tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Doanh nghiệp Sách Thành Nghĩa TP. Hồ Chí Minh

 

 

Nhà hàng Việt Phố

 

Khách thăm: 12168369
Tiểu thuyết
07.03.2012
Hoài Anh
Nguyễn Thông Vọng Mai Đình

- Mời đọc Lời tựa của bộ Tuyển tập truyện Lịch sử


I- Bữa nay dân chúng tỉnh Vĩnh Long nô nức rủ nhau đi xem lễ khánh thành miếu Văn Thánh. Từng đoàn người, đầu bới tóc, vấn khăn mỏ rìu, mình mặc áo vải ngắn gài nút bên trái, cổ bâu co, vận quần sô, thắt lưng xanh lớn bản dùng luôn để cuốn giữ trầu cau, thuốc rê, giấy bản bọc theo, chân trần hoặc mang dép da trâu, đi trên con đường đất dẫn tới Ngã ba Long Hồ rồi quẹo vô miếu.


Trước đây chỉ tỉnh Gia Định mới có văn miếu, còn các tỉnh khác đều chưa có. đến năm Kỷ Mùi Tự Đức thứ 12, ba tỉnh miền Đông: Biên Hoà, Gia Định, Định Tường bị giặc Lang Sa chiếm. Những sĩ phu trong ba tỉnh ấy hưởng ứng chủ trương “ti địa” bỏ đất giặc chiếm chạy qua vùng thuộc về ta gồm ba tỉnh miền Tây: Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Lúc bấy giờ việc binh mã rộn ràng gấp rút, các học trò đều liệng bút theo quân, không ai nghĩ đến chuyện học hành.


Đến năm Nhâm Tuất(1), quan Đề học Vĩnh Long là Nguyễn Thông mới quy tụ các sinh viên lại mà dạy học và tập bài. Nguyễn Thông muốn xin lập văn miếu để nhân cớ đó nêu cao bài học “tri ngôn Khí”(2) cửa xử sĩ Võ Tường Toản ngày trước, nhằm khuyến khích sĩ tử hăng hái tòng quân đánh giặc, noi gương quên mình vì nghĩa của người xưa. Ông bàn với quan Kinh lược Nam kỳ Phan Thanh Giản – người đã tiến cử ông giữ chức Đề học. Nhằm mục đích chấn hưng Nho học, Phan tán thành và chọn một miếng đất ở địa phận làng Long Hồ cách tỉnh thành hai dặm về hướng Nam để dựng miếu Văn Thánh. Khi đem bàn với Tổng đốc Vĩnh Long Trương Văn Uyển, viên này tuy không thiết tha gì với việc học hành, nhưng vì chiều ý quan trên nên cũng bằng lòng. Thế là tháng mười một năm Giáp Tý, văn miếu được khởi công, đến tháng chín năm Bính Dần(4) thì hoàn thành.


Ngoài cổng miếu tiến vào một đoàn nghi trượng. Từ chiếc võng điều, đòn cáng bằng ngà do hai lính bộ khiêng, một vị quan da trắng trẻo, lông mày thanh tú, đôi mắt sáng và sâu, mũi hơi lớn, môi mím, đầy vẻ cương nghị, cằm không râu, đội mỹ cánh chuồn, mặc áo thụng lam bối tử thêu hạc, chân đi hia đen, thong thả bước xuống. Đó là quan Đề học Nguyễn Thông.


Nguyễn Thông đứng nhìn chung quanh. Toà miều mới dựng, mặt tiền ngó xuống sông, mặt hậu nương theo đất gò. Mái lợp ngói âm dương, nép dưới bóng hàng cây cao vút xanh rì, bên tả bên hữu có vườn tược sum suê. Chính điện phía trên có biển ngạch khắc ba chữ “Đại Thành Điện” thờ Khổng Tử, hai bên Tả ban Hữu ban thờ Tứ phối, Thập triết. Hai miếu nhỏ hai bên là Tả vu và Hữu vu thờ Thất thập nhị hiền. Phía trước và bên tả gần sông có toà thư lâu(5) để làm nơi chứa sách cho tiện lúc hội họp đọc sách. Từng trên lầu thờ bài vị Văn Xương Đế Quân, phía ngoài có lan can chạm trổ tinh tế. Từng dưới lầu, căn giữa có một cái khánh sơn son thếp vàng và bài vị thờ xử sĩ Võ Trường Toản. Mái lợp ngói, phía ngoài tường gạch bao quanh, cảnh trí rất là uy nghiêm và thanh nhã.


Nhìn thấy chiếc cột toàn là gỗ quý, các đồ thờ như hương án, bát hương, lư đồng độc bình cũng đều là thứ hảo hạng, Nguyễn Thông gật gù tỏ vẻ hài lòng. Bao nhiêu ngày đêm ông đã mất ăn mất ngủ lo đôn đốc việc khánh thành văn miếu đúng vào kỳ thu tế hàng năm. Mọi việc hoàn tất vào dịp tết trùng dương, quả là một kỳ công của các hiệp thợ nề, thợ ngõa, thợ mộc cả ba tỉnh miền Tây.


Lúc bấy giờ dân chúng đã đứng chen chúc đông nghịt ngoài cổng miếu, ngó vô phía trong trầm trồ khen ngợi những cây cột gỗ sơn son rực rỡ, những nét chạm lộng tinh xảo hình hoa lá chim thú trên vách.


Bỗng có tiếng thét: “Dẹp đường cho cụ lớn trẩy”, cùng tiếng roi vút veo véo. Một đoàn nghi trượng, đi tới đâu thì dân chúng giãn ra hai bên đến đấy. Đi đầu là viên chánh quản cơ nạt đương là hai quân sĩ mặc áo dấu, cầm hao tấm biển gỗ sơn, có khắc chữ “Tĩnh túc” và “Hồi tỵ”(1). Dẫn kế là cờ tam tài hình đuôi nheo, sau là lá cờ tứ phương và cờ ngũ hành. Tiến đoàn quân cầm đồ lễ gồm hai quân cầm đồ lễ bộ gồm hai thanh mác trường, hai trái chuỳ đồng, hai cây phủ việt, bốn cờ tiết mao, gắn đầu rồng ngậm dây kim tuyến, đeo năm ngù lông đuôi trâu rừng, cán dài sơn son đi áp trước võng.


Quan Kinh Lược Phan Thanh Giản, đội mũ cánh chuồn, mặc mãng bào đỏm ngực thêu hổ phù, chân đi hia đen, ngồi xếp bằng tròn trong chiếc võng màu hồng điều để trần, đòn cáng do hai lính lệ khiêng. Hai bên có lính theo hầu tráp điếu, cầm quạt và che hai lọng tía, mười sáu bông bèo, chóp thiết mạ bạc.


Nhác thấy quan Kinh lược, Nguyễn Thông vội ra cửa đón, cắp tay vái. Quan Kinh lược đã ngoài bảy mươi tuổi, người hơi gầy, mặt nhỏ, đôi mắt tinh anh, sống mũi cao và thẳng, cái miệng tươi điểm chòm rai và bộ râu bạc trắng càng tăng thêm dáng vẻ hiên hoà và phong độ nho nhã. Ông mỉm cười:


- Thế nào, mọi việc đã chu tất chưa, quan Đề học?


Nguyễn Thông kính cẩn:


- Bẩm cụ lớn, đã đâu vào đấy cả rồi ạ. Chỉ còn toà thư lâu là chưa có biển đề, còn trông đợi vào diệu bút của cụ lớn.


- Thì quan lớn cứ đề đi, đợi tôi làm gì.


- Dạ, cụ lớn là bậc văn chương hơn đời, xin cụ lớn hạ bút phẩm đề cho toà lầu được thêm phần sinh sắc.


Ông gọi:


- Bay đâu, mang văn phòng tứ bảo, nghe!


Một tên lính bưng ra một cái khay trên có bút viết đại tự và nghiên mực. Phan Thanh Giản nhìn khoảng trên toà lầu, ngẫm nghĩ một hồi rồi dầm bút vào nghiên mực, đưa lên viết ba chữ lớn “Tụy Văn Lâu”, nét chữ xương kính. Nguyễn Thông tấm tắc:


- “Tụy Văn Lâu”! Mấy chữ cụ lớn cho quả là già giặn, đầy đủ ý nghĩa. Tiểu quan sẽ cho thợ theo nét chữ mà đắp lên cho mọi người được chiêm ngưỡng lời văn và phép bút của ngài.


Phan Thanh Giản khiêm tốn:


- Quan lớn đứng quá khen khiến tôi càng thêm hổ thẹn. Lời lẽ thật thà chất phác của tôi sao bì được với văn chương gấm dệt hoa thêu của quan lớn.


- Dạ, từ trước đến nay, về thơ tiểu quan vẫn bái Lương Khê tiên sinh(1) làm thầy, ngài quả là Thái Sơn Bắc Đẩu trong làng nho.


Từ phía ngoài, một đoàn văn thân tỉnh Vĩnh Long tiến vào, gồm các vị cử nhân, tú tài, nhiều học. Họ đều vấn khăn lượt, áo thụng đen hoặc xanh, chân đi vân hài. Tất cả cùng phủ phục lạy quan Kinh lược rồi đứng dậy quay sang một bên vái chào quan Đề học. Một người tiến lên thưa:


- Kính lạy cụ lớn Kinh lược, kính bẩm quan Đề học, bọn tôi xin thay mặt hàng văn thân tỉnh Vĩnh Long đến bái yết cụ lớn và quan Đề học. Nhờ cụ lớn và quan Đề học đứng ra chủ trương việc xây dựng Văn Thánh miếu khiến cho đạo Thánh ngày càng được mở rộng, nho phong đất Vãng càng được thêm tôn, lưu truyền lâu dài về sau. Bọn tôi xin đội ơn các thượng quan đã thương đến sinh dân xứ này mà tác thành cho.


Phan Thanh Giản khoan thai:


- Ta sở dĩ cho dựng Văn miếu là để rộng đường giáo hoá của triều đình, cho sĩ tử có chỗ học tập noi gương thánh hiền đời xưa. Mà sự dạy dỗ của thánh nhân, bắt đầu nên cho mình rồi sau mới nên cho vật. Còn sự học hành của chúng ta thì gốc ở nưi mình mà phát ra sức làm cho nên việc. Lại có vẻ văn chương thật rõ rệt mà chẳng quan tâm đến sự dạy dỗ cho đời, tuỳ giỏi cũng không có ích.


Lại nghe đức Khổng phu tử, việc làm ở sách – “Hiếu kinh” mà cái chí thì ở sách. “Xuân thu”, là bởi cái chí của phu tử khen chê các nước chư hầu ở sách, “Xuân thu”, mà sự làm chuộng về nhân luân thì lại ở sách “Hiếu kinh”, cho nên cái “đức tốt”, cái “đạo gốc” chẳng ngoài nơi đó. Gần đây sự học chưa có được gì cho lắm, không lấy chi giúp ích cho đời, nên ta cho lập Văn miếu cốt để nhắc nhở mọi người bắt chước thánh nhân lập chí của mình, đó mới là biết cáhc thờ thánh nhân vậy.


Mọi người đều chắp tay:


- Lời cụ lớn quả là cao minh, bọn tôi xin kính vâng lời vàng ngọc của người, gắng làm việc tốt giúp ích cho đời.


Nguyễn Thông nói:


- Nhân dịp các vị văn thân hội họp ở đây, cũng là một hội Tao đàn, lại có Phan đại nhân đáng bậc Tao đàn nguyên soái, tôi xin ngỏ một ý này: Trong khi chờ đợi các quan đầu tỉnh tới làm lễ khánh thành, chúng ta mỗi người hãy vịnh cho một bài thơ tức cảnh Văn Thánh miếu, nhờ Phan đại nhân phê duyệt, để ghi lại chút duyên văn tự và cho buổi hội thêm vui, chẳng hay cao ý của cụ lớn và ông thế nào?


Một vị văn thân nói:


- Lời quan Đề học dạy, bọn tôi xinh vâng, chỉ còn chờ lệnh cụ lớn Kinh lược…


Phan Thanh Giản cười:


- Bản tâm tôi xây lầu Tụy văn cũng là để có nơi cho các văn nhân đọc sách làm thơ. Vị nào có thơ xin cứ đọc cho cử toạ cùng thưởng thức, đừng ngại ngùng gì cả.


Các văn nhân lần lượt đọc mỗi người một bài thơ, nhưng phần lớn đều không ra ngoài khuôn sáo. Thấy Nhiêu Tâm từ nãy vẫn ngồi im, Nguyễn Thông nhắc:


- Ông Nhiêu Tâm đọc một bài thơ cho chúng tôi nghe đi chứ. Nghe nói ông hay thơ nôm lắm kia mà.


Nhiêu Tâm tủm tỉm:


- Bẩm cụ lớn và quan Đề học cùng các vị, tôi xưa nay chỉ hay làm thơ đùa bỡn, nên không dám đọc thơ đứng đắn trước mặt cụ lớn và các quý vị đây…


Phan Thanh Giản nói:


- Thì ông cứ đọc đi, con nhà văn với nhau cảm hà tất phải ngần ngại.


Nhiêu Tâm lễ phép:


- Xin cụ lớn và các quý vị tha cho tôi múa rìu qua mắt thợ.


Rồi ông hắng giọng đọc:


Bấy lâu đàn hạnh lạnh mùi hương,


Cám cảnh tổng làng rán sửa đương,


Trên Thánh chín từng an điệu bệ,


Dưới hiền bảy chục kính phong sương,


Xưa còn gió ngỏ lay cờ đế,


Nay hết nhện rường bủa lưới vương.


Sáu tỉnh xô bồ cơn gió bụi,


Vĩnh Long phong tục giữ như thường.


Nghe đọc xong, mọi con mắt đều hướng cả về phía quan Kinh lược, đợi lời phán của ngài. Phan hơi cau mày:


Bài thơ này lời lẽ đứng đắn nhưng vẫn còn ý vị đùa bỡn, chẳng trách ông chuyên làm thơ đùa bỡn là phải.


Mọi người nín thở chờ đợi. Không khí trong miếu im lặng phăng phắc. Phan nghiêm giọng:


 Trong hai câu luận, ông dùng hai chữ đếvương, nếu ông đi thi mà làm hai câu này sẽ bị buộc tội bất kính mạn thượng, mất đầu như chơi. “Xưa còn gió ngỏ lay cờ đế. Nay hết nhện rưởng bủa lưới vương”, đế với vương ở đây bị đem ra làm trò đùa. Phận tôi con, đạo thờ vua lúc nào cũng phải canh cánh bên lòng, sao nỡ thốt ra lời lẽ khiếm trang như vậy.


Mọi người im lặng đi trước lời lẽ nghiêm khắc của quan Kinh lược. Giữa lúc ấy viên chánh quản cơ Lê Cẩn vào báo:


- Bẩm cụ lớn, có ông Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa ở Cần Thơ, nghe tin có cuộc khánh thành Văn Thánh miếu nên xin vào dự, nhân tiện để được bái kiến cụ lớn.


Nghe tên Thủ khoa Nghĩa, Phan Thanh Giản đổi sắc mặt vui vẻ:


- Ông Thủ khoa Nghĩa à? Mời ông vô đây.


Lê Cẩn ra cổng, lát sau dẫn vào một người gần sáu mươi tuổi, nét mặt đầy vẻ hiên ngang quắc thước với chòm râu dài, quấn khăn trượt, vận áo the, chân đi dép da. Đó là Bùi Hữu Nghĩa. Trông thấy quan Kinh lược, Bùi Hữu Nghĩa vội chắp tay vái chào:


- Kính lạy cụ lớn Kinh lược.


Rồi quay sang vái Nguyễn Thông và các vị văn thân:


- Xin kính chào quan Đề học và các quý vị.


Mọi người đều vái đáp lễ:


- Xin kính chào quan Thủ khoa.


Nguyễn Thông niềm nở:


- Được quan Thủ khoa đến dự lễ khánh thành, đó là điều vinh dự cho chúng tôi.


Bùi Hữu Nghĩa kính cẩn:


 - Bẩm cụ lớn Kinh lược, nhớ lại hồi tiện nội vô kinh thân oan, may nhờ cụ lớn cứu giúp nên tôi còn được toàn thân, cái ơn kết cỏ ngậm vành ấy lúc nào tôi cũng ghi tâm khắc cốt. Nay mới có dịp bái yết tôn nhan ở đây, xin cụ lớn thấu cho tấc lòng thành tri ân của Nghĩa này.


 Phan Thanh Giản gạt đi:


- Giúp đỡ người ngay là việc nghĩa phải làm, cũng thuộc về chức trách của tôi, ông Thủ khoa hà tất phải nói đến chuyện ơn huệ làm gì.


Nguyên trước đây, Bùi Hữu Nghĩa làm tri phủ Trà Vang tỉnh Vĩnh Long, tòng sự dưới quyền tổng đốc Trương Văn Uyển và Bố chánh Truyện. Nghĩa tánh tình can trực, chẳng bợ đỡ ai, mà cũng chẳng tư vị ai, từng đánh đòn một công tử ỷ mình là em vợ Bố chánh Truyện mà xấc xược với Nghĩa. Bố chánh Truyện nghe tin giận lắm, nhưng chẳng dám hở môi, đành nuốt hờn mà chịu.


Ít lâu sau, có mấy tên địa chủ Hoa kiều nhận thấy vùng Láng Thé – nơi Nghĩa trấn nhậm – có nhiều nguồn lợi cá, chúng bàn đem tiền lo lót cho bọn Tổng đốc Uyển và Bố chánh Truyện, để những tên này dùng quyền uy giúp chúng cưỡng đoạt các kênh rạch của nông dân. Trước hành động ngang ngược của bọn cường hào ác bá, đông đảo nông dân người Việt gốc Khơ-me rất căm tức nhưng họ lúng túng chưa biết phải đối phó ra sao, bèn kéo đến trình với quan phủ sở tại. Bùi Hữu Nghĩa không ngần ngại, bảo họ: “Rạch Láng Thé được vua cho các người không lấy thuế, các người cứ chiếm lấy. Nay, nếu có ai lớn hơn vua, đứng ra bán rạch ấy, thì các ngươi phải cam chịu, còn nếu ai nhỏ hơn vua, đứng ra bán rạch ấy, thì dầu có chém nó đứt đầu, cũng không sao cả”.


Được ý kiến đó, bà con lấy làm đắc ý, kéo nhau ra kênh rạch ngăn chặn không cho bọn địa chủ Hoa kiều đắp đập, xây rọ bắt cá của họ. Có giấy tờ trong tay do bọn quan đầu tỉnh cấp cho, chúng ỷ thế làm tới. Không nén được giận dữ, bà con chém chết tại chỗ gần chục mạng.


Vốn thù oán Bùi Hữu Nghĩa, hay được tin này, bọn Uyển, Truyện cho bắt ông giải về Gia Định, dâng sớ về triều, buộc tội ông tự tiện giết người.


Trước nỗi oan ức ấy, bà vợ Thủ Khoa Nghĩa là Nguyễn Thị Tồn, một mặt ra Huế thân oan, một mặt nhờ Quản Kiệm, em bạn dì của Nghĩa, lo việc ăn cắp tờ chiếu của triều đình Huế gởi vô dạy xử tội Nghĩa mà giấu đi, cho bà đủ ngày giờ ra Huế minh oan.


Bà Thủ khoa xuống Mỹ Tho kiếm ghe bầu chịu tiền quá giang ra Huế.


Đến nơi, bà tìm dinh quan Thượng thư bộ Lại tỏ nỗi hàm oan của chồng, tường thuật sự lộng quyền cảu các quan tỉnh Vĩnh Long và ngỏ ý mình muốn đến Tam pháp ti mà kêu oan. Quan thượng thư bộ Lại lúc bấy giờ là Phan Thanh Giản, một vị quan cương trực và liêm khiết. Phan bèn chỉ đường đi nước bước cho bà và làm giùm bà một tờ trạng, giãi bày oan khuất.


Bà học thuộc lòng tờ trạng, rồi đêm kia, lối cánh ba, bà đến đền vua, nổi ba hồi trống. Vua Tự Đức lâm triều, thâu đơn của bà rồi giao cho bộ Hình thẩm xét. Viên Thượng thư bộ Hình vốn đã ăn hối lộ của bọn Uyển, Truyện, nay buộc lòng phải cho giải Nghĩa vào Kinh lây cung chiêu. Nghĩa cứ thẳng thắn khai hết sự thật, không sợ hãi gì. Đáng lẽ phải tha bổng Bùi Hữu Nghĩa và khép bọn Uyển, Truyện vào tội vu cáo, thì viên Thượng thư bộ Hình lại tư vị bỏ qua cho bọn chúng và tuyên án: “Tha cho Bùi Hữu Nghĩa khỏi tử hình, nhưng phảii quân tiền hiệu lực, đái công thục tội”(1).


Không tội chết chém, Nghĩa bị đuổi đi làm chức thủ ngữ ở Vĩnh Thông (Châu Đốc). Không bao lâu, một số nhân dân ở Châu Đốc nổi dậy chống lại ách bóc lột, áp bức của bọn quan lại triều đình Huế. Họ đánh đồn Vĩnh Thông, bắt được Bùi Hữu Nghĩa và nhiều quan quân đem về giam giữ. Trong số những người cầm đầu cuộc nổi dậy, có cả những người trước đây được Bùi Hữu Nghĩa bênh vực trong vụ Láng Thé, họ bèn tha cho Nghĩa trở về Tịnh Biên.


Thấy nhiều kẻ xu phụ bọn quyền thế, quan lại quá ư tham tàn, Nghĩa chán ngán xin thôi làm quan trở về quê quán tại Long Tuyền, Bình Thuỷ, Cần Thơ, mở trường dạy học. Nghe tin tỉnh Vĩnh Long khánh thành Văn Thánh miếu, do Phan Thanh Giản chủ tọa, Bùi Hữu Nghĩa bèn lên dự, nhân dịp gặp Phan để tỏ lòng biết ơn.


Giữa lúc đó, một đoàn quan tỉnh Vĩnh Long tiến vào, đi đầu là Tổng đốc Trương Văn Uyển, tiếp đến Bố chánh Nguyễn Văn Nhã, Án sát Võ Doãn Thanh, Lãnh binh Huỳnh Chiêu.


Trương văn Uyển nhìn thấy Bùi Hữu Nghĩa, hơi tái mặt nhưng cố trấn tĩnh. Uyển chắp tay vài chào quan Kinh lược:


- Kính lạy cụ lớn Kinh lược, kính chào quan Đề học và các vị. Kìa cả ông Thủ khoa cũng không quản đường xa tới dự lễ, quý hoá quá, quý hoá quá!


Bùi Hữu Nghĩa mỉm cười:


- Kính chào quan lớn Tổng đốc, chút thân sống thừa này, không ngờ còn có ngày tái ngộ quan lớn ở đây, quả là điều hy hữu!


Trương văn Uyển gượng cười:


- Câu chuyện rắc rối với ông Thủ khoa ngày trước, đều do một tay Bố chánh Truyện gây nên cả, chớ tôi đâu có biết. Bây giờ ổng đã bị cách, hẳn là ông Thủ khoa thoả lòng rồi chớ gì!


Bùi Hữu Nghĩa dằn giọng:


- Thị phi ra sao đã có công luận… Quan lớn hà tất phải bận tâm. Chỉ mong quan Tổng đốc thương dân, nới tay cho họ chút, kẻo già néo đứt dây thì…


Án sát Võ Doãn Thanh muốn gỡ cho Uyển nên vội xen vào:


- Bữa nay là ngày vui mừng, ta không nên nhắc đến chuyện cũ nữa. Xin quan đề học bắt đầu hành lễ kẻo đã quá giờ Thìn rồi.


Cuộc tế Thánh bắt đầu. Quan Kinh lược làm Chánh vái, đứng ở chiếu giữa, hai quan Tổng đốc và Bố chánh làm Bồi bái, đứng ở hai chiếu dưới. Sau khi hai quan Án sát và lãnh binh làm chấp sự dâng hương, dân rượu, dâng cỗ trước hương án thờ Khổng Tử, quan Đề học đọc chúc, xong mọi người quỳ xuống lễ bốn lễ ba vái. Tiếp đó lễ nhịn hiền. Rồi tất cả kéo sang “Tụy văn lâu” làm lễ trước bài vị xử sĩ Võ Trường Toản. Thắp xong một tuần hương, Phan Thanh Giản tiến ra tuyên đọc bài tán công đức Võ xử sĩ:


- “Tiên sinh, họ Võ, húy Trường Toản. Tiên thế, hoặc nói là người làng Thanh kệ, hạt Quảng Đức, hoặc nói là người làng Bình Dương, hạt Gia Định, nguồn gốc khó tường. Tiên sinh học sâu biết rộng gặp đờn loạn ở ẩn, dạy học trò hàng mấy trăm người. Hạng học trò cao thì như Ngô Tùng Châu. Thứ đến Trịnh Hoài Đức, Phạm Ngọc Uẩn, Lê Quang Định, Lê Bá Phẩm, Ngô Nhân Tịnh… Hạng danh sĩ thì như Chiêu và Trúc đều là hai tay dật nhân(1). Còn những người khác không kể xiết.


Lại nghe tiên sinh học rộng các kinh và sở trưòng về bộ “Tứ thư”.


Dật nhân Chiêu vốn người túc học, chỉ theo tiên sinh mà nhận lãnh được cái nghĩa “trí không dưỡng khí”.


Từ khi tiên sinh đem cái học nghĩa lý ra dạy người, chẳng những đương thời nung đúc được nhiều nhân tài mà do sự truyền thuật giảng dụ mài dũa đến giờ, dân Lục tỉnh trung nghĩa cảm phát, liều chẳng tiếc mình, tuy vì thâm ân hậu trạch cảu triều đình cố kết lòng người, nhưng cũng há chẳng do công mở đường của tiên sinh từ xưa để lại mới được như thế ư?


Ngày 9 tháng 6 năm Nhâm Tý, tiên sinh mất, vua rất thương cảm, ban hiệu là “Gia Định xử sĩ Sùng Đức Vô tiên sinh” để khắc vào bia ở mộ, tại thôn Hoà Hưng, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định”.


Phan Thanh Giản đọc dứt, Nguyễn Thông tiến ra:


- Cụ lớn Kinh lược đã đọc bài tán công đức Võ xử sĩ, tôi xin phép bình bài Hiếu trung hoài cố phú của xử sĩ để mọi người cùng nghe lời di huấn.


Rồi ông cất giọng sang sảng như tiếng chuông:


Rờ rỡ cúc ba thu, ba thu lụn cúc đà tàn héo,


Hây hây sen chín hạ, chín hạ qua sen cũng rã rời.


Cho hay vực thắm nên cồn,


Khá biết gò cao hoá bế.


Quán âm dương rước khách xưa nay, đã mấy lâu đời,


Đò tạo hoá đưa người qua lại, biết bao nhiêu chuyến.


Nhấp nhoáng ngọn đèn trong kiếng.


Lênh đênh bóng nguyệt dòng sông.


Mọi người thành kính lắng nghe. Giọng Nguyễn Thông mỗi lúc một réo rắt, ai oán hơn:


Ô Giang đêm thẳm hé trăng mành, quạnh quẽ búa rìu họ Hạng,


Cai Hạ ngày chiều hiu gió mát, phất phơ ngọn cỏ nàng Ngu.


Đài vắng Nghiêm Lăng, mấy khúc quanh co sông chảy tuyết,


Thuyền không Phạm Lãi, năm hồ lai láng nước ken mù.


Đến đây giọng văn bỗng chuyển thành bi tráng, trầm hùng:


Cho hay dời đổi lấy lẽ thường,


Mới biết tháo ngay là nghĩa cá.


Trước đền Trụ mố gan một tấm, muôn kiếp còn danh để tạc bia,


Dưới thành Nghô treo mắt đôi tròng, ngàn năm hãy người người nhởn gáy.


Tám trăm dặm xông pha ải tuyết, thương họ Hàn chói chói lòng đơn,


Mười chín thu đầu nhuốm trời sương, cảm ông Võ phơ phơ đầu bạc.


Cật Võ Mục nhuộm thân bốn chữ, tấm trung thành đã thấu trời xanh,


Áo Thiên Tường ghi đượm hai câu, phương tựu nghĩa chi phai lòng đỏ.


Trời mỏn đất già danh hỡi rạng, lụy non Nghưu nghĩa cũng sụt sùi,


Biến khô đá rã tiết nào phai, sử họ Mã chép còn tỏ rõ.


Thấy lòng người bừng bừng phấn khích khi nghe nhắc đến những tấm gương trung nghĩa thời xưa, Nguyễn Thông thừa dịp nói luôn:


- Các vị đã nghe bài Hiếu trung hoài cố phú của Võ xử sĩ, ca ngợi những con người trung can, nghĩa khí thời xưa. Ở nước ta, những tấm gương trung nghĩa cũng nhiều, như Bình Ngô đại cáo của cụ Ức Trai đã nói: “Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau. Nhưng hào kiệt đời nào cũng có”. Thời nội thuộc nhà Hán có Trưng nữ vương, thời Lý có Lý Thường Kiệt, thời Trần có Trần Hưng Đạo, thời Lê có Lê Thái Tổ… các vị không cam chịu làm tôi tớ cho người ta, nên đã đứng lên quét sạch ngoại xâm ra khỏi bờ cõi, mang về nền tự chủ cho đất nước, cảnh yên vui cho trăm họ, để lại công nghiệp ngàn thu. Nay giặc Lang Sa xâm lược nước ta, còn hung dữ gấp mấy giặc Hán, giặc Tống, giặc Nguyên, giặc Minh ngày trước, chúng chém giết dân ta, cướp của cải của ta, bắt ta phải làm thân trâu ngựa cho chúng. Hiện nay, chúng đã chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, sớm muộn chúng cũng sẽ lấy nốt ba tỉnh miền Tây. Lúc này ta phải luôn luôn sẵn sàng đối phó với âm mưu của chúng, nếu sơ hở không chịu đề phòng, e có lúc trở tay không kịp.


Trong số văn thân, bỗng có một người trẻ tuổi tiến ra nói lớn:


- Quan Đề học nói rất đúng. Trong khi ở ba tỉnh miền Đông, các bậc văn thân như các ông Đỗ Trình Thoại, Phan Văn Đạt, Hồ Huân Nghiệp, Nguyễn Hữu Huân, đều mộ nghĩa binh đánh giặc thì ở ba tỉnh miền Tây sĩ phu vẫn cứ điềm nhiên tọa thị. Tôi thấy ta nên lập những đội nghĩa binh để ứng phó với tình thế nước sôi lửa bỏng lúc này, kẻo chúng lại đánh thành như bốn năm về trước, mà chỉ có quân triều thì khó lòng đương cự nổi…


Mọi người nhìn ra thì đó là Nguyễn Giao, người vẫn theo tập bài trong trường của quan Đề học. Bỗng Tổng đốc Trương văn Uyển quát:


- Đây là buổi đại lễ do quan Kinh lược chủ tọa, để tỏ lòng sùng Nho trọng học, ta không nên bàn đến chuyện khác. Hiện nay triều đình đã ký hoà ước với người Tây dương, nếu các ông bàn chuyện gây hấn với họ, họ sẽ có cớ trách triều đình không thực lòng hoà hiếu, e xảy chuyện không hay, làm lỡ đối sách của nhà nước. Chúng ta chỉ nên lo làm tròn phận sự của mình, đừng lạm bàn đến chuyện cơ mật của quốc gia.


Nguyễn Giao cứng cỏi:


- Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách, huống hồ là giới sĩ phu chúng ta. Cứ chờ đợi, tin vào hảo tâm của giặc, lỡ chúng dùng kế tằm ăn lá dâu, cướp nối ba tỉnh miền Tây, lúc ấy hối thì đã muộn!


Bố chánh Nguyễn Văn Nhã xen vào:


- Người Tây rất trọng điều cam kết, cứ xem như lần trước họ đã chiếm tỉnh Vĩnh Long, nhưng sau tuân theo hoà ước Nhâm Tuất, họ lại trao trả tỉnh thành cho ta. Họ trả lại rồi mà mình vẫn ngấm ngầm chống lại họ, sao cho được!


Lãnh binh Huỳnh Chiêu nạt:


- Việc binh bị là chức trách của tôi, ai tự ý mộ binh, tôi sẽ chiếu theo phép nước trừng trị về tội phản loạn!


Án sát Võ Doan cũng nói:


- Quan Lãnh nói đúng đấy. Binh là việc hưng, chiến là việc nguy, thánh nhân bất đắc dĩ mới phải dùng thôi. Chiến hay hòa ra sao, ngài Ngự đã có chủ ý, nếu ta vọng động làm trái ý Thánh hoàng, e phạm tội đại nghịch bất đạo, phép nước không thể nào tha thứ!


Nguyễn Thông vội can thiệp:


- Anh Nguyễn Giao có nhiệt tâm vì nước, điều đó rất đáng khen. Nhưng mộ binh là việc lớn, phải chờ lệnh cụ lớn Kinh lược và các thượng ty đã. Bẩm cụ lớn Kinh lược dạy sao ạ?


Phan Thanh Giản điềm đạm:


- Kẻ sĩ phấn phát làm điều nghĩa, đó là làm theo đúng lời dạy của Võ xử sĩ ngày trước. Nhưng tính việc lớn cần phải có bậc lão thành trì trọng, không thể dựa vào hách khí thiếu niên, e có khi nôn nóng làm vỡ việc nước. Các ông cứ yên tâm, đối sách ra sao, ta và các quan tỉnh sẽ cùng bàn rồi báo cho các ông sau.


Mọi người lục đục ra về. Thấy Nguyễn Giao hậm hực đứng lại, Bùi Hữu Nghĩa lại gần anh nói:


- Ý của anh rất hợp với tôi. Hồi nãy tôi đã tính nói, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, thấy nên cẩn trọng không lộ hình tích là hơn.


Nguyễn Giao bực tức:


- Nói với cái đám quan lại khiếp nhược ấy chỉ như nước đổ đầu vịt.


Bùi Hữu Nghĩa cười:


- Anh đừng có vơ đũa cả nắm. Tôi thấy trong số các quan, có quan Đề học là người khá, nhưng không biết sự thật thì thế nào!


Nguyễn Giao chợt tươi lên:


- Ông là thầy học của tôi đó. Khi đang làm việc trong Nội các, xảy nghe Tây đánh thành Gia Định, ông xin tòng quân vô Nam đánh giặc. Ở Gia Định, ông được Thống đốc quân vụ Tôn Thất Cáp rất quý trọng, thường cho coi các việc cơ mật trong quân. Hồi này ông có liên lạc mất thiết với nhiều sĩ phu yêu nước đang chống giặc ở Gia Định như Trần Thiện Chánh, Phan Trung, Phạm Hoàn Đạt, Nguyễn Thành Ý… Đến năm Tân Dậu(1) Đại đồn Chí Hòa thất thủ, quân triều đình lui về Biên Hoà, ông đi xuống Long Thành vòng về Tân An, Gò Công, sát cánh chiến đấu bên cạnh cậu ông là Trịnh Quan Nghị và bạn ông là Phan Văn Đạt. Tướng giặc là Ba Khu đánh úp cầu Biện Trẹt, Phan Văn Đạt bị bắt, hiên ngang chịu chết. Trận ấy ông Nguyễn Thông và Phan Chánh đóng ở chỗ khác nên chạy thoát được. Tây đánh chiếm tỉnh thành Biên Hoà, quân triều đình rút lui về Bình thuận, ông Nguyễn Thông trở lại quân ngũ, đóng tại Hàm Thuận. Sau hoà ước Nhâm Tuất, ông được quan Kinh lược đề cử làm Đề học tỉnh Vĩnh Long, nhưng ông vẫn liên lạc với ông Trịnh Quang Nghị làm tham tán quân vụ trong nghĩa quân Trương Định…


- Quan Đề học cũng là người ở phe chủ chiến, ta có thể nhờ cậy được. Anh nên lấy tình thầy trò nói với ông kiếm cách nào thuyết phục được quan Kinh lược đừng nên tin vào thiện ý của giặc Lang Sa. Còn việc mộ nghĩa binh đánh giặc, bàn ở đây e tai vách mạch rừng không tiện. Vậy trưa ngày mai anh đến gặp tôi ở nhà trọ Tư Kiếng ở gần Cây da Cửa Hữu, ta sẽ bàn thêm…


- Vâng, tôi xin y hẹn.


Bùi Hữu Nghĩa nhìn vào đôi mắt Nguyễn Giao thấy những tia sáng lấp lánh như phát ra từ ngọn lửa nhiệt tình yêu nước của tuổi trẻ. Bỗng ông thấy mình trẻ lại như cái hồi ông đứng ra gánh vác vụ Láng Thé, chống bọn tham quan ô lại, bảo vệ cho dân.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Thông Vọng Mai Đình. Rút từ Tuyển tập truyện Lịch sử của nhà văn Hoài Anh, Quyển XV. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








(1) Năm 1862.




(2) Biết lời dạy của người xưa, nuôi cái chí của mình.




(3) Năm 1864.




(4) Năm 1865.




(5) Trước mang tên “Tụy Văn Lâu”, sau đổi là Văn Xương Các.




(1) “Yên lặng” và “Tránh đi”.




(1) Tên hiệu của Phan Thanh Giản.




(1) Đi theo quân đánh giặc, lấy công chuộc tội.




(1) Người ẩn giật không ra làm quan.




(1) Năm1861.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 16.10.2014
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 09.10.2014
Mạc Đăng Dung - Lưu Văn Khuê 09.10.2014
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 03.10.2014
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 11.09.2014
Trả giá - Triệu Xuân 08.09.2014
Giấy trắng - Triệu Xuân 04.09.2014
Bão - Ngũ Hà Miên 04.09.2014
Cõi mê - Triệu Xuân 01.09.2014
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 01.09.2014
xem thêm »