tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20034159
Tiểu thuyết
12.03.2012
Hoài Anh
Nguyễn Thông Vọng Mai Đình

III- Mỗi khi việc quan rảnh rỗi, Phan Thanh Giản lại đến “Tụy văn lâu” đọc sách, làm văn. Trong con người làm quan của ông còn có một nhà thơ. Nhiều lúc thấy việc nước rắc rối quá, ông đã dâng sớ xin vua cáo lão hồi hưu. Nhưng vua Tự Đức không cho lại quở rằng: “Có cái kiến thức lão thành mà còn nói thế, định ùn trách nhiệm cho ai? Ba tỉnh chưa lấy lại được thì chí có pháp luật thôi, đừng nghĩ đến chuyện được toàn quy”… Thế là Phan lại đành phải giữ cái chức vị này để chịu cảnh trên đe dưới búa. Phan biết tính vua vui giận thất thường, nếu trái ý vua chắc sẽ bị tội nặng. Đời làm quan của Phan đã mấy lần bị cách giáng: Một lần Phan dâng sớ can vua không nên đi tuần hạnh Quảng Nam giữa lúc trời hạn, dân đói, bị Minh Mạng giận, giáng xuống làm lục phẩm thuộc viên ở tỉnh Quảng Nam, lo việc quét dọn bàn ghế ở chốn công đường. Một lần Tổng đốc Bình Định Vương Hữu Quang dâng sớ chỉ trích vở tuồng Quần tiên hiến thọ, mà Minh Mạng soạn chung với Nguyễn Bá Nghi, các quan Cơ mật xin vua chém đầu Vương Hữu Quang. Phan không chịu ký vào tờ sớ, lại tâu vua xin tha tội cho Vương. Minh Mạng giận Phan về chuyện bênh vực người đồng hương, giáng hạn xuống chức Thông chánh phó sứ. Nhiều lần khác, Phan cũng bị cách giáng như thế. Đã có kinh nghiệm đau xót về những lần bị trừng phạt trước đây. Phan tự nhủ mình đã ngoài bảy mươi tuổi rồi, cố sao làm quan cho được trót lọt, không nên trái ý vua để rước họa vào mình. Bản tâm Phan cũng cho rằng súng ống và chiến thuyền của Tây rất tinh xảo, mình không đủ sức chống lại được. Có chống lại cũng mất mà hao xương tổn máu nhiều, thà nhân nhượng để khỏi ai bị chết.


Bởi vậy, khi vào trấn nhậm Vĩnh Long, Phan đã ra cáo thị hiểu dụ rằng: triều đình đã giao hòa với Lang Sa, vậy dân chúng phải an cư lạc nghiệp, mở ruộng lập vườn, chuyên lo học hành, đừng nghe lời ai mà nghịch với họ. Nếu ai không tuân lệnh giải giáp mà cứ chống nhau với người Lang Sa thì sẽ bị tội nặng. Vậy mà nhiều người vẫn không chịu nghe, cứ toan gây hấn với họ. Khi đi sứ bên Tây, ông đã nhìn thấy sự giàu mạnh và khôn khéo của họ rồi. Khuyên dân hoài không được, Phan đành than thở bằng thơ:


Từ ngày đi sứ bên Tây kinh,


Thấy việc Âu châu phải giật mình.


Kêu rủ đồng bang mau thức dậy,


Hết lời năn nỉ chẳng ai tin!


Trong số những người không tin ấy, tiếc thay lại có cả những người ông từng quý mến như Nguyễn Thông, Bùi Hữu Nghĩa. Khi còn ở trong nội các, ông đã cùng viên Hàn lâm viện Tu soạn Nguyễn Thông và một số người nữa biên soạn Khâm định nhân sự kim giám. Biết Nguyễn Thông là người có tài lớn, nên khi hoàn thành bộ sách, ông tâu vua thăng cho Thông hàm Trước tác lang. Đến khi vào làm Kinh lược Nam Kỳ, gặp Thông, ông lại nhiệt thành đề cử Thông làm Đề học Vĩnh Long, và đối xử biệt nhỡn với Thông, nhất là sau khi đọc bài phú Thiệp giang. Nhưng đến nay chính Thông lại bất đồng ý kiến với ông! Còn Bùi Hữu Nghĩa cũng đi khắp nơi hô hào dân chúng đứng lên đánh Tây, trong khi ông đã từng giúp đỡ bà vợ Nghĩa thân oan cho chồng. Ông thầm nghĩ, thời thế đổi thay, những người mình từng giúp đỡ nay lại trở mặt chống mình. Thì nói đâu xa, chính Nguyễn Tri Phương là người bạn thân nhất của ông, người từng gửi cho ông bài thơ với những câu thiết tha mong nhớ: “Cá lại Long Giang hai ngả nước. Nhạn về Du Hợp một phương trời”, đến nay cũng đã lên án ông tại triều đình, cho là ông khiếp nhược đầu hàng trước ngoại bang. Cả hai đứa con trai ông là Phan Liêm, Phan Tôn cũng luôn miệng đòi phải đánh Tây. Bây giờ mình còn sống thì chúng không dám cưỡng lời mình, nhưng sau khi mình chết đi, biết chúng có chịu tuân lời nghiêm huấn hay không? Người ta thường nói “Dao sắc không gọt được chuôi”, thật là đúng! Đến con mình mà không nghe mình thì còn ai chịu nghe nữa.


Bỗng Phan thấy băn khoăn. Con mình còn đầu xanh tuổi trẻ chưa biết suy rộng nghĩ sâu không nói làm gì, ngay đến Nguyễn Tri Phương, vốn tính nóng nảy, thẳng thắn xưa nay, những người ấy đòi đánh Tây, ông còn có thể hiểu được. Còn Nguyễn Thông và Bùi Hữu Nghĩa là những người trung hậu, không bao giờ quên tình xưa nghĩa cũ, hẳn phải có một cái gì cao cả thiêng liêng hơn, họ mới đành lòng quay lưng lại với mình. Họ lại đều là những người từng trải, sâu sắc chứ không phải là hạng nông nổi, nhẹ dạ. Biết đâu việc họ một hai đòi đánh Tây lại không có cái lý của họ. Thế nhưng họ chưa được sang Tây như mình, chưa được thấy tận mắt sức mạnh của người Lang Sa, nên còn nuôi ảo tưởng là có thể chống lại một cường quốc ở Âu châu. Ông định bụng đi gặp Nguyễn Thông bỏ cái ý ngông cuồng đem càng bọ ngựa chống xe ấy đi. Ếch ngồi đáy giếng thấy bao nhiêu trời, có chống lại người Tây, chung quy cũng là công dã tràng xe cát!


Trên đường đi, lòng Nguyễn Thông rối bời. Mới sáng nay, ông nhận được bức thư của bạn là Tam nguyên Trần Bích San gửi từ Bình Định vào, trong đó có một bài thơ:


Điểu đề hoa tiếu bán song hư.


Đế lý phong quang lạc hữu dư.


Cử mục Mai Sơn thiên lý viễn,


Kim triêu xuân sắc cánh hà như?(1)


Đến một người đang ở nơi xa mà còn có lòng nhớ đến chùa Cây Mai ở Gia Định đang bị giặc chiếm, huống hồ mình đang ở trong Nam. Bài thơ so sánh hai cảnh xuân ở hai nơi: ở Kinh vẫn vui chơi phè phỡn, không nghĩ gì đến ba tỉnh miền Tây đang sống đau thương quằn quại dưới gót giực. Đến nhà vua là người có trách nhiệm chăn dân trị nước, vậy mà giữa lúc nước sôi lửa bỏng, vẫn hằng ngày đi ủng, xách khẩu súng bắn chim do Tây tặng sang bên Thuận Trực săn bắn. Có đêm ngủ lại đó không về, đến nỗi Thái hậu Từ Dũ phải sai Nguyễn Tri Phương đem quân đi tìm. Vua lại xây Khiêm lăng làm nơi an nghỉ cuối cùng, bắt dân phu phục dịch vất vả khổ cực đến nỗi họ phải nổi dậy tìm giết tên đốc công Biện Chất để trả thù, từ đó sinh ra vụ giặc Chày Vôi khiến kinh thành náo động.Nguyễn Tri Phương, Võ Trọng Bình, Trần Tiết Thành, Phạm Phú Thứ dâng sớ xin vua giảm bớt đi chơi, không nên xây dựng cung điện lăng tẩm nhiều để đỡ hao tổn sức dân, nhà vua trả lời: “Các bậc đế vương, tuyệt không vui chơi, khó lắm, chỉ không dám bừa bãi mà thôi. Việc làm từ trước đến nay, đã biết lãng phí nhiều, nhưng không nửa chừng thôi được”. Thế là nhà vua vẫn cứ chơi bời, thúc giục xây lăng cho chóng xong, khi Khiêm lăng làm xong lại tự tay soạn bài Khiêm lăng ký để dùng lời lẽ thanh minh lầm lỗi của mình.


Nguyễn Thông biết nếu mình nói đến lầm lỗi của vua sẽ bị Phan Thanh Giản phản đối, vì Phan vốn là một bầy tôi rất mực trung quân. Chả trách Trần Bích San khi được vua cử trấn nhậm Vĩnh Long đã từ chối vì biết mình không thể làm việc được với quan Kinh lược. Trần Bích San không có quan hệ riêng gì với Phan mà còn không muốn đụng độ với ông ta, huống chi mình chịu ơn Phan tiến cử. Mình công nhiên chống lại Phan, ắt ông ta sẽ cho mình là kẻ vô ơn bạc nghĩa. Nhưng nếu vì chút tình riêng mà bỏ nghĩa lớn thì sao phải đạo làm người. Lòng Nguyễn Thông cứ day dứt hoài vì buộc lòng phải làm trái ý người đã hậu đão mình.


Bước lên lầu, Nguyễn Thông chắp tay vái:


- Kính lạy cụ lớn Kinh lược.


Phan Thanh Giản nhìn ra:


- Kìa, quan Đề học, tôi đã nói rồi, khi tới lầu, hai ta là bạn văn chương thanh khí, đừng câu nệ lễ tiết làm gì. Tôi chỉ muốn cùng ông làm đạo thơ văn mà thôi. Gần đây ông có giai tác mới nào không?


- Dạ, vừa rồi ông Bố chánh Nhã có mời tôi sang xem hòn giả sơn của ông và bảo tôi làm một bài thơ để ghi lại kỷ niệm.


- Ông có thể cho tôi nghe những lời châu ngọc được không?


Hôm trước Nguyễn Thông sang thăm ông Bố Nhã, thấy ông đang cặm cụi sửa cây trong vườn. Ngọn giả sơn lớn đặt giữa một bể nước có thả cá vàng là một kỳ quan, một thế giới xưa và nay thu nhỏ. Thế núi giống một con sư tử đang vờn quả cầu, mỗi mỏm đá có những lối đi qua các đèo dốc hiểm trở, trập trùng, dưới những vách đá chênh vênh, cao ngất, bên những khe sâu thăm thẳm vào các hang, các động… mỗi chỗ đều có gắn các con giống, ngọn tháp, những mái đền chùa, những chiếc cầu xây theo từng chuyện tích cũ. Đây là Trương Lương đốt đường sạn đao, kia là Hàn Tín một mình cưỡi ngựa và đất Hán Trung. Ông Lã Vọng ngồi câu dưới khóm trúc, Tử Kỳ cúi nhìn dòng nước nghe Bá Nha gảy đàn. Nào người gánh củi, người gánh cá. Nào người cày ruộng, người dệt vải. Mấy ông tiên đang đánh cờ. Ninh Thích ngồi trên mình trâu thổi sáo… Những điển cố cổ kim đã được lựa chọn và sắp xếp vào từng chỗ thích hợp trên hòn non bộ.


