tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21282790
Tiểu thuyết
07.03.2012
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

Lúc bấy giờ chỉ trừ mấy người giáo sĩ đi giảng đạo ở chốn thôn dã ra, thì trong nước cũng không có người ngoại dương nào nữa. Minh Mạng lại sai tìm bao nhiêu giáo sĩ ở trong nước đem cả về Huế để dịch những sách Tây ra chữ Việt Nam, chủ ý không phải vì việc dịch sách, nhưng là để cho khỏi đi giảng đạo ở các làng quê.


Nhưng điều mà Minh Mạng lo lắng hơn cả là sự phân tán quyền lực khiến chính quyền trung ương không kiểm soát nổi các địa phương. Trước đây, do mới thu phục xong đất nước, để thưởng công cho các công thần trung hưng, Gia Long đành phải để cho Tiền quân Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn Bắc thành, thống cả 11 trấn, chia làm 5 nội trấn: Sơn Nam thượng, Sơn Nam hạ, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, 6 ngoại trấn: Tuyên Quang, Hưng Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Yên. Lại để cho Tả quân Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định thành, thống cả 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Vĩnh Tường, Hà Tiên. Đến khi Nguyễn Văn Thành chết thì Hậu quân Lê Chất thay làm Tổng trấn Bắc thành.


Các viên Tổng trấn thường phải trông coi cả những công việc về dân sự cũng như quân sự trong vùng. Họ phải chỉ huy những đạo quân vốn không trung thành gì với các vua nhà Nguyễn (đặc biệt là ở miền Bắc). Nếu có vấn đề trong phạm vi quyền hạn của họ cần phải lưu ý hoàng đế thì các Tổng trấn đích thân tâu trình. Các quan ở các trấn thường không phải đi đâu, chỉ ngồi một chỗ hưởng mọi bổng lộc. Năm 1825, bộ Lại có báo cáo rằng hơn hai mươi viên Tri huyện vẫn đóng ở một nơi từ sáu đến chín năm liền. Năm 1826, Minh Mạng yêu cầu báo cáo về bổng lộc của các quan ngũ phẩm và lục phẩm, tức là Tri huyện trở lên.


Các quan Tổng trấn Bắc thành và Gia Định thành đã độc chiếm quyền kiểm soát trong vùng. Được nắm ấn tín, các quan Tổng trấn các miền có thể bổ nhiệm quan chức thuộc quyền của mình ở các phủ huyện. Giấy bổ nhiệm các học quan ở các trường thi các miền từ thời Gia Long do các quan Tổng trấn cấp.


Nếu cứ để tình trạng ấy kéo dài sẽ gây nên một trở lực rất lớn đối với củng cố nền thống nhất quốc gia. Để thực hiện một chế độ trung ương tập quyền triệt để, Minh Mạng buộc phải thi hành những biện pháp cải tổ các cơ quan hành chính ở địa phương.


Ngay từ khi mới lên ngôi, Minh Mạng đã ban hành một quy chế riêng cho kinh đô. Ông cho tách kinh đô Huế ra khỏi đất kinh kỳ, với 4 doanh là: Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức và Quảng Nam.


Từ năm 1822, Minh Mạng cho đổi Quảng Đức làm Thừa Thiên phủ, giao cho một viên Đề đốc kinh thành trông coi mọi việc quân dân, có một Phủ doãn và một Phủ thừa giúp việc. Trực thuộc Thừa Thiên phủ có 6 huyện được gọi là kinh huyện, tại mỗi kinh huyện có một Kinh tri huyện chịu trách nhiệm. Đồng thời, cũng vào năm này, Minh Mạng còn cho đổi đạo Thanh Bình làm đạo Ninh Bình, trấn Sơn Nam thượng làm trấn Sơn Nam, trấn Sơn Nam hạ làm trấn Nam Định, trấn Kinh Bắc làm trấn Bắc Ninh, trấn Yên Quảng làm trấn Quảng Yên.


