tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20179082
Tiểu thuyết
08.03.2012
Hoài Anh
Nguyễn Thông Vọng Mai Đình

II- Về tới tư thất, Tổng đốc Trương Văn Uyển ngồi bóp trán suy nghĩ. Việc Bùi Hữu Nghĩa lại xuất hiện làm y lo lắng. Trước đây y đã xin vua phê án khép Nghĩa vào tội tử hình. Không ngờ vợ Nghĩa lại dám cả gan vào tân Kinh thân oan cho chồng. Mà quan Phan cũng quá nhân từ, lại đi bênh vực cho tên đầu bò bướu ấy. Nếu mình không có quan thầy là Thượng Thư bộ Hình phê án bắt Nghĩa đi quân tiền hiệu lực thì nguy to. Cứ theo đúng luật, vu khống cho người khác thì mình cũng bị tội, nhưng quan Thượng Hình làm ngơ không hỏi đến, như vậy cũng là may.


Bây giờ oan gia gặp nhau, Bùi Hữu Nghĩa lại có mặt ở đây. Mà éo le thay, quan Kinh lược hiện thời lại chính là người đứng ra bênh vực Nghĩa ở Kinh năm trước. Nếu ta đụng đến Nghĩa, ắt là quan Kinh lược sẽ ra tay can thiệp. Nhưng nếu thả lỏng cho Nghĩa, Nghĩa sẽ tìm cách trả thù ta. Suy nghĩ mãi vẫn chưa tìm được cách xử trí, Uyển cho mời Lãnh binh Huỳnh Chiêu tới thương nghị.


Huỳnh Chiêu lê cái thân xác ục ịch vừa tơi nới đã hỏi dồn:


- Sao? Có chuyện gì mà quan lớn lại cho đòi tôi gấp vậy?


Trương Văn Uyển lo lắng:


- Quan bác không thấy à, Bùi Hữu Nghĩa lại xuất hiện ở đây mà ông ta lại được lòng quan Kinh lược, nếu ông thích cách trả thù xưa thì nguy cho bọn ta lắm…


Huỳnh Chiêu cười khà:


- Ồ, quan lớn không biết. Bùi Hữu Nghĩa ở phe chủ chiếu mà quan Kinh lược lại chủ hòa, lúc này Ngài đâu có ưa ổng nữa. Thời thế đổi thay rồi àm! Thủ hạ của tôi vừa mật báo cho hay, Bùi Hữu Nghĩa đi tới đâu cũng xách động dân chúng nổi dậy chống lại Lang Sa…


- Mình đang muốn giữ tình hòa hiếu với Lang Sa để được yên ổn, vậy mà ổng lại xúi giục dân chúng gây hấn với họ. Vạn nhất xảy ra chuyện gì, mình biết chạy đi đâu? Quan bác có cách nào trị được Bùi Hữu Nghĩa không?


Hùnh Chiêu ngẫm nghĩ một hồi rồi nói:


- Quan lớn có nhớ hồi Nghĩa giữ đồn Vĩnh Thông bị bọn nghịch ở Châu Đốc bắt, xong chúng lại thả riêng một mình ông ta hay không? Nếu ổng không thông đồng với chúng thì sao lại được thả? Ta cứ cho bắt Bùi Hữu Nghĩa, khép tội đồng lõa với quân nghịch là xong. Dầu quan KInh lược có biết cũng không thể nào bênh vực nổi…


- Tôi muốn việc này ta làm theịet kín nhẹm, không để cho quan Kinh lược hay. Tánh ngài xưa nay vốn yêu chuộng người văn học, nếu ngài hay, không chừng ngài sẽ ngăn cả. Quan bác hãy sai một cơ lính lùng bắt Nghĩa đem về giam hoạ. Nếu ổng mộ được quân thì người ổng trị trước nhứt, chưa chắc đã phải là Lang Sa mà có khi chính là bọn ta. Ổng còn sống ngày nào thì ta khó mà ăn ngon ngủ yên. Ổng với ta “bất cộng đới thiên” mà.


- Quan lớn cứ yên tâm, từ lúc này Bùi Hữu Nghĩa kể như đã ở trong tay tôi rồi.


- Vậy thì hay lắm… - Trương Văn Uyển nháy mắt giọng suồng sã – Quan bác à, bọn khách trú mới biếu tôi mấy hộp á phiện thứ bạch cốn, tôi sẽ tặng quan bác một hộp để quan bác tha hồ đi mấy về gió. Hề hề…


- Các ơn quan lớn. – Vừa nghe nhắc đến thuốc phiện, Huỳnh Chiêu đã chảy nước miếng nhưng vội nói đùa để chữa thẹn – Bọn mình có cái tình đồng… nghiện tương liên mà!


Mặt thành cửa Hữu, một cây da lớn cành lá um tùm, bóng che rợp một vùng đến bốn công đất. Bốn phía là ao vũng bùn lày, dày đặc những lục bình, rau mác và bèo.


Khỏi cây da một đỗi, có một căn nhà tường gạch, trên có vì kèo gỗ, mái lợp ngói. Mặt trước nhà cửa lùa bằng gỗ ván đặc. Hỏi thăm biết đây đúng là nhà trọ Tư Kiếng, Nguyễn Giao nhờ ông chủ dẫn vào phòng ông Thủ khoa Nghĩa trọ.


Trong một căn phòng thoáng mát sạch sẽ. Bùi Hữu Nghĩa ngồi trên ván ngựa, tì tay trên tráp viết trên tờ giấy bản một bài thơ. Thấy Nguyễn Giao, ông vui mừng hối ông chủ châm một bình trà mạn sen tiếp khách quý.


Trà nước một hồi. Bùi Hữu Nghĩa nói:


- Chẳng giấu gì anh, bấy lâu nay tôi đi khắp nơi tập hợp nghĩa sĩ để sẵn sàng ứng phó với âm mưu giặc lấn chiếm ba tỉnh miền Tây. Bữa trước thấy anh thốt lên những lời nghĩa khí, tôi rất cảm phục nên muốn cùng anh bàn việc lập nghĩa binh chống giặc, chẳng hay ý anh thế nào?


Nguyễn Giao khẳng khái:


- Ông Thủ khoa là người lớn tuổi mà còn nhiệt thành vì nước, huống hồ Giao này còn đầu xanh tuổi trẻ, há lại thờ ơ với việc cứu nguy cho xã tắc hay sao? Hiềm vì tôi còn ít tuổi, danh vọng chưa có, nên khó lòng đứng ra tập hợp mọi người. Nếu được ông Thủ khoa đứng lên hiệu triệu, thì chắc chắn là sẽ có nhiều người hưởng ứng.


- Tôi tuổi già lại là văn nhân, không quen việc cầm quân đánh giặc, nên chỉ có thể lấy bút làm gươm, làm thơ văn đóng dả mọi người đứng lên cứu nước mà thôi. Tôi mới làm xong một bài thơ, tiên đây xin đọc anh nghe và nhờ anh truyền rộng đi khắp nơi, đó cũng là cách để chiêu mộ nghĩa binh về với ta.


- Xin ông Thủ khoa cho nghe.


Bùi Hữu Nghĩa cất giọng đọc:


Ai khiến thằng Tây tới vậy ha?


Đất bằng bỗng chốc nổi phong ba.


Hẳn hòi ít mặt đền ơn nước.


Nháo náhc nhiều tay bận nỗi nhà.


Đá sắt ôm lòng cam với trẻ.


Nước non có mắt thấy cho già.


Nam Kỳ chi thiếu người trung nghĩa,


Báo quốc cần vương há một ta.


Bùi Hữu Nghĩa vừa đọc dứt lời thì có một tiếng quát:


- Gớm thiệt! Triều đình đã hoà hiếu với người Lang Sa, vậy mà các ngươi dám công nhiên đọc thơ chống Lang Sa, muốn làm lỡ đối sách của Ngài Ngự à?


Bùi Hữu Nghĩa và Nguyễn Giao nhìn ra thì đó là Lê Cẩn, viên chánh quản cơ hầu cận quân Kinh lược. Nghĩa chưa kịp nói gì thì Nguyễn Giao đã đứng dậy:


- Tôi tưởng ông là quan võ cũng có chút đởm lược, không ngờ ông cũng khiếp nhược chẳng khác gì bọn văn quan trói gà không chặt. Ngài Ngự bảo hoà chứ Ngài Ngự có bảo phỉa khom lưng uốn gối trước lũ giặc Tây dương đâu?


Lê Cẩn thét:


- Hừ! Lại dám nói lời khi quân mạn thượng. Muốn mất đầu hả?


Bùi Hữu Nghĩa khoan thai:


- Ở cái đất Vĩnh Long này tôi đã mấy lần suýt mất đầu vì quan Tổng đốc các ngươi rồi. Nhưng nhờ trời cho đến nay cái đầu vẫn còn trên cổ. Lần này có mất chăng nữa cũng không sao


Lê Cẩn phá lên cười:


- Đúng là khí phách của bậc đại trượng phu! Cha tôi quả là không nhìn lầm người!


Bùi Hữu Nghĩa ngạc nhiên:


- Anh nói thế là thế nào?


Lê Cẩn kêu to:


- Bá phụ không nhận ra cháu à? Cháu là Lê Cẩn, con ông quản đạo Lê Nghiêm đây mà!


Bùi Hữu Nghĩa sửng sốt:


- Vậy ra anh là con Lê quản đạo đấy à? Hèn nào trông anh giống Lê hiền hữu lắm!


Lê Cẩn xúc động:


- Thưa bá phụ, khi bá phụ bị bắt ở đồn Vĩnh Thông, cha cháu mang một cơ binh đến ứng cứu nhưng chư tới nơi thì đồn đã mất rồi. Tổng đốc Trương Văn Uyển cốn căm ghét cha cháu đã đồng tình với bá phụ trong vụ Láng Thé, nên mượn cớ đổ tội cho cha cháu làm lỡ việc quân, tâu triều đình cách tuột chức tước đuổi về dân dã. Cha cháu uất quá lâm bệnh rồi thổ huyết mà chết. Trước khi qua đời, cha cháu có trối trăn: “Đời cha chỉ có một người bạn chí thiết là ông tri phủ họ Bùi. Ông là người chính trực liêm khiết trên đời hiếm có. Con phải coi ông như cha, sau này nếu ông có gặp chuyện chẳng may, con nên hết sức giúp đỡ ông, tìm cách trả hờn bọn tham quan ô lại đã hãm hại hai chúng ta, có như vậy cha mới được hả lòng nơi chín suối”.


Bùi Hữu Nghĩa ngậm ngùi:


- Không ngờ Lê quản đạo lại có lòng ưu ái đối với ta như vậy. Ông vì ta mà thác, ta thật có lỗi với ông…


Lê Cẩn tha thiết:


- Thưa bá phụ, cha cháu đối với bá phụ có mối sinh tử chi giao đã là nghĩa kim bằng, thế tất phải chung lo hoạn nạn, bá phụ đừng nên bận lòng vì chuyện đó.


- Thế còn anh thì…


- Thưa bá phụ, cháu sợ Tổng đốc Uyển thù cha cháu, nên không muốn tòng ngũ tại Vĩnh Long. Khi quan Kinh lược Nguyễn Tri Phương vào Nam điều chỉnh chính sách đồn điền, cháu liền xin làm lính đồn điền. Vốn có đôi chút võ nghệ do cha cháu truyền thụ từ trước, cháu được quan Kinh lược dùng làm tuỳ tùng, dần dần thăng lên chức chánh quản cơ. Khi quan Phan kế vị quan Nguyễn ở Nha Kinh lược, cháu lại tòng sự dưới quyền quan Phan… Vừa rồi cháu được một viên đội trong dinh Lãnh binh báo cho biết: Tổng đốc Uyển và Lãnh binh Chiêu bàn nhau vu cho bá phụ tội thông đồng với dân khởi loạn ở Châu Đốc trước đây, bắt bá phụ giam vào ngục rồi tìm cách ám hại. Cháu vội đến báo cho bá phụ hay để tìm phương lánh khỏi nơi này kẻo sa vào tay bọn chúng…


Bùi Hữu Nghĩa cảm động:


- Cháu có lòng nghĩ đến ta, ta rất cám ơn. Nhưng trốn đi đâu bây giờ?


Nguyễn Giao sốt sắng:


- Tôi có người quen ở Vũng Liêm, hay là tôi đưa ông Thủ khoa về nương náu cho qua lúc này đã. Sau đó, bác quản báo tin này cho quan Kinh lược, cụ lớn trước đã từng bênh vực ông Thủ khoa, nếu nay ngài biết được, chắc sẽ ra tay ngăn cản bọn Tổng Đốc Uyển, như vậy ông Thủ khoa có cơ thoát nạn.


Lê Cẩn nói:


- Phải đấy, bá phụ nên về Vũng Liêm với anh Nguyễn Giao tạm lánh. Còn cháu sẽ báo tin cho cụ lớn Kinh lược hay, để ngăn chặn bàn tay bọn tham quan ô lại.


Bùi Hữu Nghĩa và Nguyễn Giao từ biệt Lê Cẩn rồi lên đường. Lê Cẩn nhìn theo đến khi bóng hai người đã nhòa lẫn vào lớp sương chiều mới trở về doanh trại.


*


Nguyễn Thông cưỡi ngựa đi thị sát cách bố phòng trong tỉnh Vĩnh Long. Trên sông Cổ Chiên có hai cái đồn trấn giữ. Một thuộc xóm Vĩnh Tòng ở về phía đông Bãi Tiên. Tên tục của Bãi Tiên là cù lao Táng, còn gọi là cù lao An Thành, vì có dân cư của hai làng Bình Lương và An Thành.


Chỗ lập đồn ở phía đông Bãi Tiên, ngoài cửa đà là sông lớn, thuở xưa nhiều cá sấu hoành hành, có con lớn bằng chiếc thuyền, rất hung dữ, nên người trong vùng thường trồng rào cọc ngoài cửa đà để phòng bị.


Một ở xóm Vĩnh Mỹ Thanh gọi là Vàm Tuần. Từ thành Vĩnh Long đến trước Vàm Tuần bằng một con đường đất gọi là “đường yểm” có đào hố phía bờ sông và dùng để vận chuyển binh lương giữa hai đồn hoặc mau lẹ tiếp cứu nhau khi nguy cấp.


Ngoài hai đồn trên, còn có pháo đài ở Bảo Tiền thuộc làng Long Hưng và Bảo Hậu ở làng Phong Hoà. Ở vàm Cái Tắc xã Long Hậu và rạch Cái Bằng xã Long Thăng có cản xây bằng đá xánh trên con kinh để phòng thủ kẻ địch tiến đánh bằng đường nước. Ở vàm rạch Ba Đình xã Hòa Long cũng có ba pháo đài.


Những đồn luỹ, pháo đài này bị hư hỏng đã lâu, cần phải được gia cố lại để ngăn chặn bước tiến của giặc. Trước đây các quan tỉnh chỉ quen dựa vào thành, hễ thành mất là thua. Học cách xây dựng Đại đồn Chi Hòa của quan Thống tướng Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Thông thấy phải có chiến hào chiến luỹ ở khắp các ngả, để hễ giặc đến bất cứ đâu, ở đấy cũng có sẵn công sự để chặn đánh giặc.


Trên đường về, Nguyễn Thông qua Cầu Lầu gần cửa Tiền. Cầu bắc cao trên con rạch để vừa làm vọng canh vừa qua lại. Hai bên cầu có thang trên lên, xuống. Dưới lót ván cho khách bộ hành đi, giữa có bốn cây cột nhô cao, lót sạp độ sáu, bảy bước, lợp ngói âm dương làm nóc. Bốn bên có lỗ châu mai. Đây là một trong hai cử vào thành Vĩnh Long, vốn là nơi quan yếu nhất, cần được chú ý bố phòng như một cứ điểm chiến lược quan trọng. Chẳng những đó là nơi để quân lính lên vọng lầu đứng canh chừng lục quân địch từ ngã tư Long Hồ kéo sang, mà cũng tiện dòm ra sông Long Hồ ngưn ngừa thủ quân đổ bộ.


Từ Cầu Lâu, Nguyễn Thông ra Thủy Trường. Thủy Trường dài theo dọc sông Long Hồ với bảy ụ ghe Ô ghe Lê. Những chiếc thuyền nằm san sát men bờ sông. Nếu biết dùng thì những chiến thuyền này có thể đem ra ngăn cản tàu giặc, bắn vào tàu, dùng hỏa công đốt tàu như trận đánh tàu “Hy vọng” của Quản Lịch(1) ở vàm sông Nhật Tảo mất năm trước.


Bên kia rạch Cầu Lầu nối dài là rạch Cá Trê, cạnh đấy có xóm Lò Rèn. Đấy là nơi chuyên làm đồ binh khi cho quân đóng trong thành. Nếu mộ dân binh thì phải nhờ anh em thợ rèn đánh thêm khí giới mới đủ dùng cho việc quân.


Nghe tiếng búa dội trên đe chan chát, những tia lửa từ thanh sắt nung đỏ bắn toé như hoa cà hoa cải, Nguyễn Thông bỗng mường tượng nghe tiếng binh khí va chạm vào nhau tóe lửa trong những trận giao phong sắp tới với giặc.


*


Cuộc họp giữa Phan Thanh Giản và các quan đầu tỉnh diễn ra ở tòa đại sảnh của Đốc bộ đường. Quan Kinh lược ngồi đường bệ trên chiếc sập gỗ chân quỳ, quan Tổng đốc ngồi ghé trong một bên, còn các vị khác ngồi trên ghế tựa, mặt hướng về quan Kinh lược.


Vít cần trúc có mấu cong vút của chiếc điếu ống bịt bạc khảm xa cừ, Phan Thanh Giản rít một hơi thuốc lào, thở khói, chiêu một ngụm trà mạn sen rồi thong thả:


- Các ông có cao kiến gì thì cứ trình bày để bản chức thu thập lại rồi làm sớ dâng lên triều đình định đoạt.


Nguyễn Thông đứng lên:


- Bẩm cụ lớn Kinh lược và các quan, ty chức thiển nghĩ, người Lang Sa lòng tham không chán, sớm muộn cũng sẽ lấn chiếm ba tỉnh miền Tây…


Trương Văn Uyển vặn lại:


- Quan Đề học căn cứ vào đâu mà quyết đoán như vậy? Lần trước họ lấy thành Vĩnh Long rồi chẳng trao trả lại cho ta là gì?


Đề học Nguyễn Thông bình tĩnh:


- Lúc triều đình mới nghị hòa với Lang Sa, chúng ta đòi lấy cả sáu tỉnh Nam Kỳ. Nhưng sau chúng thấy không đủ quân đóng nội trong ba tỉnh miền Đông, lại sợ rằng nếu đòi nhiều quá, triều đình không chịu ký hòa ước thì chúng đã không được miền Tây lại không yên ở miền Đông, nên chúng phải co lại. Chúng chiếm ba tỉnh miền Đông, trao cả ba tỉnh Vĩnh Long để ta yên lòng là chỉ cần thương thuyết cũng có thể lấy lại được đất đã mất, lại lấy việc trả tỉnh Vĩnh Long làm điều kiện buộc triều đình không được ủng hộ những toán nghĩa binh chống Tây. Lúc ấy ở Âu Châu, người Lang Sa đang vướng vào cuộc chiến tranh với Mễ Tây Cơ, ở bên này chúng cũng chưa chiếm xong Cao Miên. Vì vậy chúng buộc lòng phải trao trả tỉnh Vĩnh Long cho ta, để có thời cơ ổn định việc chiếm đóng ba tỉnh miền Đông và cả Cao Miên rồi, ba tỉnh miền Tây trên mặt bộ thì hoàn toàn bị bao vây, ba tỉnh đó lại gồm tất cả các sông và các cửa của sông Cửu Long. Từ Cao Miên xuống không thể không dùng Cửu Long làm cửa ngõ thiên tạo, bến Sài Gòn xuất cảng nhiều món hàng mà các món hàng đó phần lớn lại là từ ba tỉnh miền Tây đem lên, từ Cao Miên đưa xuống. Như vậy, người Lang Sa không thể nào không chiếm ba tỉnh miền Tây, cái cớ nguy đã sờ sờ trước mắt rồi, chỉ có quan lớn cố tình không nhìn thấy mà thôi.


Trước lý lẽ đanh thép của Nguyễn Thông, Trương văn Uyển nghẹn họng đành câm bặt. Phan Thanh Giản hỏi:


- Cứ ý quan Đề học thì nên như thế nào?


Nguyễn Thông rắn rỏi:


- Theo ý tôi thì phải gấp rút lo việc phòng thủ thành Vĩnh Long. Thành ở ven sông, rất dê bị thủy quân của giặc tiêu diệt, mà chúng lại có lợi thế về chiến thuyền. Lần trước chúng đánh thành, quân ta chỉ biết cố thủ hai đồn Vĩnh Long và Thanh Mỹ, giặc công phá và hạ được hai đồn lũy ấy là quân ta tan vỡ ngay. Nếu như ta cho đắp cản ở trên sông thì có thể làm chậm được bước tiến của tàu giặc, cho quân mai phục hai bên bờ sông chờ lúc tàu giặc lọt vao ổ mai phục của ta thì nhất tề phát hỏa, bắn gẫy cột buồm hay bắn cháy tàu giặc, như vậy mới hòng ngăn chặn được chúng.


Nghe Nguyễn Thông nói, Uyển chạm nọc sầm mặt lại. Đầu năm Nhâm Tuất(1), hơn bốn chục chiến thuyền giặc kéo đến đầu phía thượng lưu sông Cổ Chiên, đổ quân lên bộ đắp lũy. Mãi đến khi ấy Trương Văn Uyển mứoi biết là chúng tràn lên đánh chiếm thành Vĩnh Long. Lãnh binh Tôn Thất Tuân, Nguyễn Thái, Lê Đình Cữu đóng giữ đồn Vĩnh Tòng ở ngoài vàm sông, Lãnh binh An Giang và Hồ Lực, Ngô Thành, Trương văn Thành đóng giữ đồn Thanh Mỹ cũng gần đó, còn Trương Văn Uyển với Bố chánh Lê Đình Đức thì cầm quân tiếp ứng cho hai đồn kia. Luôn hai ngày đêm, giặc bắn phá và hạ hai đồn luỹ Vĩnh Tòng, Thanh Mỹ. Tàu giặc tiến bắn vào thành Vĩnh Long, đổ bộ lên, đánh bọc hậu. Quân triều đình chống cự kịch liệt trên các ngọn rạch và quanh thành, đại bác nhằm tàu máy của giặc mà nhả đạn. Trận đánh kéo dài từ trưa đến tối thì các ổ đại bác của ta đều bị phá.


Đêm ấy, Trương Văn Uyển đốt cả kho tàng, công thự trong thành, lui về đóng ở đồn Thị Bảo, rồi chỉ nghe tin phao truyền là giực sắp rượt theo, y đã lẹ chân chạy trốn đến huyện Duy Minh. Sáng hôm sau, giặc vào thành, cướp được của ta sáu mươi tám khẩu đại bác.


Sự thể mất thành Vĩnh Long được cáo cấp về Kinh, vua Tự Đức trách cứ Trương văn Uyển không biết chọn chỗ hiểm yếu mà đặt đồn, làm thành cái thế không thể bị đánh bật, mà chỉ chuyên dựa vào hai nơi Thanh Mỹ vàVĩnh Tòng. Cả đám thiếu tinh thần trách nhiệm đều bị cách lưu. Lại được lệnh chọn nơi đóng kín, thu tập binh dũng, thu tập khí giới lương thực, cùng làm thế ỷ đốc với quan quân và nghĩa dân còn chiến đấu ở Định tường và Gia Định để giải nguy cho An Giang và Hà Tiên. Lúc này nghĩa quân hoạt động rất mạnh ở khắp các nơi vf vẫn giữ Mỹ Quý, Cai Lậy, đánh vào thành phố Chợ Lớn, bày mưu đầu độc ở Sài Gòn, chiếm lại Phước Lộc, Vĩnh Phước, Bến Lức ở Gia Định, tiến bức Biên Hoà, thu phục Gò Công, Tân An… khiến quân Lang Sa, tuy có lan rộng ra từ Bà Rịa đến Vĩnh Long mà mất rất nhiều căn cứ ở bên trong, bị đánh úp bất kỳ nơi nào chúng ló ra, lâm vào tình thế hết sức nguy khốn. Nhưng chính lúc đó, Trương văn Uyển lại hạ lệnh án binh bất động! Và giữa lúc Lang Sa không ngờ rằng vua Tự Đức xin giảng hoà thì Từ Đức lại sai Phan Thanh Giản giảng hòa! Thật là mỉa mai!


Lãnh binh Huỳnh chiêu thấy cần đỡ đòn cho quan trên:


- Quan quân trong thành có ít còn phải để giữ thành luỹ, người đâu mà rải ra dọc bờ sông để cản tàu giặc?


Nguyễn Thông khoan thai:


- Nếu biền binh không đủ thì ta phải chiêu mộ dân binh ở các làng dọc bờ sông, cấp súng cho họ để giặc đến là có thể ứng phó ngay!


Án sát Võ Doãn Thanh gạt đi:


- Vừa rồi ở Bắc Kỳ có giặc tên Phụng, ở Kinh có giặc Chày Vôi, đều do đám dân đen khởi loạn chống lại triều đình. Ngay ở Nam kỳ cũng vậy, quan Đề học không ngờ loạn Lê Văn Khôi trước đây, vụ Lâm Sâm và Trần Hồng nổi loạn ở Lạc Hoá và vụ biến động ở Châu Đốc do sự xúi giục của Thủ khoa Nghĩa à? Dân chúng đang oán triều đình, trước chỉ có gươm giáo, cuốc cày họ còn dám nổi dậy, huống chi nay có súng ống, họ sẽ tính chuyện phản nghịch liền. Trao khí giới vào tay họ là dưỡng hổ di họa(1) đó!


Bố chánh Nguyễn văn Nhã cũng phụ họa:


- Quan Án nói phải đấy. Quan Đề học chỉ nên lo việc học hành, còn việc binh là do quan Tổng đốc và quan Lãnh lo liệu. Bẩm quan Tổng đóc, có đúng như vậy không ạ?


Trương văn Uyển nghiêm nghị:


- Việc binh là đại sự quốc gia, phải chờ lệnh của cụ lớn Kinh lược – Y hướng về phía Phan Thanh Giản – Bẩm, cụ lớn dạy sao ạ?


Phan Thanh Giản hơi lúng túng:


- Chiến hay hòa là chủ trương của Ngài Ngự. Mới đây Ngài Ngự có gửi mật thư chỉ cho tôi, biểu phải dùng miệng lưỡi để ngăn giặc đừng đánh. Nay quan Đề học xin cho mộ dân binh để sẵn sàng ứng phó với giặc, điều đó cũng xuất phát từ lòng trung nghĩa đáng khen. Nhưng tôi còn phải làm sớ dâng lên Ngài Ngự, chờ ngài phê chuẩn mới được phép thi hành. Nếu vọng động trái ý Ngài Ngự, e khó lòng tránh khỏi tội nghịch mệnh!


“Trung với vua thì khi vua sái quấy phải biết can vua, nếu cứ nhắm mắt mà a dua theo ý vua thì chỉ là ngu trung mà thôi”.


Đến đầu xóm lưới, trên rạch Cái cá, bỗng Nguyễn Thông thấy một người đang ngồi trên tảng thạch bàn câu cá. Nhìn kỹ đó là cử nhân Phan Văn Trị. Nguyễn Thông vồn vã:


- Kìa, bác Cử Trị, bác thảnh thơi quá nhỉ? Đã câu được con cá nào chưa?


Phan Văn Trị vui vẻ:


- Xin kính chào quan Đề học, tôi ngồi buồn ra đây câu cá cho khuây khỏa thôi ạ.


- Lâu nay bác có bài thơ nào không, cho tôi nghe với.


- Vừa rồi nhân ngồi câu, tôi có tức cảnh một bài…


… Phan Văn Trị hắng giọng đọc:


Ngươi hỡi Nghiêm Lăng có biết chăng?


Lòng ta ý gã đố ai bằng,


Nửa cần thú vị trời trời nước.


Một sợi kinh luân gió gió trăng.


Thao lược đã đành ngàn dặm búa,


Giang sơn tóm rố một tay phăng.


Xưa nay vẫn một làng sông Vị,


Mơ tưởng xe Châu tiếng nói năng.


Nguyễn Thông nắc nỏm khen:


- Thơ bác khí phách lắm. Chắc bác đang chờ đợi có người mời ra giúp nước chứ gì. Thì tôi đến để mời bác ra gánh vác việc đời đây. A bác ở gần đây mà sao hôm rồi không đến dự lễ khánh thành Văn Thánh miếu?


- Nếu tôi đến, thế tất sẽ phải giáp mặt Phan kinh lược, nên không muốn đến. Khi tôi mới thi đỗ, thân phụ tôi vốn quen thân với quan Phan nên dẫn tôi đến ra mắt, nhờ ông giúp đỡ cho. Ông biểu vịnh một bài thơ, tôi liền đọc bài Con mèo trong có hai câu: “Mấy tầng đài các sải chân leo. Nhảy lẹ chi cho bằng giống mèo”, ông cho là tôi có ý ám chỉ ông nên tỏ vẻ khó chịu. Tới khi tôi đọc cho ông nghe bai thơ Hột lúa trong có hai câu: “Vì thế liều mình cơn nước lửa, Ai mà có thấu hỡi ai ôi!” ông liền phê một câu “Nhữ hà trách triều đình chi thậm”(1). Từ đó tôi có chạm trán với ông lần nào đâu!


Nguyễn Thông thầm nghĩ, vừa rồi Nhiêu tâm đọc bài thơ trong có chữ “đế” và “vương”, Phan Thanh Giản cũng đã trách là có ý xược, nếu Cử Trị đến mà cũng đọc thơ hàm ý xách mé thì khó tránh khỏi lôi thôi phiền phức. Ông chợt nhớ ra:


- Vừa rồi tôi có đọc thơ bác hoạ mười bài “Tự Thuật” của Tôn Thọ Tường. Thơ bác đã đánh trúng tim đen thằng Tường, vạch trần bộ mặt bán nước trơ trẽn được nhồi lớp phấn mốc của hắn. Tôi thích nhất những câu như: “Đừng mượn hơi hùm rung nhát khỉ. Lòng ta sắt đá há lung lay” hay “Ngọc lành có vết coi nào lịch. Thợ vụng ít màu nhuộm chẳng tươi”, nhất là câu cuối đầy khí thế hiên ngang vững chãi: “Một trận gió đưa xiêu ngã cỏ. Hơn thua chưa quyết đó cùng đây”. Đọc thơ bác, ai chẳng thấy lòng bừng bừng muốn xông ra chiến trờng diệt hết lũ giặc ngoại xâm…


- Tôi chỉ noi gương ông Tú Chiểu mà thôi. Ông bị đui mù. Còn viết được những câu văn hừng hực như: “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan. Ngày xem ống khói chạy đen xì, muốn ra cắn cố”…


Nguyễn Thông cảm khái:


- Thơ bác với thơ ông Tú Chiểu quả xứng đáng là thơ “thoái lỗ”(1) giúp ích cho đời, còn thơ tôi chẳng qua là để thù ứng với bạn bè hay ký thác tâm sự mà thôi. Nghe thơ hai bác, tôi càng thêm hổ thẹn…


Phan Văn Trị chân thành:


- Không! Thơ bác mới đúng là văn chương đại gia, có khuôn phép lại xuất sắc, còn thơ bọn tôi chỉ là thơ phúng dụ, thơ ứng chiến, cốt cho hoạt cho nhanh, có đâu được lời lẽ súc tích, ý tứ thâm trầm như thơ bác. Bác quả là có cốt các, phong độ thi nhân…


- Không phải vậy đâu! Thơ tôi là thơ làm theo lề lối xưa, ôn hậu điển nhã để di dưỡng tính tình, còn thời buổi này phải có loại thơ quan hệ đến nhân tâm thế đạo, đánh thẳng vào bọn cướp nước và bè lũ gian tà như lời ông Tú Chiểu: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không thẳm. Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”. Tôi lại chỉ quen làm thơ chữ Hán cho một số bạn thanh khí thưởng thức, đâu có tài làm thơ nôm tuyệt diệu như hai bác để muôn ngàn người cùng đọc, cùng hiểu, thấm thía cái nghĩa đồng cừu(2), hăng hái tòng quân giết giặc. Vừa rồi tôi cũng trình bày với quan Phan xin cho mộ dân binh để sẵn sàng đối phó với lũ giặc Tây dương, nhưng nói hết lời mà ngài vẫn có gì e ngại.


- Kể từ khi quan Phan ký hòa ước với Tây, tôi thật sự buồn.


- Bác cũng nên hiểu cho nỗi khổ tâm của quan Phan. Ngài là vị khâm mạng của triều đình, nhất cử nhất động đều phải tuân theo lệnh vua.


- Mà cả nhà vua nữa, cũng chỉ một mực thủ bài hòa. Trong bài hoạ thơ thằng Tường, tôi có câu: “Bài hòa đã sẵn in tay thợ” là muốn nói đến thái độ co rụt, dùn dùn thẳng thẳng của nhà vua.


- Ấy chết, bác ăn nói bạo mồm bạo miệng thế không nên. Mình là phận thần tử, không được phẽp xúc phạm đến hoàng thượng.


Phan Văn Trị bực bội:


- Nhà vua sợ dân hơn sợ giặc, bỏ mặc dân cho giặc tha hồ giày xéo, thì dân phải tìm cách tự cứu lấy mình. Tôi thấy ta cứ nên tự đứng ra chiêu mộ dân binh, không cần phải xin phép xin tắc gì cho mất công! – Rồi Phan Văn Trị đọc liền hai câu thơ – “Đứng lại làm chi cho mất công. Vừa đi vừa đái vẽ nên rồng”


Nguyễn Thông trợn tròn mắt:


- Bác dám làm thơ như vậy kia à? Còn xược gấp mấy lần thơ ông Nhiêu Tâm bữa trước…


Phan Văn Trị giận dữ:


- Bác vẫn còn tin vào sự sáng suốt của nhà vua à? Cha tôi bị mắc oan, nhà vua bắt tội chín đời không được làm quan. Ông Thủ khoa Nghĩa cũng suýt mất đầu vì dám đứng ra bênh vực dân. Ngay vừa rồi, ông Tổng đốc đã cho lệnh bắt lén ông Thủ khoa giam vào ngục rồi tìm cách ám hại…


Nguyễn Thông sửng sốt:


- Ông Thủ khoa Nghĩa bị bắt rồi à?


- Cũng may có người báo tin, nên ông Thủ khoa đã sớm tìm phương trốn thoát. Cả tôi nữa cũng đành phỉa bỏ cái thành Vĩnh Long mà đi, không thể ở lại nơi miệng hùm nọc rắn này được. Bác ở lại đây nên cẩn trọng giữ mình, sau này ta sẽ có phen tái ngộ.


Phan Văn Trị cáo từ Nguyễn Thông ra đi. Nguyễn Thông chạnh lòng, nghĩ đến cảnh chỉ còn mình trơ lại với cái thành này. Nhiều khi bực bội với bọn quan tỉnh bất tài hèn nhát, ông cũng muốn đi, nhưng hiềm vì đang giữ chức trách không thể tự tiện bỏ đi được. Các bạn cùng chí hướng đã đi xa, biết bao giờ mới có phen gặp lại. Bỗng hai câu thơ cổ từ trong trí nhớ vụt đến với ông:


Thán tích thử nhân khứ,


Tiêu điều Từ, Tứ không.(1)


 


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Thông Vọng Mai Đình. Rút từ Tuyển tập truyện Lịch sử của nhà văn Hoài Anh, Quyển XV. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








(1) Tức Nguyễn Trung Trực.




(1) Năm 1862.




(1) Nuôi hổ để họa về sau.




(1) “Sao mà ngươi oán triều đình lắm vậy”.




(1) Thơ có thể đuổi được giặc.




(2) Chung một mối thù.




(1) Than ôi, người ấy đi, Từ, Tứ thành trống không.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 11.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
xem thêm »