Trên ngọn giả sơn bắc một giàn thiên lý. Cột giàn là những thân cau già, những cây tre đực vừa thẳng vừa nhỏ làm ruỗi. Mặt giàn và bốn góc được đan và buộc riềm bằng những tấm phên mắt cáo có cài hoa thị. Ở những đầu cột, dưới những ruỗi ngang treo những trái dừa khô, những khúc gỗ mục trồng khô mộc, thài lài và bốn năm cái lồng chim rất đẹp nhốt những con họa mi, khướu, yểng, bạch yến.


Trong giàn, bên hòn giả sơn, có mấy hàng chậu hoa và cây cảnh. Những chậy ngâu được uốn tỉa thành hình những con hạc đứng trên mình rùa. Những cây si cây sanh kết lại chẳng khác những con phượng đang múa. Cây tùng này là hình tượng một con gà đang nghểnh cổ, vươn mình và co chân đứng theo thế kim kê độc lạp. Các cây ruối kia uốn lại với nhau thành hai con rồng giành nhau hòn ngọc, theo thế Lưỡng long tranh châu… Những chậu hoa và cây cảnh nhỏ được đặt trên những chiếc đôn Giang Tây, kê lẫn với những con nghê, con voi lớn, bằng sứ trắng sơn xanh hoặc trắng nhẵn bóng. Ngoài những chậu trồng các giống hoa rất hiếm và quý như các loại hoa lan, trà, trên những chậu hoa ấy còn cấy thêm các khóm cúc đại đóa, bạch mi, cúc tím cúc vàng, các khóm hồng, khóm huệ trổ đầy các bông to đẹp.


Thấy giữa lúc Tây đang uy hiếp thành trì, một vị quan đầu tỉnh như Nguyễn Văn Nhã chỉ quanh quẩn bên hòn non bộ, trong khoảnh vườn hoa và cây cảnh thu nhỏ, Nguyễn Thông bỗng thấy trong lòng dấy lên một niềm phẫn nộ. Thấy Nguyễn Thông chăm chú nhìn mình sửa cây, Nhã đắc ý giảng cho ông nghe:


- Quan bác không biết chứ, cái nghề chơi cây cảnh cũng công phu lắm. Cây phải nhiều cảnh, có đủ tiền hậu tả hữu. Cành phải lạp chính(1) có đủ tế nhân(2) tẩm thủy(3). Cây sửa theo từng thế, nao hạc lập thuộc loại cây trực, nào long giáng, phương vũ, xà leo. Sửa mai thì theo dáng mai bò gọi là dáng hoành. Lại còn phải sửa tán, cây ba tán gọi là tam đa, năm tán là ngũ phúc, một ngọn một cành gọi là lão mai sinh quý tử. Cây phải sửa dược đông cảnh, trông ra cảnh mùa đông thì mới đẹp. Về mùa xuân cành lá rậm rạp che đỡ cho nhau nên dễ đẹp, còn mùa đông cây xương xẩu xơ xác, cho nên phải chọn được cây có dáng đẹp. Càng đơn giản thì lại càng khó sửa hơn, ví như đóng tủ trơn khó đẹp hơn lằng nhằng cành nho con sóc. Ngoài ra còn những cách thức sửa bụi như sửa mai, sửa cây song thụ như hai cây thông chầu nhau phải đo trên dưới bằng nhau, tán đều nhau thì mới đẹp. Trông thân cây dáng gì phải trồng theo dáng ấy, như trúc là loại cây trực bao giờ cũng phải trồng thẳng. Có loại trực nhưng trực xiên, phải làm sao cây xiên mà vẫn có cái thẳng, chẳng hạn thân xiên nhưng ngọn chạy lại giữ thăng bằng, nếu không sẽ thành cây gió xiên bão đổ chứ không phải nghiêng theo tự nhiên. Chọn cây về trồng thì cái gốc là can hệ nhất, phải chọn những gốc già giặn, có thế mới ra cổ thụ…


Chừng nói luôn một hồi đã mệt, Nguyễn Văn Nhã phải nghỉ lấy hơi. Nguyễn Thông được dịp nói chen vào:


- Vâng, tôi cũng biết cái gốc là can hệ nhất, gốc có vững cây mới bền, cũng tỷ như nước phải lấy dân làm gốc…


Nguyễn Văn Nhã vội gạt đi:


- Thôi chuyện quốc gia đại sự để khi khác hãy bàn. Nghe nói quan bác là người có tài văn chương xuất chúng, đến cụ lớn Kinh lược là bậc thi bá mà còn phải tấm tắc khen bài phú Thiệp Giang của quan bác: “Lời lẽ bi hùng nghe phảng phất hơi văn Ly tao của Khuất Nguyên. Quan bác có thể làm cho tôi một bài thơ vịnh ngọn giả sơn này để ghi lại kỷ niệm giữa hai chúng ta được hay không?


Từ chối mãi không được, Nguyễn Thông hạ bút đề một bài thơ.


Lúc này thấy Phan Thanh Giản đòi nghe, Nguyễn Thông thưa:


- Dạ, tôi xin đọc hầu cụ lớn, và xin cụ lớn phủ chính cho.


Rồi Nguyễn Thông cất giọng đọc:


Thái Hồ quái thạch thiên hạ kỳ


Viễn tại ba để long cung giao thất vạn trượng chi liên y


Yêu căng trầm thủ bách ức nãi nhất tri


Quyền ác túc để thiên kim ty


Công tùng hà xứ đắc lỗi a


Vô nãi quý vật phiền thôi đi


Thiên bài địa thiếp nhập chướng ác


La Phù Bồng Kiệu lai khâm kỳ


Tiên hoa dị huỷ túc bách tộc


Phàm bối phân phân tri giả thùy


Hà niên sơn ông hóa vi thạch


Tùng hạ cu cốt nghi an kỳ


Phi tuyền bách dạo quải thạch cự


Tri hữu bộc bố vô do khuy


Hưng vân xuất vũ tự hữu đãi


Minh song tịnh kỷ thiên tương nghi


Hư đình vũ tễ nhật quang lậu


Trúc thạch thảm đạm hàm u ty


Hô bằng trí tửu tứ đang lãm


Hoảng hốt Vương Mẫu thương Dao Trì


Thiên Thai Xích Thành khoa danh sơn


Duyên u lịch thắng thạch kính nan


Khoa giả bách kế doanh tiền sơn


Thanh đồng vạn nhận không toàn ngoan


Công sơn tuy tiểu cụ thanh chí


Đãn khả ngưỡng chỉ bất khá phàn


An đắc Dương công Nghiễn sơn nhất phiến thạch


Vi công soạn khắc lưu sàn nhan.(1)


Đọc xong, Nguyễn Thông kính cẩn:


- Xin cụ lớn phẩm bình giùm cho bài thơ quê kệch của tôi.


Phan Thanh Giản vầng trán cau lại:


- Bài này ngôn từ diễm lệ, ý tứ thanh kỳ, quả là một áng thơ hay. Chi vì đoạn cuối hàm ý phúng thích nên không đạt đến chỗ trung hậu nhã đạm của người xưa.


Nguyễn Thông giật mình. Phan đọc thơ quả là tinh, không ai có thể giấu ông ta được điều gì. Nhớ lại bữa ấy, Nguyễn Văn Nhã nghe bài thơ của Nguyễn Thông lấy làm thích thú, cho đóng khung bài thơ có nét chữ Nguyễn Thông treo ở giữa nhà để khoe khoang với khách, mình được một danh sĩ như Nguyễn Thông ca ngợi. Nhưng Phan nghe thơ thì lại bảo là có ý phúng thích, quả là có kiến giải khác thường. Cũng như bài Trường hận ca của Bạch Cư Dị, các tập thi tuyển của Trung Quốc từ trước đến nay đều xếpvào loại thơ tình sử, nhưng Phan bác đi cho đó là loại thơ phúng thích, nhằm chế giễu Đường Minh Hoàng mê đắm Dương Quí Phi bê trễ việc nước đến nỗi cơ nghiệp nhà Đường suýt tan tành. Nguyễn Thông thấy Phan quả là sành sỏi về thơ, mình tôn ông làm thầy về nghề thơ quả là xứng đáng. Khi đọc bài Thiệp giang phú của Nguyễn Thông, đến những câu: “Vãng giả bất khả gián hề, lai giả do khả truy. Biên đạo đức vi ngô hàng hề, giá lễ nghĩa vi ngô tường”(1), ông đặt sách xuống ngấn người ra một hồi rồi nói: “Trước đây ta tưởng rằng trên đời này không ai có thể nối gót được Khuất Nguyên, giờ mới biết là ta đã lầm. Ông quả là chim Anh Vũ trong các loài chim, ngựa Kỳ Ký trong các loại ngựa”. Nhưng khi đọc đến câu: “Lăng bách thị hề uông dương” và “Siêu thanh trọc hề Thương Lang”(2), ông cau mặt: “Mấy câu này lại thiếu cái ý khiêm tốn của kẻ hậu sinh đối với bậc tiền bối”. Thông biết rằng Phan khen chê đều xuất từ ý nghĩ thành thực trong lòng, chứ không hề tâng bốc hay dìm nén ai. Mình chế giễu ông Bố Nhã về chuyện mê thú chơi non bộ cây cảnh, có khác gì chế giễu Phan mê thú chơi văn chương trong lúc nước nhà hữu sự. Phan không bằng lòng là điều tất nhiên. Dầu sao Nguyễn Thông vẫn còn áy náy. Một người biết tài mình, đã tiến cử mình lên chức Đề học lại đánh giá cao thơ văn cảu mình, đó vừa là ân nhân, vừa là tri kỷ, vậy mà bây giờ mình buộc lòng phải chống lại ông ta, cảnh ngộ mới éo le làm sao. Nhưng Nguyễn Thông lại nghĩ: Quan Nguyễn Tri Phương và Phan là hai người bạn chí thiết bao nhiêu năm, mà cuối cùng Nguyễn cũng bất đồng ý kiến với Phan, công kích Phan giữa triều đình, huốn hồ chỉ là mình. Ông đắn đo:


- Bẩm cụ lớn, người dạy…


- Mấy câu cuối ông nói hòn giả sơn của ông Bố Nhã chỉ có thể ngắm chứ không thể vịn trèo, có phải ám chỉ ông Bố chỉ có vẻ ngoài mà không làm được việc gì hữu ích hay không? Còn nói muốn có phiến đá ở núi Nghiễn Sơn để ghi công ông Bố Nhã như công đức ông Dương Hỗ thời xưa, so sánh như vậy chẳng phải chế giễu là gì!


- Bẩm, đó chẳng qua là mượn điển chứ không có ý gì khác đâu ạ.


- Ông đừng giấu tôi nữa. Bản tâm ông thế nào tôi đã rõ. Ông không bằng lòng ông Bố và các quan khác ở chỗ họ muốn hòa với Tây. Tôi biết ông có lòng trung với nước, nhưng ở đời phải có thời, có thế lại phải có lực mới đương nổi việc lớn. Tôi đã sang sứ bên Tây tôi biết, mình không thể chọi được với tàu to súng lớn của họ. Ở kinh đô Ba Lê, tôi đã nhìn thấy nước chảy ngược lên trời, đèn chúc đầu xuống đất, không cần dầu cần lửa mà vẫn sáng, thôi thì đủ thứ văn minh kỳ quái. Tôi đã phải thốt ra hai câu thơ: “Bá can xảo kế tề thiên địa. Duy hữu tử sinh tạo hoá quyền”(1). Mình chọi với họ chẳng khác nào trứng chọi đá. Chi bằng hòa với họ để cho dân đỡ khổ.


- Cụ lớn cho rằng hòa với họ thì dân đỡ khổ, nhưng ở trong vùng họ chiếm đóng, dân có đỡ khổ chút nào không, hay vẫn bị giặc chém giết, cướp bóc, nay bắt nộp thuế, mai bắt đi xâu. Mình hòa mà giặc cứ lấn, mai mốt ba tỉnh miền Tây rơi vào tay giặc thì liệu dân trong miền…


Bùi Hữu Nghĩa cảm động:


- Không ngờ ông lại có tấm lòng trượng nghĩa như vậy. Cái ơn này tôi xin ngậm vành kết cỏ, mong có phen báo đáp…


Biết ông Xuân là người có lòng yêu nước, nên Bùi Hữu Nghĩa đem việc chiêu mộ nghĩa quan ra bàn. Nguyễn Giao cũng nói thêm vào nên cuối cùng ông Xuân đã bằng lòng xuất tiền ra mua sắm khí giới, tích trữ lương thảo để dùng khi hữu sự.


Một bữa khia, ông Xuân trở về mặt mày hớn hở nói với Bùi Hữu Nghĩa:


- Vừa rồi có quan huyện cho mời tôi lên biểu là nhờ có quan Kinh lược can thiệp, quan Tổng đốc đã bãi bỏ lệnh lùng bắt Thủ khoa Nghĩa. Từ nay ông có thể đi lại tự nhiên rồi.


Bùi Hữu Nghĩa vui mừng:


- Chắc là nhờ ông chánh quản cơ Lê Cẩn nói giùm với quan Kinh lược nên mới được như vậy. Ước gì ta được gặp ông ấy ở đây để cùng bàn việc tụ nghĩa.


Nguyễn Giao cũng hồ hỡi:


- Nếu có anh Lê Cẩn ở đây thì lo gì việc lớn chẳng thành.


*


Nghe tiếng lục lạc vang lên, tất cả bộ hành, xe nghựa võng cáng đều dạt sang hai bên đường nhường cho người lính trạm phóng ngựa chạy qua. Người ấy tay cầm đoản côn, trên cổ dắt hỏa bài – một miếng gỗ rộng bằng hai bàn tay hình chữ nhật đứng, sơn trắng xung quanh có nẹp đỏ, cán sơn đỏ – vai đeo ông công văn, bên cổ ngựa đeo một lồng ấp bằng than hồng bỏ lông gà vào trong, khói bay tung lên. Lính trong làng trông thấy hiệu khẩu cấp, vội mở cửa thành cho vào. Con ngựa chạy đường xa đã mệt lửa, bờm và lông ướt đầm mồ hôi. Viên quan giữ cửa thành vội đưa người lính đã kiệt sức vào trạm nghỉ, rồi giao ống công văn cho một người khác mang tới dinh Kinh lược.


Được tin có chiếu chỉ tới, quan Kinh lược họ Phan vội bay hương áng tiếp đón. Thắp xong một tuần hương và lạy năm lạy trước hương án, Phan mở ống công văn, rút từ trong ra một tờ giấy màu vàng lợt có thủ bút và ấn son của nhà vua. Cầm tờ chiếu vái một vái, Phan giở chiếu ra đọc.


Trong chiếu, vua Tự Đức sai Kinh lược Nam kỳ và tỉnh thần bà tỉnh dò xét, nếu có Thiên hộ Dương và những ngời tòng quản lét lút ẩn náu trong hạt, phải bắt ngay giao cho người Tây, nếu không thì tư cho chủ soái của họ tự mình bắt lấy. Còn Trương Tuệ(1) chỉ là một người trẻ tuổi, không bì được với cha là Trương Định, nếu ngấm ngầm giúp đỡ cho hắn, lại e sinh chuyện, nên dẹp bỏ việc ấy. Việc giao thiệp với người Tây, nên đi lại nhắc nhở, dùng lời khéo léo, khiến cho họ nghe theo, chuộc lại được ba tỉnh là nhất, người Tây có xin buôn bán ở tỉnh nào cũng cho, không thì đổi trả tỉnh khác để cho tiện liên lạc với nhau là thứ nhì, hoặc chịu thêm thuế là thứ ba, làm thế nào cho có ích lợi yên ổn lâu dài. Nên châm chước, nhường nhịn, cốt được hòa bình, không nên gây hấn với họ. Từ nay có trông thấy, nghe tiếng là trù tính việc gì, đều phải tâu vô Kinh, không được tự tiện định đoạt.


Đọc xong, Phan thở phào. Ý của vua là điều đình với Tây để chuộc đất chứ không được chống lại họ, cũng không được ngấm ngầm tán trợ cho nghĩa sĩ nghĩa dân chống giặc. Đến Thiên Hộ Dương và Trương Tuệ mà còn không được nhà vua chấp nhận thì việc một thêm dân binh ở ba tỉnh miền Tây làm sao có thể cho phép được.


Tuy vậy, suốt đêm Phan vẫn trằn trọc không yên giấc. Nếu như người Tây có thể chĩa súng bắn vào thành thì lòng căm hờn của dân đối với giặc cũng lại là một lò thuốc súng không biết bùng nổ lúc nào. Phan như bị ép giữa hai gọng kìm, cảm thấy tiến thoái lưỡng nan.


Sáng tinh sương, Phan chợt nghe dưới sông dường như rộn rịp, dân tình gọi nhau ơi ới, tàu của Tây dường như nổ máy khi xa khi gần. Ông giựt mình.


Bỗng tên lính hầu vào dâng một bức thư gắn xi. Ông mở ra đọc, thì nó là thư của tên nguyên soái Lang Sa mời ông xuống tàu của chúng để thương thuyết. Ông cau mày, truyền:


- Bay đi mời các quan hầu tỉnh tới nghị sự, nghe!


Lát sau, Tổng đốc Trương văn Uyển, Án sát Võ Doãn Thanh, Đề học Nguyễn Thông và Lãnh binh Huỳnh Chiêu đã về tựu.


Đợi mọi người yên vị, Phan Thanh Giản trịnh trọng:


- Nay tên nguyên soái Phú Lang Sa mời ta xuống tàu thương thuyết, ta nên xử trí ra sao?


Nguyễn Thông nói:


- Bẩm cụ lớn, ty chức thiết nghĩ, người Tây là quân cướp nước, tâm địa của chúng thật khó lường, ta khinh xuất xuống tàu e xảy điều bất trắc.


Võ Doãn Thanh mềm mỏng:


- Bẩm, triều đình vẫn căn dặn ta phải ráng giữ mối giao hảo với người Tây. Họ mời mà ta không tới, họ sẽ có cớ trách được ta. Chi bằng cứ gặp họ nói phải trái, hỏi sao lại vô cớ đem thêm tàu chở khí giới tới trước thành ta. Nếu họ không nghe thì phần lỗi là về họ…


Nguyễn Thông bực tức:


- Bẩm cụ lớn và các quan, giặc đem tàu chở khí giới tới uy hiếp thành trì, vậy là dã tâm của chúng đã lộ ra rồi. Ta khôn cần thương thuyết với chúng mà nên sẵn sàng phòng bị, nếu chúng giở trò gì là đối phó được liền…


Trương văn Uyển không khéo:


- Bẩm cụ lớn, người Tây chưa hề động binh đánh mà ta đã kình chống với họ, nhỡ họ nổi giận đánh thành thật thì sao? Ta cứ nên xuống tàu thương thuyết đã, nếu họ quyết ý đánh ta, lúc ấy ta hãy đối phó lại, như vậy lẽ phải vẫn thuộc về ta…


Huỳnh Chiêu phụ họa:


- Quan Tổng đốc nói rất đúng. Xin cụ lớn cứ bình tâm xuống tàu, bọn tôi sẽ đi xem xét việc củng cố hào luỹ chuẩn bị khí giới để phòng khi nguy cấp.


Phan Thanh Giản đang ngần ngừ thì Bố chánh Nguyễn văn Nhã từ ngoài chạy vào, nói lớn:


- Bẩm, ty chức đã ra quan sát thấy binh thuyền Lang Sa gồm mười sáu tàu chiến chở ngót hai ngàn lính thủy và pháo thủ cùng mấy trăm phu phen đã mai phục trước cửa thành rồi. Họ dùng cách tiên lễ hậu binh(1), nếu mình không chịu thương thuyết, họ nã đại bác vào thì tan nát hết. Xin cấp báo! Cấp báo!


Phan Thanh Giản đứng dậy:


- Tình thế này ta đành phải xuống tàu tranh biện với họ mới xong. Quan Án đi với tôi, còn các quan ở lại giữ thành, chờ tôi về sẽ có cách khu xử.


Rồi Phan Thanh Giản vào phòng riêng phẩm phục, mũ văn công, mãng bào thêu rông ba móng, thắt đai ngọc, đi hia đỏ cùng Võ Doãn Thanh ra đi.


Hai chiếc cáng che mành cánh sáo tiến ra lối cửa Tiền. Tới bờ sông Cổ Chiên, Phan vén mành mành nhìn ra thấy mười sáu tàu cheíen \sHai chiếc cáng che mành cánh sáo tiến ra lối cửa Tiền. Tới bờ sông Cổ Chiên, Phan vén mành mành nhìn ra thấy mười sáu tàu chiến Lang Sa đậu giăng hàng trên sông. Phan sai lính hầu tới chỗ chiếc tàu đậu gần nhất báo cho phía Lang Sa biết sứ giả Nam triều đã tới.


Bỗng một hồi kèn dưới tàu lanh lảnh cất lên. Một chiếc xà lúp từ tàu ghé vào bờ, đón hai quan Nam triều xuống rồi chở ghé sát mạn chiếc tàu lớn nhất. Cầu tàu được hạ xuống cho hai người trèo lên. Một toán lính hầu sắp hai hàng trên boong tàu, bồng súng vào trong tiếng kền “la vầy” inh ỏi.


Tới gần khoang chỉ huy trên soái hạm, tên trung uý hầu cận radấu cho hai quan Nam triều dừng lại. Từ trong khoang, Đờ-la Gờ-răng-đi-e tươi cười bước tới, ngã mũ chìa ra chào. Phan Thanh Giản và Võ Doãn Thanh cúi chào đáp lễ.


Đờ- la Gờ-răng-đi-e là tên nguyên soái Lang Sa mới sang thay Bô-na. Quan thầy của y là Ri-gô Đơ Giơ-nui-y kẻ đã từng chỉ huy đánh Đà Nẵng và Gia Định trước đây, mới được thăng làm Thượng thơ Bộ Hải quân và Thuộc đại Lang Sa, hết sứ ủng hộ y trong kế hoạch đánh chiếm toàn xứ Nam Kỳ. Được sự hậu thuẫn lớn lao ở chánh quốc, y càng vững tâm hơn trong việc bắt ép triều đình Huế giao nốt ba tỉnh.


Đờ-la Gờ-răng-đi-e có hai nạm râu bạc ở hai bên má, lại một chòm dưới cằm, nên được kêu là đô đốc Bạc má. Y mặc binh phục bằng nỉ xanh sậm, giữa có một hàng nút áo, hai bê hai ngù vai vàng, ngực đeo bội tinh, huy chương, lưng thắt dây đeo kiếm có tua kim tuyến. Nét mặt đầy vẻ ngông nghênh tự đắc, y nheo cặp mắt soi mói ranh mãnh nhìn hai vị quan Nam triều như để đo lường thái độ rồi nói:


- Bữa nay, bản chức thay mặt cho Soái thủ nam kỳ mời các ngài tới bàn về việc giao tỉnh Vĩnh Long cho người Lang Sa.


Phan Thanh Giản ngạc nhiên:


- Thưa ngài, trong hòa nghị Nhâm Tuất mà hai nước Tây – Nam ký kết làm gì có điều khoản ấy?


Đờ-la Gờ-răng-đi-e giọng đe dọa:


- Tôi không hiểu sao đã ký hòa ước rồi mà các ông vẫn dung túng cho bọn làm nghịch chống lại người Lang Sa?


Võ Doãn Thanh nói:


- Xin ngài cho biết chứng cớ?


Đờ-la Gờ-răng-đi-e cười nhạt:


- Chứng cớ à? Thì mới đây Thiên Hộ Dương ở Tháp Mười vừa đánh vào Cái Bè, Mỹ Quý, Cái Thia. Trương Định tuy đã chết rồi nhưng Trương Quyên con y vừa dấy loạn ở Củ Chi, lại liên lạc với tên sư Cao Miên Pu Cầm Bô chống lại với Nô Rô Đôm và người Lang Sa. Các ông chẳng những không ngăn cản lại còn ngầm trợ giúp bọn chúng…


Vừa nói, Đờ-la Gờ-răng-đi-e vừa giương cặp mắt xanh lè nhìn thẳng vào hai qua Nam triều để uy hiếp. Y biết thóp của các vị quan này, cứ đánh đòn phủ đầu thiệt mạnh là họ phải chùn. Thấy đối phương hơi biến sắc, y lại càng làm già:


- Hiện nay, bọn làm nghịch cứ đem quân đánh thọc vào ba tỉnh miền Đông, xong lại rút về ba tỉnh miền Tây một cách an toàn. – Y xòe rộng hai bàn tay ra hai bên. – Cứ để nghuyên cho các ông cái quản ba tỉnh miền Tây có khác nào nuôi cái nhọt bọc hay không? Nhiệm vụ của chúng tôi là phải trừ bỏ mối họa ở cạnh nách để bảo đảm an ninh cho những miền đất thuộc quyền người Phú Lang Sa.


Phan Thanh Giản bực bội:


- Các ông chỉ viện cớ để vi phạm hòa ước Nhâm Tuất mà thôi. Chúng tôi đã ráng hết sức mình, ra lệnh cho nghĩa binh không được xâm phạm đến ba tỉnh miền Đông, để giữ mối giao hảo với người Phú Lang Sa. Đến các ông có binh lực hùng hậu trong tay còn không ngăn cản được họ, huống hồ chúng tôi. Ngay cả công việc của hoàng gia Cao Miên mà các ông cũng trách cứ ở chúng tôi thì lạ thiệt!


Đờ-la Gờ-răng-đi-e vừa đưa mắt nhìn lên boong tàu vừa nói:


- Người Phú Lang Sa có toàn quyền trong việc tự bảo vệ lấy mình. Chính các ông mới là người vi phạm hòa ước Nhâm Tuất.


Phan Thanh Giản gay gắt:


- Thì chính việc các ông đem tàu chở khí giới đến trước thành là chứng cớ sờ sờ việc vi phạm hòa ước…


Trong lú ấy, các tàu chiến khác của Lang Sa đã tiến nhanh về phía bờ thành và nhanh nhẹn đổ quân lên bờ. Những khẩu trọng pháo được kéo tay dàn ả trước mặt thành.


Rồi một đoàn quân Lang Sa từ hai bên khoang tàu tiến vao, bao vây phía trước phía sau Phan Thanh Giản và Võ Doãn Thanh, súng ống lăm lăm trong tay. Đờ-la Gờ-răng-đi-e giở mặt, hăm dọa:


- Cuộc thương thuyết dưới tàu không thành, xin mời hai ngài vào thành ta sẽ bàn tiếp.


Đờ-la Gờ-răng-đi-e vừa dứt lời, một võ quan Lang Sa nắm lấy cánh tay Phan Thanh Giản ra vẻ như để dìu ông già hơn bảy mơi tuổi bước qua bậc cầu tàu lên bờ. Võ Doãn Thanh cũng bị một võ quan khác xốc nách như thế. Tất cả bọn chúng, quan và quân, vũ trang đầy đủ, đi theo sau lưng Đờ-la Gờ-răng-đi-e và hai quan Nam triều, tiến vào thành như một tổ ong và chia từng toán trấn giữ các nơi.


Trương văn Uyển và Huỳnh Chiêu đang chờ phái bộ trở về xem cuộc thương thuyết ra sao rồi mới tìm cách đối phó. Lúc này họ đang đứng trên vọng lâu quan sát thấy dường như hai quan ta đã bị bắt làm tù binh và tên soái Lang Sa dẫn họ vào thành cùng với quân đội của chúng. Biết xử trí ra sao khi thấy phái bộ cùng đi vào với quân Lang Sa? Nếu nổ súng chặn lại, e thiệt mạng lây đến hai vị quan to. Phan Thanh Giản là vị quan cao cấp nhất, có tất cả mọi quyền hành. Vả chăng họ cũng chưa biết kết qủ cuộc thương thuyết. Thế là Trương văn Uyển đành thiêu huỷ tất cả mọi tài liệu mật rồi ra cửa thành xem tình thế.


Vừa tới trong thành, sau khi quân Lang Sa đã canh gác bên ngoà.Đờ-la Gờ-răng-đi-e hạ lệnh cho Phan Thanh Giản nộp thành. Một khi giặc đã lọt vào nhà, kháng cự làm sao được. Phan Thanh Giản đành phải nhận lời tạm giao thành trì, nhưng chỉ xin Tây đừng quấy nhiễu dân chúng, đừng vội chiếm kho tàng để ông tạm quản, đặng ông tính trả một năm bồi thường chiến phí.


Đờ-la Gờ-răng-đi-e nhận lời, nhưng bắt ông phải viết thư cho hai quan tỉnh An Giang, Hà Tiên cũng nộp thành, gọi là để tránh sự đổ máu vô ích.


Lúc này Phan Thanh Giản mới hối hận, biết mình mắc mưu kẻ địch thì đã muộn. Nước cờ đã lỡ, từ nay ông chỉ còn là một quân cờ trong tay đối thủ. Thành Vĩnh Long đã mất, có thể cả An Giang, Hà Tiên cũng mất theo, còn biết ăn nói sao với triều đình. Ông lờ mờ cảm thấy cái tội của mình quá lớn lao, không phải chỉ với hiện nay mà hình như với cả hậu thế.


Viết xng bức thư cho hai tỉnh An, Hà, ông quăng vội bút, không dám nhìn lại tờ giấy nhục nhã kia nữa. Có phải đó là bức văn tự bán đứt cả sự nghiệp, danh dự, tương lai mà ông đã thò bút ký tên hay không. Ông thấy chóng mặt, ù tai, hai mắt đổ đồng quang nhìn thấy trời đất quay cuồng rồi tối sầm trước mặt.


Còn Đờ-la Gờ-răng-đi-e thì cứ đắc chí cười mãi. Thế là không tốn một viên đạn mà chúng lấy được phần lớn của cải cả vùng Hậu Giang tập trung trong thành Vĩnh Long.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Thông Vọng Mai Đình. Rút từ Tuyển tập truyện Lịch sử của nhà văn Hoài Anh, Quyển XV. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








(1)     Dịch: Hoa cười chim hót song thưa,


 Kinh đo quang cảnh có thừa yên vui.


Non Mai nghìn dặm xa vời,


Hôm nay nào biết xuân tươi thế nào?




(1) Cân đối.




(2) Đỡ gốc cây.




(3) Chiếu xuống nước.




(1)     (1)Dịch:


“Hòn đá quái dị ở Thái Hồ, thiên hạ đều lấy lam kỳ.


Xa xôi ở dưới lớp sóng gợn lăn tăn vạn trượng, nơi thủy cung.


Dòng dây ngang lưng lặn xuống hàng trăm ngàn lần mới tới đáy lấy được


Tay nặn chân vò trở thành vật đáng giá ngàn vàng


Ông theo núi non nơi nào mà xếp được vẻ ngổn ngang kia


Chẳng phải là vật lạ ấy của ma quỷ nhọc công đổi đời sao?


Nắm cả việc sắp xếp trời đất trong bàn tay


Nào núi La Phủ, nào đảo Bồng Kiệu kéo về lô nhô


Hoa tiên cỏ lạ đủ cả trăm thức


Thảy đều bời bời mấy ai được biết rõ hết


Sơn ông hoá thành đá từ năm nào


Vóc dáng gầy gò đứng dưới bóng tùng như từng hẹn ước


Hàng trăm dòng suối bay xuống như đá đeo khuyên tai


Chỉ biết như có tấm lụa phơi mà không rõ bắt nguồn từ đâu


Mây nhóm mưa rơi tựa như có hẹn


Cửa sáng, ghế sạch cũng có chỗ ăn ý riêng


Mưa tạnh, ánh nắng lọt vào sân vắng


Trúc đá khô gầy chứa vẻ u ẩn


Gọi bạn bày rượu vừa uống vừa nghiêng ngả ngắm nhìn


Thấy thấp thoáng bóng Vương Mẫu chuốc chén nơi Dao Trì


Phô phang dáng vẻ danh sơn của ngọ Xích Thành núi Thiên Thai


Đường đá cheo leo lần theo chỗ vắng đi qua cảnh đẹp


Vẻ khoe khoang làm trăm cách để có được ngọn núi tốn tiền


Vạn trượng đồng xanh lởm chởm cũng chẳng để làm gì


Hòn giả sơn của ông tuy nhỏ song đủ để thanh nhã


Nhưng chỉ có thể ngắm chứ không thể vịn trèo


Làm sao có được một phiến đá ở núi Nghiễn sơn của Dương công*


Để soạn khắc một bài bia lưu lại dáng núi cao cho ông.


 


* Dương công tức Dương Hỗ, người đời Tấn. Khi Hỗ trấn thủ Tương Dương thường lên chơi Nghiễn sơn, nên khi Hỗ mất, dân ở đây lập bia trên đỉnh núi để ghi nhớ công đức của ông.




(1) Việc đã qua không ngăn được chừ, chuyện sắp tới còn có thể theo. Kết đạo đức làm thuyền ta chừ, gác lễ nghĩa làm cột buồm.




(2) Vượt qua trăm nhà chừ mênh mông. Vượt lên trên sự trong đục chừ của sông Thương Lang. (Trăm nhà chỉ bách gia chu tử đời Xuân thu chiến quốc, Sông Thương lang nói trong bài Ngư phủ của Khuất Nguyên).




(1) Trăm đường khéo léo ngang trời đất. Chỉ sống chết quyền ở hoá công.




(1) Tức Trương Quyền.




(1) Trước dùng l sau dùng binh.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
xem thêm »