Năm Minh Mạng thứ 7 (1826) theo một đạo dụ được ban bố, các doanh Quảng Bình, Quảng Trị và Quảng Nam đổi gọi là trấn Quảng Bình, trấn Quảng Trị và trấn Quảng Nam. Từ đấy trở đi trong toàn bộ đất nước Việt Nam không còn đơn vị hành chính “doanh” hay “đạo” nữa. Nếu tính tới năm 1826, trừ Thừa Thiên phủ ra thì cả nước lúc đó chia thành 26 trấn. Trong khi đó trấn Bắc thành bao gồm 11 trấn, như vậy là về diện tích cũng như số dân đều vượt xa 11 trấn miền Trung đặt trực tiếp dưới sự cai quản của triều đình. Gia Định thành gồm 5 trấn, mặc dù có trấn ít hơn Bắc thành, song quyền lực của Tổng trấn Lê Văn Duyệt rất lớn. Nếu gây sự xáo trộn sẽ xảy chuyện không hay, nên Minh Mạng phải tiến hành dần từng bước.


Giữa lúc đó tình hình đất nước cũng không ổn định. Tháng 11 năm Minh Mạng thứ 11 (1830), tàu binh nước Pháp đậu cửa Đà Nẵng, nói muốn thông hiểu với nước ta và nói Hồng Mao(1) mưu xâm chiếm tỉnh Quảng Đông, thế tất liên can đến nước ta, dặn ta đừng giúp Quảng Đông. Người Pháp lại thiện tiện lên núi Tam Thai đứng trông, và nói muốn tìm một người hướng đạo dẫn qua các hạt Bắc Thành vẽ địa đồ, rồi chạy tàu đi. Minh Mạng nghe tin, cách chức cả Thành thủ và Thủy ngự ở Đài An Hải, Điện Hải.


Tiếp đó lại nghe tin báo nước Xiêm chuẩn bị 50 binh thuyền, đánh tiếng đem binh phòng ngự con A Nỗ nước Vạn Tượng là Hạt Xà Bông, kỳ thực muốn lén tới xâm lấn nước ta.


Lại nghe người Chân Lạp là Ốc Nha Chiết Ma ở Chàng Kê Súc lén dụ người ChânLạp trốn làm phản chống lại vua Chân Lạp được quân ta bảo hộ.


Lúc ấy người nhà Thanh nghe lời tên thổ mục Điêu Doãn An xui giục, phái binh Mục Luyện hơn 600 người tới đòi đồn Phong Thu. Minh Mạng sai đưa thư cho quân thứ nhà Thanh, đại lược nói: “tùy chỗ lập đồn giữ, bờ cõi đã rõ ràng, không nên nghe lời tên Điêu Doãn An mà sinh việc ngoại biên”. Sau đó, hai bên đều triệt binh về cả.


Vì bận lo đối phó với tình hình ngoài biên, Minh Mạng chưa thể thực hành ngay việc chia tỉnh. Đất nước ta hình thể quá dài, nếu việc biến xảy ra ở miền Bắc hay miền Nam, còn phải tạm thời phái quân ở Bắc thành hay Gia Định thành ra ứng phó, nếu đợi quân ở Kinh đô kéo ra thì rất lâu, e lỡ việc.


Do tình trạng chia cắt đất nước lâu dài, dân mỗi miền tính tình, phong tục khác nhau. Miền Bắc nhiều người còn mong nhớ nhà Lê, gần đây Lê Duy Lương, con Lê Duy Hoán, cháu vua Cảnh Hưng cùng thổ hào Quách Tất Tế nổi dậy chống lại triều đình. Lúc ấy có Trần Tứ, Đỗ Bảo ở phủ Trấn Ninh nhận được thư của Lương, Tế, xướng xuất cho các đội binh Ninh Thuận ở Nghệ An giết Chánh đội Đỗ Trọng Thai và 8 người lính, cướp khí giới, theo dòng sơn phận Kỳ Sơn, Hội Nguyên mà đi ra Bắc, Minh Mạng phải sai Tạ Quang Cự đem quân đón bắt. Miền Nam thì dân chúng lại tôn sùng Lê Văn Duyệt, Duyệt bổ các quan chức người miền Nam lại cai trị dân miền Nam, tính tình người miền Nam bộc trực khác với người miền Bắc và miền Trung, nếu phái quan lại người miền khác vào cai trị, e dân chúng không dễ phục tùng. Nghĩ như vậy nên Minh Mạng nén lòng chờ đợi, khi tình hình thuận lợi mới tiến hành việc thống nhất chính trị trong cả nước.


Trong khi âm thầm chuẩn bị việc chia tỉnh, Minh Mạng vẫn hết sức chiều chuộng Lê Chất cho Chất khỏi ngờ.


Khi Chất tâu: phần mộ thân phụ chưa xây, sinh phần mẹ già chưa đặt, xin cho con là Hậu nghỉ giả hạn về quê thay lo việc nhà. Vua ưng cho, lại cho 500 quan tiền. Mùa đông ấy mẹ Chất là Đào Thị bệnh chết. Chất xin chọn người thay làm việc để về lo liệu việc tang mẹ. Vua bèn cho Nguyễn Hữu Thận làm Hiệp tổng trấn Bắc thành thay Chất làm việc, mà cho Chất vẫn đeo hàm Chưởng Hậu quân về quê để tang mẹ. Ban tiền, gấm, vải lụa đưa đến tận nhà. Hoàng thái hậu nghe tin cũng ban cho 3 cây gấm Tống và 50 lạng bạc.


Năm sau, Bắc thành trộm giặc nổi lên nhiều, Chất xin phép lên đường về quê chịu tang. Vua dụ rằng: “Ngươi nhận trọng khẩn đã lâu, cố cho ta khỏi lo về phương Bắc. Mùa đông năm ngoái vì có tang mẹ xin nghỉ việc, trẫm không nỡ cướp tình, đã chọn người thay. Nay Bắc thành giặc cướp nhiều, trẫm còn phải dậy sớm ăn muộn, ngươi há thản nhiên đi được à. Tưởng nên vì triều đình xuất lực, cùng viên mới là Nguyễn Hữu Thận, Trương Phúc Đăng bàn bạc xếp đặt việc xong rồisẽ về để tang mẹ thì công nghĩa tư tình đều được tốt cả, nếu gấp về gia đình, cũng nên tâu cho ta biết”.


Chất bèn xin lưu làm việc Bắc thành một tháng và nói rằng: bệnh chưa khỏi, mong được về nhà chôn mẹ cho thỏa lòng hiếu, hoặc có thể khỏi bệnh. Vua xem tờ biểu, lập tức xuống dụ cho Chất về quê. Chất về đến kinh, vua sai người đến nhà riêng hỏi thăm yên ủi, lại cho chiếu phân phát lương cho. Chất về đến Bình Định, bệnh cũ lại phát, mùa thu năm ấy, Chất chết, thọ 53 tuổi. Quan trấn thủ Bình Định đem việc tâu lên.


Vua nghe tin Chất chết, nghỉ chầu 3 ngày, lại cho Chất gấm sa vóc đoạn mỗi loại 5 tấm và 300 quan tiền, tặng hàm Thiếu phó, thụy là Trung nghị, sai quan đến tế. Cấp phu coi mộ. Hoàng thái hậu nghe tin Chất chết, cũng cho 300 lạng bạc.


Sau khi Lê Chất chết, tháng 10 năm Minh Mạng thứ 12 (1831), Minh Mạng cho chia từ Quảng Trị ra Bắc đặt làm 18 tỉnh: Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Yên, Sơn Tây, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Lạng Sơn, Cao Bằng.


*


Lê Văn Duyệt có tật ẩn cung, dân gian gọi là “bộ nấp”, Người Mỹ John White sau khi hội kiến ông được ông cho xem hổ đấu với voi, đã ghi nhận: “Tổng trấn Sài Gòn theo lời người ta nói là một hoạn quan, hình dáng ông ta chứng minh khá rõ tiếng đồn này. Ông ta khoảng năm mươi tuổi, cái nhìn thông minh. Ông có vẻ hoạt động mạnh về thể chất và tinh thần. Gương mặt tròn và dịu dàng, mặt nhão, nhăn và không có râu: ông ta có vẻ giống như một bà già. Ngoài ra ông ta có giọng đàn bà chát tai, tuy nhiên theo như tôi quan sát ở mức độ ít hơn những người khác ở xứ ông. Y phục của ông ta không những giản dị mà dường như dơ bẩn như y phục của những người nghèo”.


Vì không thể có con nối dõi, ông không bao giờ có ý định cướp ngôi vua, vì nếu làm vua sau này chết đi thì truyền ngôi cho ai. Không những thế, ông lại có tính nghĩa khí của con người miền Nam, ai đối xử tốt với mình thì mình phải trọn đời trung thành với người đó. Xuất thân là một thái giám, chính nhờ có Gia Long biết tài cất nhắc nên ông mới được như ngày nay. Ngay cả vợ ông là Đỗ Thị Phẫn cũng là một cung nữ của Gia Long, Gia Long đem ban cho ông. Bà vợ ông cũng là người nghĩa hiệp, không thích ăn không ngồi rồi, nên xin ông lập cho mình một đội thuộc binh, đặt 3 cai đội để phòng giữ biên cảnh bảo vệ quê quán, ông nghe lời bà, lập một đội quân cho bà coi quản. Bộ Binh tâu vua là không có lệ nào như thế cả, Minh Mạng cười bảo: “Trẫm với Lê Văn Duyệt thì cần gì phải nói đến lệ với luật”. Lê Văn Duyệt thấy mình đã xử chém bố vợ của vua, mà Minh Mạng vẫn đối xử tốt với mình, nên không nỡ đang tâm chống lại triều đình. Vả chăng gần đây ông cảm thấy mình tuổi đã cao, sức lực không còn như xưa, nhiều lần đã có ý xin từ chức, nhưng nghĩ nay trấn thủ bảo hộ Chân Lạp là Nguyễn Văn Thoại đã chết, mà chưa có người đủ tài thay thế, nên ông vẫn cố gắng làm trọn nhiệm vụ bảo vệ bờ cõi, ngăn chống giặc Xiêm, vỗ yên Chân Lạp mà triều đình đã ủy thác.


Mùa xuân năm Minh Mạng thứ 13 (1832), Lê Văn Duyệt nghe tin Tổng trấn Bắc thành Lê Chất đã chết, các tỉnh đều đã chia hạt đặt quan, thôi không đặt Tổng trấn, duy thành hạt Gia Định vẫn còn để nguyên chưa nhất lệ thi hành. Duyệt bèn dâng sớ nói: “Tôi tuổi sức suy mỏi, khẩn xin cáo nghỉ và xin đem thành hạt theo chế độ mới liệu chia đặt”.


Minh Mạng nghĩ Duyệt tuy già nhưng tay chân tâm phúc của ông còn đông, nếu bãi bỏ Gia Định thành ngay, e rằng bọn họ sẽ gây biến. Lại nữa, người Xiêm vẫn sợ Duyệt, nếu bãi chức Duyệt, người Xiêm sẽ nhân cơ hội xâm phạm biên giới, khó mà đối phó với nội loạn và ngoại xâm cùng một lúc. Việc chia tỉnh sớm hay muộn rồi cũng làm, không đi đâu mà vội. Nghĩ như vậy, vua liền ban chiếu dụ Duyệt hãy cố gắng cung chức, đợi sau sẽ ra chỉ thi hành.


Ngày 30 tháng 7 năm ấy, Duyệt bệnh chết, thọ 69 tuổi. Vua tặng hàm Thái bảo, cho sa màu gấm màu và 3.000 quan tiền, lại cho tế một đàn.


Hai tháng sau khi Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt chết, tháng 10 năm Minh Mạng thứ 13 (1832), Minh Mạng chia từ Thừa Thiên vào Nam đặt làm 12 tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận, Khánh Hòa, Biên Hòa, Gia Định, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên.


Các chức quan đứng đầu mỗi tỉnh gồm: Tổng đốc, Tuần phủ, Đề đốc, Bố chánh, Lãnh binh, Án sát, Phó lãnh binh. Tất cả các cơ quan hành chính của các tỉnh đều phải đặt dưới quyền cai quản trực tiếp của triều đình, đồng thời chịu sự giám sát thường xuyên của một cơ quan của triều đình là Đô sát viện, được thiết lập vào tháng 9 năm Minh Mạng thứ 13 (1832). Các giám sát ngự sử các đạo thường đóng tại liên tỉnh để giám sát các hoạt động của cơ quan hành chính cấp tỉnh. Những viên quan này chịu trách nhiệm trước vua về tất cả các hành động của bộ máy hành chính cấp tỉnh, cũng như họ có thể thay mặt nhà vua để đàn hặc, bắt lỗi từ viên quan đứng đầu cao nhất của tỉnh là Tổng đốc trở xuống.


Đối với các vùng đất dân tộc thiểu số, Minh Mạng không thể chấp nhận sự bỏ trống quyền lực ở những vùng này mà theo ông, đó là những thành phần lãnh thổ không thể tách rời khỏi đất nước Việt Nam thống nhất, vấn đề này có liên quan tới việc bảo vệ toàn vẹn vùng biên cương của Tổ quốc. Biện pháp của ông là từng bước, từng bước từ chỗ hạn chế quyền lực của tù trưởng thiểu số tiến tới chỗ thủ tiêu quyền hành của họ. Từ năm Minh Mạng nguyên niên (1826) đến năm thứ 9 (1828), ông tiếp tục các biện pháp truyền thống: vừa phủ dụ ban tước, vừa dùng vũ lực đàn áp các cuộc nổi dậy của tù trưởng. Đến năm Minh Mạng thứ 10 (1829), ông chính thức ban bố bỏ lệ thế tập của tù trưởng thiểu số. Vào năm Minh Mạng thứ 12 (1831), triều đình ban bố các quy định đặt chức thổ quan tri huyện, tri châu, xã quan tại vùng dân tộc thiểu số.


Trong số các dân tộc thiểu số vùng phía Bắc Việt Nam, thì dân tộc Mường tập trung chủ yếu tại tỉnh Hòa Bình và miền Tây Thanh Nghệ là đông người hơn cả. Do vậy, quyền lực của các lang cun, lang đạo ở đây rất lớn mạnh. Chỉ nói riêng vùng người Mường Hòa Bình, từ lâu đời đã hình thành 4 mường với quyền lực về chính trị, kinh tế rất mạnh là “Bi - Vang - Thàng - Động”. Minh Mạng đã kiên quyết xóa bỏ các đơn vị hành chính “mường” nói trên. Ông cho chia nhỏ ra các huyện, các xã như các vùng đất khác. Bằng biện pháp rất cương quyết, Minh Mạng đã “hạ cấp” các lang cun, lang đạo xuống chỉ còn như các tri huyện, xã trưởng. Với các biện pháp trên, Minh Mạng không chỉ hạn chế nhằm tiến tới xóa bỏ quyền lực của thổ tù, tù trưởng vùng dân tộc thiểu số, mà còn nhằm mục đích quan trọng hơn là xóa bỏ lãnh vực, địa bàn cư trú cổ truyền của họ, cũng chính là thủ tiêu nguồn gốc tạo nên quyền lực truyền thống đó.


Nhưng một chính sách mạnh mẽ, quan trọng hơn cả của Minh Mạng đối với vùng dân tộc thiểu số, đã giáng một đòn mạnh vào xu thế cát cứ, phân quyền là chế độ “lưu quan” được ban bố và thi hành từ năm Minh Mạng thứ 16 (1835) trở về sau. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, thủ tiêu chế độ thổ quan, chính thức bổ quan lại của triều đình lên cai trị trực tiếp các châu, huyện vùng dân tộc thiểu số.


Vấn đề toàn vẹn lãnh thổ dường như là vấn đề được Minh Mạng đặc biệt quan tâm. Minh Mạng đã tăng cường xác lập chủ quyền của nước Việt Nam ở các hải đảo, vùng biển và miền biên giới xa xôi. Đối với quần đảo Trường Sa, trước đó, từ tháng tư năm Tân Mão (1711), đời chúa Nguyễn Phúc Chu đã sai đo bãi cát Trường Sa dài ngắn, rộng hẹp bao nhiêu nhưng tới nay Minh Mạng lại tiếp tục khẳng định chủ quyền của triều đình ở vùng đảo này. Đối với quần đảo Hoàng Sa, thì vào tháng bảy năm Giáp Tuất (1754), đời chúa Nguyễn Phúc Khoát, sử nhà Nguyễn chính thức ghi chép về quần đảo này như sau: “Ở ngoài biển, về xã An Vinh; huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi có hơn 130 bãi cát cách nhau hoặc đi một ngày đường, hoặc vài trống canh, kéo dài không biết mấy nghìn dặm”. Đến thời Minh Mạng, ông tiến thêm một bước trong việc xác lập chủ quyền bằng cách cho lập miếu trồng cây ở đảo Hoàng Sa (Quảng Ngãi).


Năm Minh Mạng thứ 14 (1833) ông bắt đầu cho đặt pháo đài ở đồn Phú Quốc thuộc tỉnh Hà Tiên. Trước đây, đảo Phú Quốc dân ở đông đúc nhưng là nơi trú ẩn, nương náu của bọn cướp biển. Chúng hoạt động lúc ẩn, lúc hiện tấn công cướp bóc nhân dân trên đảo và thuyền bè qua lại vùng này. Đến đây, Minh Mạng sai quan tỉnh chọn chỗ đặt pháo đài ở Phú Quốc để phòng thủ cho nghiêm cẩn.


Nghe tin ở vùng vịnh Hạ Long có giặc Tàu Ô vào cướp phá, Minh Mạng lại phải cử Nguyễn Công Trứ lên làm Thự Tổng Đốc Hải An để lo việc dẹp giặc.


Cuối thu sắp sang đông, gió Bắc thổi mạnh biển thường động luôn. Các cù lao vịnh Hạ Long mờ mờ khi ẩn khi hiện trong đám sương mù. Nhiều cù lao cao chót vót, đá vôi trắng điểm những cây xanh mọc trong hốc trơ vơ và quằn quèo trước gió. Ở đây có những hòn đảo kỳ quái nổi lên, chỗ này một hòn, chỗ kia một hòn, khiến các thuyền thuộc lối thì mới khỏi lầm đường. Còn có những hang đầy nước ăn thẳng từ bên này hòn đảo sang bên kia, thực là những sào huyệt bí hiểm của giặc biển.


Tháng chín, Nguyễn Công Trứ đem binh thuyền chia đạo đến thẳng Chàng Sơn vây bắt giặc biển. Ông lấy một số thuyền đánh cá dẫn đường và cho một số chiến thuyền trá là thuyền đánh cá, buồm lái sẵn sàng đi trong một đêm gió thuận. Vịnh Hạ Long thật là chiến trường nguy hiểm cho thủy quân ta: rét mướt, thuyền nhỏ, súng ống ít, mà thuyền thì chèo ngóc nga ngóc ngách giữa các cù lao dễ bị lạc đường và có thế sẽ bị quân giặc nấp từ trên núi bắn xuống.


Nhờ yếu tố bất ngờ nên ta đến gần thuyền giặc mà giặc vẫn không biết. Trong màn sương mù đã thấy hiện ra những chiếc Tàu Ô, ba cột buồm, buồm hình cánh dơi, cao ba tầng, mạn thuyền đóng đai sắt, có mắc súng thần công.


Thuyền ta nhẹ, bơi đến sát thuyền địch, rồi quân ta xung phong lấy sào nhảy phắt sang thuyền địch mà đánh bằng đoản đao, mã tấu, chiếm lấy tầng trên có sàn gỗ dùng để giao chiến, chẹn cửa tầng dưới lên, khiến cho thần công của giặc vô dụng.


Nguyễn Công Trứ dẫn đại đội binh thuyền đến nơi. Từ thuyền ta súng bắn vào các mạn tàu giặc. Giặc bỏ tàu, dùng thuyền nhỏ bơi lấy bơi để vào bờ, bỏ lại hết súng ống, lương thực trên tàu. Thuyền ta đuổi một số giặc thoát thân chạy về cứ điểm trên đất liền.


Nguyễn Công Trứ hạ lệnh xông vào căn cứ của giặc. Xét thấy nhà giặc ở hơn 50 nóc đều có tang vật ăn cướp, trong trồng hoa lợi và lúa hơn 500 mẫu. Nguyễn Công Trứ cho đốt phá tuyệt đường lương thảo của giặc.


Tháng mười một, Nguyễn Công Trứ đem toàn bộ binh thuyền đi tới phần biển Ba Phong, Chân Châu gặp hơn 60 chiếc thuyền giặc.


Quân ta cứ đánh. Bọn Quản vệ Nguyễn Văn Ngữ lấy được ba chiếc thuyền nhỏ và khí giới. Vừa gặp gió đông nổi to, Nguyễn Công Trứ lại chạy thuyền qua Vân Đồn đợi gió thuận sẽ đi.


Tháng mười hai, từ làng Vựng thuộc châu Vân Đồn, Nguyễn Công Trứ nghe ngoài núi Ý Cầm có hơn 50 chiếc thuyền giặc, ông liền chia quân mình làm năm toán, nhân đêm tối kéo tới. Gặp lúc gió đông nổi to, sóng lớn, gần sáng giặc giương buồm chạy thoát.


Có một chiếc tàu giặc chạy chưa kịp, suất đội toán Tiền quân là Nguyễn Công Khuyến đi chiếc thuyền nhẹ đuổi kịp, chém được một tên giặc, còn bao nhiêu đều nhảy xuống biển mà chết.


Đến đây thấy ngược gió, Nguyễn Công Trứ tâu lên và xin tạm về Quảng Yên chờ khi gió thuận sẽ lại tiến đánh giặc tại Chàng Sơn.


Sau những trận ở Chàng Sơn, và ở Ba Phong, Chân Châu, vua ban thưởng cho các tướng sĩ thắng trận.


Mùa xuân năm sau, Nguyễn Công Trứ lại tới Chàng Sơn đánh giặc biển. Ông xin lập đồn, một sở ở làng Vịnh thuộc châu Vân Đồn, một sở ở làng Vĩnh Thực thuộc châu Vạn Ninh, một sở thuộc làng Xuân Áng thuộc huyện Ba Phong.


Tháng ba, Nguyễn Công Trứ đem binh thuyền đóng ở Vân Đồn.


Hai bang ngoài Hoa làm nghề cá là bang Khai Vĩ và Hà Cổ bắt tên tướng giặc Lý Công Tống và bắt sống đồ đảng 16 tên, giết chết 50 tên, cùng thuyền tàu khí giới nạp lại quân thứ, xin Nguyễn Công Trứ đem việc tâu lên cho hai bang đặng ở ngoài biển đánh cá chịu thuế.


Tháng tư, Nguyễn Công Trứ đem binh thuyền qua Chàng Sơn, lùng bắt được bốn tên giặc đầu sỏ. Chiêu phủ, bình giản được cả thảy 180 người, lập làm làng Hướng Hóa, lại tùy chỗ chia đặt bốn giáp đông, tây, nam, bắc, đặt Lý trưởng và Giáp trưởng để quản trị cho thuộc về châu Vân Đồn, trước bộ chịu thuế.


Công Trứ xuất 100 đồng bạc, 100 phương gạo cấp thưởng cho những người biết quay về chính nghĩa và bảo họ nên về xứ sở. Nhưng họ tình nguyện xin ở lại làm dân mình theo lệ như người Minh Hương. Công Trứ đem việc tâu lên. Vua cho thưởng thêm 500 quan tiền, khiến Công Trứ cho đòi tới hết thảy mà hiểu dụ và chọn chỗ cho họ ở. Nếu chỉ ưng ở trên mặt biển sớm đi tối về thì phải đuổi ngay, chớ để cho chúng sinh lòng xảo trá.


Thế là chỉ dùng uy và ân, Nguyễn Công Trứ đã dẹp được cái nạn Tàu Ô từng hoành hành trên mặt biển đông bắc, bắt người, cướp của, hãm hiếp đàn bà con gái, gây bao nỗi kinh hoàng cho dân ta nhiều năm qua.


Vào giữa trưa, mặt trời đã cao, một làn gió biển thổi mạnh quét các sương mù, đẩy vào núi ở phía tây... Các hơi ẩm này biến thành mây đen, dần dần theo gió mà leo lên đỉnh núi. Các hòn đảo dưới ánh sáng mặt trời lấp lánh lộ ra đủ mọi hình thù ký quái. Có hòn bốn mặt phẳng lì, đen bóng, tựa như những tấm gỗ lim bào nhẵn ốp lại. Có hòn uốn cong như chiếc ngà voi, càng lên cao, càng bị gió vuốt mạnh thon nhỏ và nhọn sắc. Đảo có chỗ quần tụ lại, xúm xít trông xa ngỡ chồng chất lên nhau.Có chỗ đảo tách ra hai vách thẳng đứng, đối diện nhau, một lạch nước hẹp chảy qua ở giữa, như con suối. Có chỗ đảo đứng dọc ngang, xen kẽ nhau, tạo nên nhiều lớp kéo dài như một bức tường thành vững chãi. Trên thuyền, ngồi ngắm nhìn, Nguyễn Công Trứ tự nhủ mình cũng phải giống như những hòn đảo kia, trở thành bức trường thành che chở cho đất nước để dân yên ổn làm ăn.


Một cánh hải âu sải cánh sà xuống mặt nước chộp mồi rồi vội vã bay vọt lên, vô ý va vào cánh buồm lộp bộp.


Mùa Đông năm Nhâm Thìn, Minh Mạng thứ 13 (1832) tàu nước Ma Ly Căn đến neo tại Vũng Lấm, Vịnh Xuân Đài - Phú Yên.


Thuyền trưởng Edmund Robert tìm xin vào hội kiến với Tuần phủ Phú Yên. Sau đó, lời xin giao tiếp được trình tấu về Triều. Minh Mạng chấp thuận và cử một sứ đoàn gồm có Nguyễn Tri Phương và Lý Văn Phức, từ Kinh vào Xuân Đài.


Theo lời Robert mời, Tuần phủ Phú Yên đưa hai vị sứ giả nhà vua lên tàu Peacock. Một đại yến được tổ chức ngay trên tàu để chủ khách cùng hỉ hả, tỏ tình sơ giao giữa hai nước. Trong dịp này Robert trình quốc thư của Tổng thống Andrew Jackson xin thông thương nhờ hai vị sứ giả nhà vua mang về Triều. Bức thư viết như sau:


Andrew Jackson, Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Kính gửi: Hoàng đế, Đại quý hữu,


Thư này sẽ đệ trình Hoàng thượng, Đại quý hữu, do Edmung Robert một công dân có giá trị của Hợp chúng quốc. Ông này đã được cử làm Đặc ủy viên của chính phủ chúng tôi, để thương nghị với quý quốc về các vấn đề quan trọng.


Trân trọng xin Hoàng thượng che chở và đối đãi tử tế với đương sự trong khi thừa hành nhiệm vụ. Tôi tin cậy hoàn toàn những điều mà đương sự sẽ đề đạt lên Hoàng thượng, nhất là tình thân hữu hoàn toàn và tất cả thiện chí của chúng tôi đối với Hoàng thượng.


Tôi cầu xin Thượng đế phù hộ Đại quý hữu.


Để chứng minh các điều nói trên, tôi cho kèm tỷ ấn của Hợp chúng quốc trên văn kiện này, lập với bổn ấn tại Hoa Thịnh Đốn ngày 31 tháng 1 năm 1832 là năm thứ 50 của nền độc lập Hợp chúng quốc


Phó thự            Ấn ký


   Edward Livingston Quốc vụ khanh                Andrew Jackson


Bức thư chừa một khoảng trắng ở trên, nơi dành cho danh hiệu vị Hoàng đế và quốc hiệu (có lẽ để Edmun Robert tùy tiện thêm vào, khi phái đoàn sẽ có dịp yết kiến nhà vua).


Qua lời trình tấu của Nội các triều thần, Minh Mạng cho là không hợp lệ, thiếu quy thức ngoại giao.


Vua dụ khiến: “Không cần đệ quốc thư, nhưng chuẩn cho giao quyền lãnh Thương bạc làm tờ tư lược phúc hồi: Nước họ muốn cầu thông mậu dịch, ta không ngăn cấm, nhưng họ phải tuân quốc pháp hiện hành. Tư hậu có đến giao thương thì phải đậu thuyền tại vũng Trà Sơn, thuộc Vịnh Đà Nẵng, chớ không được lên bờ làm nhà, vượt ngoài phạm kỷ. Giao tư văn cho họ thọ lãnh mà đưa họ đi”.


(còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








(1) Hồng Mao: chỉ người Anh



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 11.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »