tôi phải làm bún bán lấy tiền để nuôi thân và hai cháu. Tráng sĩ bị thương hãy cứ nương náu ở đây chờ vết thương lành hẳn đã rồi hãy đi.


Lê Cẩn nghẹn ngào:


- Cái ơn cứu tử của cô tôi không bao giờ dám quên. Nhưng chỉ e phiền cho cô…


Cô gái hiểu ý, giọng khẳng khái:


- Anh tôi bị giặc giết, tôi phải trả thù cho anh tôi. Biết tráng sĩ là người chung mối hận giặc Tây, như vậy cũng đủ để tôi coi tráng sĩ như anh ruột của tôi. Tráng sĩ cứ yên tâm, đừng ngại ngùng gì cả.


Cô gái cho biết tên cô là Lan, hai mươi mốt tuổi. Còn chuyện đã nhìn thấy Lê Cẩn trong cuộc đua ghe thì cô không nói với anh…


Từ ngày Lê Cẩn nương náu ở đây, hàng ngày Lan nấu cháo cho anh ăn, lấy thuốc về sắc cho anh uống để mau lại sức. Nhờ sự chăm sóc tận tình, vết thương của anh không bao lâu đã lên da non. Vừa nhúc nhắc được chân tay, anh đã đòi phải để cho anh xay bột giùm, đỡ phần gánh nặng cho cô. Lúc đầu cô nhất định không nghe, nhưng anh bảo ngồi không buồn chân buồn tay lại sinh bệnh thêm, cô buộc phải để anh làm. Hai đứa cháu cũng quyến luyến anh, thường quấn quýt bên anh mỗi khi anh xay bột, tranh nhau đổ gạo vào cối. Cô nhìn anh nói đùa:


- Trôn anh bây giờ giống hệt một ông thợ xay thứ thiệt, không ra vẻ một quan võ của triều đình nữa.


Lê Cẩn cười:


- Nếu tôi là thợ xay thiệt thì định trả công tôi thế nào?


- Em sẽ trả anh một trăm quan tiền…


- Anh chỉ xin em hhai chữ thôi…


- Hai chữ gì?


- Hai chữ “trăm… năm”.


- Ý! Anh nói gì mà kỳ vậy?


- Thì em trả anh một trăm quan, mỗi năm anh chỉ lấy một quan, vậy thì trăm năm anh mới lấy hết chớ gì!


Lan cười:


- Anh khéo nói lắm! À… anh nè, nếu có ai tới đây hỏi anh thì nói ra sao?


- Thì em cứ nói là ông thợ xay bột mướn là được!


- Lỡ người ta nhận ra anh không phải là thợ xay bột thì tính sao?


Nhìn đôi mắt Lan ánh lên vẻ tinh quái, Lê Cẩn lúng túng:


- Thì em cứ nói là ông anh họ…


- Lỡ người ta hỏi họ hàng thế nào thì sao?


Lê Cẩn bí quá, nói liều:


- Thì em cứ nhận đại anh là… chồng cũng được chứ có sao?


Lan cười hóm hỉnh:


- Ý! Nói dễ nghe chưa? Không có mai dong, không có ăn hỏi sao lại gọi là chồng được?


- Thì em cứ nói là cha mẹ em mất cả nên không cần ăn hỏi đã sao?


- Không nộp cheo cho làng, ai người ta công nhận là vợ chồng?


- Em muốn nộp cheo thì anh nộp liền…


- Anh lấy gì để nộp chớ?


Lê Cẩn bực mình:


- Anh lấy tiền công xay bột ra nộp…


- Nếu anh xay bột mà đòi tiền công thì đâu còn là chồng…


- Thì anh… nộp… nộp mình anh cho họ cũng được chứ sao? Lê Cẩn không nén được liền buột miệng.


Thấy Lê Cẩn giận, Lan cười dàn hòa:


- Thôi mà, em giỡn chơi chút xíu àm chưa chi anh đã giận. Hay giận vậy thì sống… trăm năm với nhau làm sao được. Em biểu nè, em chỉ cần một món sính lễ thôi. Nếu anh sắm được thì em ưng lời kết duyên với anh liền…


- Sính lễ gì vậy?


- Anh thử đoán coi!


- Thúng gạo nếp với con heo phải không?


- Không phải!


- Hay là nhẫn vàng, vòng vàng?


- Cũng không phải!


- Vậy thì cái gì? Thôi phải rồi, hay là: cây đa mặt nguyệt đêm rằm, răng nanh thằng Cuộc, râu căm Thiên lôi…


- Cũng không phải nốt!


Lê Cẩn nóng ruột:


- Là cái gì em cứ nói phứt cho rồi, cứ vòng vo tam quốc hoài. Anh đã muốn lên ruột rồi đây nè!


- Anh tánh nóng như Trương Phi vậy thì ai mà sống với anh được. Sốn năm khắc đã thấy mệt rồi!


- Cái gì em cứ nói đi, đừng bắt anh đoán nữa. Anh chịu thua rồi mà!


Lan nghiêm trang:


- Em nói nghe: Em chỉ thách anh… lấy cái đầu thằng Tây làm sính lễ thôi!


Lê Cẩn cảm động nhìn sững Lan:


- Em nói… - Rồi anh gật đầu quả quyết – Được! Anh xin nhận lời thách cưới cảu em!


*


Lan đang nấu nướng dưới bếp thì đứa cháu trai vô mở vung nhìn qua chiếc nổi đất rồi reo lên:


- A! Cô nấu canh chua cá lóc cho chú Tư ăn!


Lan vội suỵt:


- Nói nhỏ chớ; thằng Tây nó nghe được, nó vô nhà mổ bụng ăn gan mày đó!


Nghe nói đến thằng Tây, đứa nhỏ xanh mặt nín khe. Gần đây nó rất sợ lũ người xa lạ da trắng, mắt xanh, mũi lõ, râu xồm xoàm đỏ hoe như râu bắp đó, có phải là lũ yêu tinh trong chuyện cổ tích mà người già trong xóm thường kể cho nó nghe không… Lan lại dọa:


- Bất kỳ ai, kể cả người trong xóm này, cháu cũng không được nói với ai là chú Tư ở đây, nghe không?


Đứa cháu gái chạy lại hỏi Lan:


- Cô Ba à, chú Tư có phải là chồng cô không?


Lan đỏ mặt:


- Không! Mà sao cháu lại hỏi vậy?


- Cháu nghe nói chỉ vợ chồng mới ở với chung với nhau chớ! – Đứa cháu giọng ngây thơ.


- Ai nói với cháu như vậy?


- Bà Bảy chớ ai. Bả nói nếu chưa phải vợ chồng mà đã ăn ở với nhau thì sẽ bị đóng bè trôi sông…


Lan bỗng giựt mình. Việc chứa chấp Lê Cẩn nếu để người ngoài biết thì còn gì là danh tiết một đời con gái của cô. Người ta sẽ cho cô hạng gái trăng hoa, chưa cưới xin đã vụng trộm với trai trong nhà. Nhưng cô lại nghĩ, lúc Lê Cẩn mới tới, anh bị thưong nặng, ra máu nhiều, nếu mình không để anh ở trong nhà chạy chữa cho anh, lỡ anh có bề nào thì… Gặp người bình thường mắc nạn cần phải cứu huống chi đây là một người yêu nước đang bị giặc rượt theo, lũ tay sai của chúng luôn rình mò lùng bắt. Mình chấp nên tiểu tiết không dám giấu anh, để anh sa vào tay tụi nó thì sẽ suốt đời ân hận, có khác nào tự tay mình đã giết anh. Ở đời làm điều nghĩa, dầu có phải hy sinh tính mạng hay danh dự cũng cam. Dầu bà con lối xóm có biết mình dấu một người đàn ông trong nhà, nhưng khi biết đó là một người yêu nước đang bị giặc truy tầm, chắc họ cũng hiểu đây là vì nghĩa lớn chứ không phải chuyện trai gái thường tình. Họ có hiểu lầm, mình cũng đành cam chịu chớ biết làm sao. Không phải lúc đầu mình không nghĩ đến điều này, nhưng vẫn cảm thấy rằng mình không thể nào nhẫn tâm bỏ rơi anh ấy được. Người cùng hội cùng thuyền, không giúp nhau cơn hoạn nạn thì để cho ai? Giả sử anh ấy là anh ruột mình thì mình có mong muốn anh ấy được người con gái nào đó cứu giúp hay không?


Nghĩ vậy, Lan thấy mình tăng thêm dũng cảm, sẵn sàng đối phó với bất kỳ điều nguy hiểm hay cảnh ngang trái nào xảy ra. Nếu mình đã là người yêu nước thì tất cả những người yêu nước đều trở thành thân thích ruột rà của mình. Hơn nữa Lan đã thầm để ý anh từ khi nhìn thấy anh trong cuộc đua ghe ngo năm trước. Có thể hai người có duyên từ kiếp trước cũng nên, biết đâu trời chẳng run rủi cho nên vợ nên chồng thiệt! Hai má cô bỗng đỏ bừng khi thoáng nghĩ đến điều đó…


Về phía Lê Cẩn, không phải anh không nghĩ đến chuyện giữ tiếng tăm cho Lan. Anh biết thành kiến của người đời nhiều khi rất nghiêm khắc. Một nhà nho thời xưa đã nói: “Chết đói là việc nhỏ, thất tiết là việc lớn”, cái chết cũng không quan trọng bằng việc mất danh tiết. Nhiều người đàn bà khi mất danh tiết đã phải liều mình tự vẫn để tránh miệng đời mai mỉa. Nhưng anh nghĩ danh tiết cũng không quan trọng bằng nghĩa lớn ở đời. Không nói đến Liễu Hạ Huệ có gái đẹp ngồi trong lòng mà vẫn không hề biến sắc mặt là một ông thánh đã đành, ngay như Quan Công chong đèn ngồi hầu chị dâu suốt đêm cũng là vì cái nghĩa lớn đối với người anh vười Đào. Châu Long sống chung một nhà với Lưu Bình ba năm mà vẫn giữ được trong sạch là vì muốn bảo toàn cái nghĩa lớn đi nuôi bạn thay chồng. Con người sở dĩ hơn súc vật là ở chỗ biết quên mình vì nghĩa. Ngày nay cái nghĩa lớn nhất của con người là cứu dân cức nước, anh tự nhủ mình phải sống để còn trả thù cho dân cho nước. Cũng vì vậy anh sẵn sàng dẹp bỏ mọi thường tình, nán lại nhà Lan điều trị cho vết thương chóng lành để lại ra đi. Không phải là anh không có cảm tình với Lan, nhưng anh nghĩ tình yêu phải bắt đầu từ chỗ biết tôn trọng nhau, giữ gìn phảm giá cho nhau, đó mới là tình yêu chân chính. Anh tin rằng một “thục nữ chí cao” như lan cũng sẽ hiểu anh, đồn tình với anh về điều thiết cốt ấy…


V- Khi Tây kéo vào thành thì Nguyễn Thông đang thu xếp sách vở ở Tụy văn lâu nên ông không bị giặc bắt giữ như các quan tỉnh khác. Ông vội tìm đường lánh về nhà riêng ở bên cạnh rạch Ba Thắc.


Ngôi nhà tranh sơ sài, trước cửa rặng liễu xanh tha thướt, trong vườn hoa dại nở đầy bên bụi trúc. Có lần cùng ông hàng xóm là Lưu Tấn Thiện ra chơi vườn, Nguyễn Thông thấy hoa dại mọc lấn trúc liền tức cảnh ngâm một bài thơ:


Dã hoa sinh trúc hạ,


Trúc thâm hoa diệc phồn.


Hoa phồn phiên tiếu trúc,


Xuân chí bất năng ngôn.(1)


Nghe xong thơ. Thiện bình phẩm:


- Có phải bác định nói hiện nay không những kẻ tiểu nhân đắc thời đã lấn át người quân tử mà lại còn chê cười người quân tử là không biết đường mưu cầu danh lợi hay không?


Nguyễn Thông cười:


- Tôi chỉ tả cảnh thực thôi, còn việc suy rộng ý nghĩa của nó là tuỳ theo cái chí, cái tâm của từng người. Cũng như việc bác hợp tác với ông Trương Định đánh Tây trước đây cũng xuất phát từ cái chí “nuốt sao Ngưu” của bác.


Lư Tấn Thiện người thôn Lộc Tường, huyện Vĩnh Trị, tỉnh Vĩnh Long. Năm Đinh Mùi(1) đỗ Cử nhân, làm Tri huyện ở Gia Định. Sau khi Đại đồn Chí Hòa thất thủ, tháng giêng năm Tân Dậu(2) Nguyễn Tri Phương và các tướng triều đình lui về giữ Biên Hòa, Quản cơ Trương Định đem quân về đóng lại đồn cũ tại Tân Hòa. Lúc ấy Tay lo đánh Biên Hòa và Vĩnh Long, chỉ coi Định như một tên giặc cỏ nhỏ mọn, không chú ý lắm. Định bèn cùng tri huyện Lưu Tấn Thiện, Bát phẩm thư lại Lê Quang Quyền trữ lương đúc súng, mộ quân được hơn ngàn người, nhân lính Tây không hiểu đường sá, thường đem quân phục kích, đạt nhiều thắng lợi nhỏ, làm cho tinh thần kháng chiến khắp nơi hưng khởi, triều đình nghe tin, thăng cho Định chức Phó Lãnh binh tỉnh Gia Định. Tháng 11 năm ấy, Tây chiếm thành Biên Hòa, triều đình chỉ nghiêm trách các quan Hiệp tán quân vụ Thân Văn Thiếp, Khâm phái quân vụ Nguyễn Túc Trưng, ra lệnh các đạo phải đến hội quân ở Tân Hòa để tính kế khôi phục, còn nguyên tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang thì trước đó đã theo đường khác tới nương tựa vào Định rồi. Lúc ấy Định đã tiến đóng ở Gò Rùa, quân lính có 5 ngàn người, vì Túc Trưng là quan lớn của triều đình nên Định tôn làm chỉ huy, tuân theo mệnh lệnh rất kính cẩn. Nhưng thế giặng đang mạnh, bọn Túc Trung cũng chỉ cố thủ quanh một hạt Tân Hòa mà thôi.


Năm Nhâm Tuất(3) thành Vĩnh Long thất thủ lần thứ nhất, tin báo thua trận ngày ngày gửi về triều. Tháng 5, tướng giặc Bô-na cho tàu ra Huế yêu cầu cử Toàn quyền đại thần vào Gia Định họp bàn việc giảng hòa. Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp ký hòa ước nhường ba tỉnh miền Đông Nam kỳ cho s và Lâm Duy Hiệp ký hòa ước nhường ba tỉnh miền Đông Nam kỳ cho Lang Sa. Hòa ước ký xong, vua Tự Đức ra lệnh bãi binh, triệu bọn Túc Trưng về Kinh. Trương Định được thăng Lãnh binh tỉnh An Giang nhưng ông không chịu giải binh đi nhận chức mới mà đứng lên khởi nghĩa chống giặc đến cùng. Lưu Tấn Thiện được thăng tri phủ ở Vĩnh Long, nhưng ôn không nhận chức, lui về ở ẩn trong một mái nhà tranh bên cạnh rạch Ba Thắc. Khi Nguyễn Thông mới về làm Đề học tỉnh Vĩnh Long, Lưu Tấn Thiện đã giúp ông cất nhà kề bên nhà mình, từ đó hai ngươi là bạn thơ rượu rất tương đắc.


Lần này về nhà, thấy mình đi vắng lâu ngày trong vườn cỏ rậm mọc đầy, hoa rụng tơi tả trước thềm, Nguyễn Thông xúc cảnh sinh tình, nảy ra hai câu thơ:


Loạn thảo bất tì tiên nhiễu xá,


Lạc hoa tài tảo cánh xâm trừ(4).


Đang ngâm nga thì Lưu Tấn Thiện từ ngoài vào, hỏi ngay:


- Bác đã biết tin gì chưa? Triều đình vừa có lệnh tất cả các quan tỉnh Vĩnh Long đều phải về Kinh để nhận chứ mới. Bác tính thế nào?


Nguyễn Thông bực bội:


- Tôi định noi gương ông Trương Định cứ ở lại đây mộ binh đánh Tây không về Kinh theo lệnh triều đình.


- Không được. Ông Trương Định là quan võ, có thể trực tiếp cầm quân đánh giặc, còn bác là quan văn, chỉ có thể giúp đỡ mưu lược cho nghĩa quân mà thôi. Bác ở trong hàng quan lại, không về kimh theo lệnh triều đình, sẽ bị cách tuột hết chức tước. Bác còn lạ gì, thói thường dân ta thường chuộng người có danh vọng đứng lên cầm đầu, nếu bác bị cách, như vậy sẽ khó cho việc mượn danh nghĩa quan chức triều đình đứng lên tập hợp nghĩa quân chông Tây. Theo ý tôi, bác cứ nên tạm thời về Kinh đã, rồi sẽ tính sau…


- Nhưng mà…


- Tôi tuổi già lại kém tài, nên đành lòng về ẩn ở đây. Bác mới bốn mươi mốt tuổi, lại có tài kinh bang tế thế, còn có thể làm được nhiều việc ích lợi cho dân cho nước. Bác còn nấn ná, sớm muộn cũng sẽ bị giặc bắt, vì thế nào Trương văn uyển chẳng mách cho Tây biết bác là người đứng đầu phe chủ chiến ở đây. Hay là bác cứ nên tạm lánh đi một nơi, lập căn cứ lâu dài, chờ cơ hội liên kết với các nhóm nghĩa binh khác chống giặc.


Đêm đó, Nguyễn Thông cứ trằn trọc suy nghĩ mãi. Biết lánh đi đâu bây giờ? Trước đây hãy còn ba tỉnh miền Tây, thì sĩ phu ba tỉnh miền Đông trong vùng giặc chiếm có thể “tị địa” sang miền Tây. Nhưng nay toàn cõi Nam kỳ đã mất rồi thì chỉ còn cách lánh ra Trung kỳ mà thôi.


Mấy năm trước nhân theo quân triều đình rút lui ra Bình Thuận, ông đã biết qua địa thế vùng này.


Có lần ông theo phía đông bắc phủ Hàm Thận ra đi, qua ấp Phú Khê, suối Đàn Linh đến Việt Sách rồi qua rặng núi Ông. Từ suối Đàn Linh trở lên, đều đi trong rừng già, hai bên cổ thụ tre nứa che khuất cả ánh sáng mặt trời. Chiều tối nghe tiếng ve kêu càng thêm buồn thảm. Rừng sâu ít vết chân người đi, có tiếng hổ đói gầm thét sát bên đường.


Khỏi rừng, thấy mở ra cánh đồng lớn, bắt đầu bước vào địa giới vùng La Ngư(1). Núi La Ngư phía đông bắt đầu từ rặng núi Ông(2), phía tây đến núi Cà Tong(3), phía bắc đến bờ sông La Ngư, phía nam đến núi Ông, có thể khai khẩn được ước chừng trên ba nghìn mẫu ruộng. Ngày hôm sau, đi theo chân núi Ông vòng lên phía bắc đến thôn Tánh Kinh; sau đó lại đi theo chân bắc đến cánh đồng Lạc Dã. Cánh đồng này vòng về phía nam Biển Lạc(4), gọi chung là Lạc Dã, chạy song song theo sông La Ngư. Hôm sau nữa qua Biển lạc, chỗ ấy giáp giới có thể trông thấy thôn Dã An thuộc tỉnh Biên Hòa. Biển Lạc vốn là một cái đầm lớn, mùa hè mùa thu chứa nước lũ ở các suối miền thượng du dồn về, thế nước mênh mông, cá tôm đầy rẫy, đầu mùa xuân nước cạn, dân ở đó bắt về làm khô, tháng tư mưa xuống mới thôi. Đất này quả là kho nuôi dưỡng quân mình không bao giờ hết.


Địa thế vùng La Ngư, Bác Dã cao ráo, khoảng khoát, ruộng đất màu mỡ, có thể xây dựng nha sơ để ra sức đồn khẩn. Phía trên gần La Ngư là đất Trà Nông, có thể đặt một thương trường làm nơi trao đổi mua bán. Ngoài ra, có thể lựa chọn một trong hai nơi Chu Lư, Ba Kế, nới nào thuận tiện thì chia cho nông dân cắm đất khai khẩn.


Nguyễn Thông nẩy ý định ra Bình Thuận trước xem xét đất đai rồi tìm cách đư dân Nam kỳ ra Bình Thuận, Khánh Hòa khai khẩn, nhằm mục đích vừa mở mang nông nghiệp vừa xếp đặt việc phòng thủ quân Lang Sa trong Nam.


Không phải bây giờ Nguyễn Thông mới nghĩ đến việc lấy Bình Thuận làm căn cứ chống giặc lâu dài. Khi Trương Định tử tiết, một tướng của Trương Định là Trịnh Quang Nghị, cậu ruột của Nguyễn Thông đã chạy ra Giao Loan ở khoảng giữa Phước Tuy và Bình Thuận dựa vào Phan Chánh. Chánh chiếm căn cứ Giao Loan, xưng là Bình Tây phó nguyên soái. Chánh chia quân làm đồn điền trữ lương, muốn chờ súng đạn khí giới đầy đủ sẽ khởi sự. Nhưng vì có kẻ phản bội dẫn giặc đến đánh úp, quân Chánh tan vỡ. Lần này Nguyễn Thông định tựa vào căn cứ cũ của Phan Chánh để mưu chông giặc.


Ông chợt nhó đến hai câu trong bài thơ ông tặng Lưu Tấn Thiện đêm giao thừa năm Giáp Tý (1): “Tài hoa tu đáo thập phân hảo, cô tửu tu thế thiên nhật cô”. Lần này ông mưu lập căn cứ lâu dài cũng chẳng khác gì “trồng hoa phải trồng tới khi hoa nở mười phần rực rỡ, mua rượu phải mua thứ rượu say ngàn ngày”.


*


Ngồi nghiêm chỉnh trước án, Phan Thanh Giản tự tay viết tờ sớ gửi về triều đình. Luật lệ từ ngàn xưa đã dạy ông: Giữ thành, thành mất chết theo thành. Trương Tuần ngày xưa để mất thành Thư Dương há chẳng cắt cổ tự sát đó sao? Gần đây Võ Tánh để mất thành Qui Nhơn cũng nhảy vào ngọn lửa trước cầu Bát giác tự thiêu, ngay cả Ngô Tùng Châu vốn là quan văn không có tráh nhiệm giữ thành, vậy mà thành mất cũng uống thuốc độc nguyên sinh. Bên tai ông còn văng vẳng lời văn tế réo rắt của Đặng Đức Siêu: “Sửa mũ áo lạy về Bắc khuyết, ngọn quanh minh hun mát tấm trung can. Chỉ non sông giã với cô thành, chén tân khổ nhắp con mùi chính khí”. Chỉ một viên tướng giữ thành mà còn thế, huống chi ông là Kinh lược cả xứ Nam kỳ. Sáu tỉnh đều đã mất, ông khó lòng thoát khỏi tội nặng. Để cho cái bọn đình thần trong viện Cơ mật, trước đấy hết lời tâng bốc ca ngợi ông cốt đùn ông dấn mình vào nơi nguy hiểm cho bọn họ được rảnh thân an hưởng bổng lộc, đến khi ông gặp rủi ro thì lại xúm nhau vào bới lông tìm vết, hạch tội thế này thế nọ, ông cảm thấy nhục nhã đau đớn không chịu nổi. Chả trách người xưa đã phải than: “Đi cùng bốn bể chỉn chu. Trở về xó bếp chuột chù gặm chân”.


Không! Ông nhất quyết không để bọn chuột chù gặm chân như lần trước.


Bỗng ông nhớ lại những lời Nguyễn Thông đã nói với ông. Nếu ông nghe lời Nguyễn Thông cự mệnh vua chống nhau với giặc đến cùng thì sự thể sẽ ra sao nhỉ? Phan vội lắc đầu xua đuổi ý nghĩ đó. Hàn tín khi bị đưa ra pháp trường còn than: “Tiếc thay trước đây ta không nghe lời Khoái Triệt”, nhưng có biết đâu rằng sức Hàn Tín không làm nổi cái việc mà Khoái Triệt đã khuyên là giữ lấy đất, chống lại Lưu Bang để mưu đồ đến nghiệp. Mình cũng vậy, đã trọn đời trung thành với nhà vua, lẽ nào trong lcú cuối đời lại có thể cãi mệnh vua. Chỉ còn cách tự xử để chuộc tội mình và đền ơn vua mà thôi. Nghĩ ngợi một hồi, ông cầm bút đưa nhanh trên mặt giấy hàng chữ:


“Nay đương lúc gặp vận bĩ, giặc nổi lên ở ngoài kinh kỳ yêu khí khắp biên giới, việc bờ cõi ở Nam kỳ nay đến như thế, nhanh chóng đến nỗi không thể ngăn được, tôi nghĩ nên chết không dám cẩu thả sống, để hổ thẹn đến vua cha. Hoàng thượng rộng biết xưa nay, xét kỹ trị loạn, thân công hiền thần trong ngoài đồng lòng giúp đỡ, kính cẩn trời phật, vỗ thương dân nghèo, lo trước tính sau, thay đổi đường lối, thế lực còn có thể làm được. Tôi đến lúc sắp chết nghẹn lời không biết nói gì, chỉ ứa nước mắt trông về kinh mà mến tiếc, mong mỏi vô cùng mà thôi”.


Thảo xong tờ sớ, ông vào một chòi tranh nhỏ, xếp tất cả triều phục, ấn triện, 23 đạo sắc kèm theo tờ sớ chịu tội với triều đình, gói lại rồi gửi tàu Mẫn thoả về kinh. Đoạn ông bắt đầu tuyệt thực. Ba người con trai là Phan Hưng, Phan Liêm, Phan Tôn vàvợ con ngày đêm quỳ lạy khóc lóc xin ông ăn cơm. Nhịn đói mấy ngày, mắt hoa, tay chân bủn rủn, ruột gan như đảo lộn nhưng ông nhất quyết không chịu ăn. Người yếu hẳn đi, tưởng chừng không còn sức chống đỡ nữa. Tuy bề ngoài có vẻ lờ đờ, nhưng bên trong tinh thần ông vẫn minh mẫn. Tuân lời ông con cháu đã dẹp bỏ chén cơm đi nhưng sau đó lại đặt lên bên cạnh hy vọng lúc mê man ông không làm chủ được ý thức của mình, sẽ theo bản năng cầm chén cơm mà ăn chăng. Nhưng ông vẫn còn tỉnh táo, không chịu để cho cái đói cám dỗ mình làm điều trái với chí nguyện. Trước đây ông nghè Lý Trần Quán bảo người nhà đặt mình vào quan tài đậy nắp lại, cũng chỉ trong giây lát ngạt hơi mà chết, cái chết ấy còn nhẹ nhàng không đau đớn dai dẳng bằng việc ông nhịn ăn. Vì nhớ lời dạy của đức Thánh Khổng: “Thân thể, tóc da là của cha mẹ để lại cho ta, không được huỷ hoại làm cho thương tổn”, nên ông không tự thắt cổ, đâm cổ hay uống thuốc độc mà chỉ nhịn ăn cho đến chết dần, cốt để đúng với lời dạy của thánh nhân: “Cha mẹ sinh con toàn vẹn, con chết đi thân thể toàn vẹn, như vậy có thể gọi là hiếu”. Hễ nhà vua trị tội thì khó lòng giữ được thân thể toàn vẹn, có thể bị tội đồ thích chữ vào mặt hay đánh trượng đến tan xương nát thịt. Vua Tự Đức chẳng đã răn đe: “Ba tỉnh mà chưa lấy lại được, thì chỉ có pháp luật thôi, đừng hòng được toàn quy!” đó sao?


Mấy hôm nay, có tin từ Huế gửi vào: nhà vua truyền bãi chức Phan Thanh Giản và đục tên Phan trong bia tiến sĩ ngoài Huế để làm gương cho kẻ khác.


Tuyệt thực suốt 17 ngày vẫn không chết, nhưng đến lúc nghe tin này Phan bỗng ngất xỉu. Khi tỉnh dậy ông đau xót nghĩ: Chức tước là của vua ban, vua có quyền lấy lại, nhưng còn học vị tiến sĩ do ông đạt được bằng tài năng và sự chuyên cần của mình, dù quan chức có bị cáhc giắng, triều đại có thay đổi nhưng danh hiệu ông nghè vẫn dể lại trên bia đá và bia miệng ngàn thu. Nay vua lại nỡ xóa toẹt niềm tự hào cuối cùng của ông thì ông còn biết bấu víu bào cái gì để tự an ủi về cả cuộc đời mình, tự thanh minh về những năm tháng đã qua của mình. Càng nghĩ càng tủi hận, vao lúc nửa đêm mùng bốn rạng mùng năm tháng bảy năm Đinh Mão(1), ông trở dậy hòa dấm thanh vào á phiện để tự vẫn.


Thấy ông toan uống thuốc độc, Phan Hưng, Phan Liên và Phan Tôn đều khóc lóc can ngăn. Ông nói với các con:


- Cha đã quyết định lìa bỏ cõi đời, các con đừng can ngăn cha làm gì nữa. Cha mất rồi, các con hãy gìn giữ mấy bộ sách để lại, học hành, làm ăn, nhưng đừng lãnh một quan chức nào của nhà nước Lang Sa hết. Anh em phải ăn ở cho thuận hòa, phải thương mến quê hương cùng họ hàng thân tộc. Sau khi cha qua đời, các con hãy đem linh cữu về bổn quán gại làng Bảo Thành mà chôn bên phần mộ tiên nhơn. Còn tấm minh sanh thì giảm bỏ đi, nếu không giảm bỏ được thì chỉ được đề như vầy: “Đại Nam hải nhai lão thơ sanh tính Phan chi cữu”(2).


Dặn dò xong, Phan cởi đồ triều phục, chỉ mặc áo vải thường rồi trở mặt về hướng Bắc lạy vua năm lạy. Đoạn ngồi xếp bằng, tay bưng chén thuốc độc mà uống. Nhìn lại quê hương một lần cuối cùng, Phan rưng rưng hai hàng nước mắt từ giã cõi trần.


*


Nguyễn Thông đang quét hoa rụng ở trước thềm thì Nguyễn Giao đẩy cửa tre bước vào dẫn theo Bùi Hữu Nghĩa. Ông dừng tay đọc luôn hai câu thơ:


- “Hoa kính vị tòng duyên khách tảo. Bồng môn kim thuỷ vị quân khai”(3). Ngọn gió nào đưa ông Thủ khoa và anh Nguyễn Giao đến tệ xá thế này?


Bùi Hữu Nghĩa vui vẻ:


- Từ buổi hạnh ngộ đại nhân tại cuộc lễ khánh thành Văn Thánh miếu, tôi vẫn đem lòng kính mộ, ngặt vì cứ phải trốn tránh mãi nên đến bữa nay mới có dịp tới bái yết. Nếu không có anh Nguyễn Giao thì tôi đâu có biết đường tìm kiếm…


Nguyễn Giao kính cẩn:


- Bẩm thầy, gần đây thầy có được mạnh giỏi không ạ?


Nguyễn Thông mỉm cười:


- Cám ơn anh, tôi vẫn được như thường. Ông Thủ Khoa và anh có tin gì mới không?


Nguyễn Giao thưa:


- Bẩm thầy, con được tin tướng giặc vừa cho một chiếc tàu binh đưa linh cữu quan Phan về an táng tại quê hương Bảo Thạnh, lại ca ngợi quan Phan là người đạo cao đức trọng, cốt để mua chuộc dân ta…


Nguyễn Thông ngậm ngùi:


- Quan Phan tử tiết cũng là điều đáng thương, nhưng việc để cho giặc lợi dụng cái chết của ngài làm chuyện không hay lại là điều đáng giận.


Bùi Hữu Nghĩa hỏi:


- Tôi nghe nói các quan tỉnh đều được triệu về Kinh để đi nhận chức mới, chẳng hay đại nhân tính thế nào?


Nguyễn Thông đem ý định về Bình Thuận mộ dân khai khẩn đất hoang, từ đó lập căn cứ chống giặc lâu dài, kể lại cho hai người nghe. Nghe xong, Bùi Hữu Nghĩa trầm trồ:


- Đại nhân là quan văn nhưng khác người ở chỗ không chi khư khư ôm lấy túi thơ mà còn ôm cả túi kinh luân nữa. Dân ta sốn bằng nghề nông, do đó trước hết phải lo mở man nghề nông mới mong thực túc binh cường, đủ sức người sức của đánh giặc ngoại xâm. Đó chính là làm theo chính sách “ngụ binh ư nông”(1) của ông cha ta ngày xưa.


Nguyễn Thông cảm khái:


- Trước đây tôi nghĩ dẫu quan văn nhưng khi giặc đến phải ném bút cầm gươm, nên đã tình nguyện tòng quân vào Nam đánh giặc, noi gương ông Thị Lang Phạm Thế Hiển và ông Thị giảng Nguyễn Duy đều là tiến sĩ xuất thân. Nhưng đến khi Đại đồn thất thủ, quân ta tan vỡ, Nguyễn Duy ra sức chiến đấu, tử trận, thi thể biến dạng không nhận ra được, có người biết được dấu áo và đai cảu ông bèn lượm xác đem chôn tạm ở ngoài cửa đông thành Biên Hòa, còn Tham tán Phạm Thế Hiển bị thương nặng, về đến Biên Hòa được mấy hôm thì mất. Qua chuyện hai ông, tôi chợt nhận ra rằng: con người ta chỉ có dũng không chưa đủ mà cần phải có trí. Từ đó tôi đêm ngày lo nghĩ suy xưa ngẫm nay để tìm một phương lược cứu nước nào đắc sách nhất. Nước ta vốn lấy nghề nông làm gốc. Nhà nước muốn cất giữ lương thực hàng trăm vạn đều lấy ở nghề nông. Dân cày muốn đủ ăn quanh năm đều nhờ ở nghề nông. Gặp khi nắng hạn rồng đất cầu đảo không thiêng, ruộng đồng mất mùa, lấy gì nộp tô thuế, lấy gì cung cấp áo cơm. Vậy việc canh nông đối với quốc kế dân sinh thật là cấp thiết. Nước ta còn nhiều đất đai bỏ hoang, cần ra sức khai khẩn, lập ấp dựng làng, đào kênh đắp bờ, lấy nước tưới ruộng, như vậy mới có ích lợi cho dân. Dân có no mới đủ sức chống giặc. Vừa đồn khẩu vừa xây dựng căn cứ chống giặc, tiến đến có thể tiếp viện cho các cánh quân nghĩa dũng trong Nam, lui có thể thủ hiểm lâu dài, đó mới là kế vạn toàn vậy.


Nguyễn Giao nói:


- Thầy quả là người nhìn xa trông rộng, kiến thức mới mẻ hơn đời, gồm đủ trí, dũng, nhân, chúng con không thể nào theo kịp.


Bùi Hữu Nghĩa ngẫm nghĩ một hồi rồi nói:


- Theo thiển ý của tôi thì bây giờ đại nhân cứ về Bình Thuận lo xếp đặt công việc trước, chúng tôi ở lại đây đánh giặc, quấy rối chúng ở khắp nơi, kềm chân chúng không cho chúng tiến ra miền Trung để đại nhân đủ thì giờ xây dựng căn cứ. Khi nào cần liên lạc, chúng tôi xin cử người ra ngoài đó gặp đại nhân.


Bàn định xong xuôi, Bùi Hữu Nghĩa cáo từ ra về để Nguyễn Giao ở lại giúp đỡ thầy sửa soạn lên đường.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Thông Vọng Mai Đình. Rút từ Tuyển tập truyện Lịch sử của nhà văn Hoài Anh, Quyển XV. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








(1) Hoa dại sinh dưới bụi trúc. Trúc rậm hoa cũng nhiều. Hoa nhiều trở lại cười trúc. Xuân tới sao trúc không biết nói gì cả.




(1) Năm 1847.




(2) Năm 1851.




(3) Năm1862.




(4) Cỏ dại không trồng, cứ mọc quanh nhà. Hoa rụng vừa quét lại rơi đầy thêm.




(1) Sông la Ngư phát nguyên từ vùng đất hoang ở Bình ĐỊnh, Phú Yên, chảy qua Bình Thuận rồi cuối cung hợp lưu cùng sông Phước Long (Biên Hòa).




(2) Đều thuộc huyện Tánh Linh tỉnh Thuận Hải ngày nay.




 




 




(1) Năm1864.




(1) Năm 1867.




(2) “Quan tài của người học trò già họ Phan ở góc biển Nam kỳ”. Đây là phản ứng của Phan trước việc Tự Đức truất danh vị tiến sĩ của ông.




(3) Thơ Đỗ Phủ. Dịch: “Lối hoa không phải vì khách mà quét. Cửa bổng giờ bắt đầu mở là vì anh”.




(1) Việc binh nương cậy vào nghề nông.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »