tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19376709
05.03.2012
Vũ Bằng
Cười Đông cười Tây, cười kim cười cổ (5)

CÁI CƯỜI ĐỐI VỚI CÁC GIỚI


E- VỀ TÔN GIÁO: Ở Nhật Bản xưa, sáng sáng, lúc mặt trời sắp mọc, hàng vạn người kéo nhau ra chỗ khoáng đãng hướng về phía Đông lạy lục như người tập thể thao. Ấy là những tín đồ Hắc Trụ giáo.


Đạo Hắc Trụ lấy sống lâu làm tôn chỉ. Mà vị minh chủ là Hắc Trụ Trung tôn ở Cường Sơn.


Trước kia, ông cha ông mắc bệnh đau phổi mà chết. Nay bệnh hiểm nghèo ấy lại hành hạ ông rất tàn nhẫn. Bệnh càng tăng, trong người càng nóng nảy, sinh ra bực tức, lại càng gắt gỏng quá. Đến nỗi con hầu, đứa ở đều phải bỏ đi. Gia dĩ vợ con người nhà đều phải lảng tránh.


Sau ông tự nghĩ: “Đã đến nông nỗi này thì cũng khó lòng thoát chết được; chết bực dọc thì sao bằng thác vui sướng?”.


Tức thì ông trút hết lo phiền, mặt mũi lúc nào cũng tươi tỉnh. Nụ cười luôn luôn nở trên môi. Nếu gặp điều gì trái ý đến cực độ, ông chỉ nhếch mép mỉm cười, mọi sự bực tức tiêu tan ra mây khói hết.


Sáng sớm ông ra chỗ khoáng đãng, quay mặt về phía mặt trời mà thở hít khí trời trong sạch. Được ít lâu, da dẻ hồng hào, tinh thái sảng khoái, tinh thần vui vẻ, ăn rất khỏe, đi bộ hết ngày này sang ngày khác mà không biết mệt: Ông đã khám phá ra cái bí quyết sống lâu.


Bí quyết ấy như sau: hít không khí trong sạch.


Những bệnh nhân ở quanh miền mà các thầy thuốc đều chịu không chữa nổi, theo lời ông khuyên bảo đều khỏi hết. Tiếng đồn vang dậy khắp gần xa. Người đến theo học càng ngày càng đông, đến nỗi gây thành một tôn giáo.


F- VỀ CHÍNH TRỊ: Từ xưa, ở các nước Á châu, cũng như Âu châu, cái cười thủ một vai quan trọng trên trường chính trị.


Sở Trang Vương đời Xuân Thu say mê chơi ngựa quý. Vua trích hẳn của kho ra hàng vạn lạng vàng, trao cho người đi lùng khắp nơi dù đắt mấy cũng mua, cho kỳ được mới nghe.


Ròng rã trong mấy tháng trời, hao tốn không biết bao nhiêu tiền của nhà vua mới mua được một con ngựa vừa ý: khắp mình lông đen tuyền, mướt như nhung, bốn chân trắng toát tựa pha tuyết, ngày đi ngàn dặm mà không biết mệt. Ngày đêm nhà vua mải ngắm ngựa đến nỗi bỏ bê cả việc triều chính, nhiều khi quên cả bữa ăn, biếng cả giấc ngủ mà vua vẫn không chán.


Nhà vua lại lấy luôn của kho ra một số tiền lớn nữa xây cho ngựa một cái tàu vô cùng lộng lẫy, nguy nga sát ngay điện Kim Loan. Ngoài ra, ngựa lại còn được mặc áo gấm, còn thức ăn thì đủ cả cao lương mỹ vị.


Viên mã chính hi (quan coi ngựa) cũng thừa thế mà được ở một ngôi nhà tráng lệ, cất ngay bên cạnh tàu và thưởng trăm đĩnh vàng.


Trong nửa năm trời, con ngựa quý kia chỉ việc ăn no, ngủ kỹ. Đã không được đem sức mạnh ra để phạt Bắc bình Nam, lại vì tẩm bổ quá nhiều, ngựa phát phì rồi rực mỡ mà chết. Nhà vua thương tiếc vô cùng, thân hành xuống tàu viếng ngựa, rồi hạ lệnh từ quan Tướng quốc trở xuống đều phải đưa đám và để tang con ngựa.


Thấy việc trái mắt, các quan hết lời can ngăn khuyên giải, nhưng nhà vua không chịu nghe ai hết, không những thế lại còn dọa ai can ngăn nữa, thì bị giết. Họ bèn kéo đến nhà Lai Ưu Manh, nhờ can thiệp. Nguyên Ưu Manh là một vai hề pha trò rất có duyên. Anh ta thường được nhà vua tán thưởng và vẫn vào cung phô diễn tài nghệ.


Biết không có sức gì cản trở nổi việc quốc táng cho ngựa, anh ta đem tài pha trò của anh ra áp dụng. Bèn mặc đại tang, quần xô áo gai, tóc xõa, chân không tiến thẳng đến điện Kim Loan, giậm chân thình thịch xuống đất mà khóc ròng lên:


- Ới ngựa Thiên lý ơi, là ngựa Thiên lý. Người đi đâu mà bỏ tàu cao, áo gấm, màn lá, đêm cát… làm cho ta thương nhớ muôn vàn!!!


Vua nghe thấy tiếng khóc ảo não, giật mình ngự ra xem, bèn hỏi:


- Tại sao nhà ngươi phải đến tiều tụy như vậy?


- Muôn tâu thánh thượng, không may con ngựa có một không hai ở trên đời của bệ hạ bỗng nhiên lăn cổ ra chết. Bệ hạ thương tiếc vô cùng mới hạ lệnh cho các quan trong triều đều phải để tang cả. Theo ý riêng tôi, như thế cũng chưa xứng đáng với con ngựa hiếm có ấy! Điều đó làm cho tôi thêm uất ức khiến tôi phải lăn khóc thê thảm nhường này là cốt để thanh minh hộ ngựa.


- Vậy theo ý nhà ngươi, xử như thế nào mới phải?


- Muôn tâu thánh thượng, muốn cho khỏi tủi vong hồn ngựa thì phải dùng lễ đế vương mà táng.


- Lễ đế vương hơn lễ đại phu mà ta đã hạ lịnh cho các quan những gì nhỉ?


- Muôn tâu thánh thượng, xác ngựa phải để vào trong áo quan bằng vàng mười, ngoài có quách bằng ngọc bích. Trước khi đưa đám ngựa phải bắn bốn mươi chín phát súng báo hiệu. Bao nhiêu quan lớn quan bé trong sứ quán đóng trên đất nước Sở đều phải thân hành đi đưa đám ngựa. Còn muôn dân trong nước đều phải để trở ngựa trong ba năm cũng như vua, thầy, cha mẹ vậy. Có như thế thì ngựa của bệ hạ mới được mỉm cười nơi chín suối.


Mỗi tiếng “ngựa” đều được dằn mạnh xuống như nhắc nhở nhà vua rằng mỗi lần con vật của nhà vua được nâng cao lên một cách phi lý thì kiếp con người sống dưới chế độ chuyên chế càng bị hạ thấp xuống. Nhà vua đỏ mặt lên mà rằng:


- Thôi! Ta hiểu rồi! Ta vẫn chịu nhà ngươi có tài đóng kịch! Ta sẽ tức khắc cho bãi ngay cái lệnh quốc táng ngựa đi. Nhưng ta hỏi thật nhà ngươi: bây giờ nên chôn cất cho ngựa thế nào?


- Dám tin bệ hạ hãy giao cái xác ngựa cho hạ thần. Thần sẽ dùng một thứ quan quách riêng mà an táng cho mát vong linh ngựa. Thần sẽ lấy nồi làm quan, lửa làm quách còn nghĩa địa là cà bung này. Như thế thì dù cho đến muôn đời ngàn kiếp cũng không thể quên cho được.


Vua hiểu ý, bèn một mặt giao xác ngựa cho đồ tể, một mặt lập tức bãi lệnh quốc táng ngựa.


Ở thời đại này, cũng có những anh minh. Có hàng ngàn chuyện chế giễu anh minh, điển hình là chuyện “rắm thơm”.


Có một anh kia có tính nịnh quan trên, bất cứ cái gì của quan cũng khen lấy khen để.


Một hôm, ngồi ngâm thơ, quan nhỡ vãi ra một cái bủm thối hoăng lên. Anh ta nắc nỏm khen:


- Chà chà, cái rắm sao mà thơm quá!


Quan xụ mặt xuống nói:


- Ta nghe thấy nói người ăn cao lương mỹ vị vào có tiêu hóa thì mới tốt, mà tiêu hóa đều thì theo lẽ rắm phải thối. Vậy mà bây giờ rắm ta lại thơm, có phải là điều không hay?


Tức thì anh nắm cong bàn tay lại, vợt không khí một cái, đưa lên mũi ngửi rồi nắm nỏm:


- À, bây giờ thì nó lại thúi rồi. Cái rắm của quan lớn cũng hơn người có khác!


Cái cười dự một phần lớn vào việc sửa đổi phong hóa, bài trừ cái bệnh ăn tiền của bọn tham quan ô lại cướp bóc của dân.


Trong sách “Tận nhân sinh quan”, La Gia Luân đã dùng nụ cười thấm thía để cực tả lòng tham lam không đáy của bọn quan tham lại nhũng.


Ngày xưa có một viên quan tham lam. Đến khi chết xuống âm phủ, Diêm Vương xem đến lý lịch, đòi vào bệ kiến mà phán rằng:


- Vì tham lam quá, nên ngươi bị đày làm kiếp chó.


- Muôn tâu Đại vương, hạ thần xin vui lòng chịu tội, nhưng chỉ xin Đại vương mở lượng hải hà mà cho hạ thần làm kiếp chó cái.


- Đã là kiếp chó thì đực với cái cũng thế cả chứ gì! Hà tất còn phải xin với xỏ cho lôi thôi lắm chuyện.


- Muôn tâu Đại vương, số là con đọc sách “Lễ Ký” thấy câu “Gặp tiền tài thì chó cái được hưởng, mắc hoạn nạn thì chó cái được thoát” (Lâm tài mẫu cẩu đắc, lâm nan mẫu cẩu miễn). Bởi vậy con mới xin Đại vương cho con làm kiếp chó cái.


Tự đâu mà viên quan ấy lại điển tích chó cái (mẫu cẩu)?


Nguyên do ở hai chữ Nho “vô” và “cẩu” mà đọc chệch ra là “mẫu” và “cẩu”. Hai chữ “vô” và “mẫu” gần giống nhau. Vô là chớ có, đừng có, không nên. Còn chữ cẩu có hai nghĩa là cẩu thả, tạm bợ, một nghĩa là chó.


Thế mới biết máu tham ở trong con người đã nguội lạnh như nước đá mà chết vẫn còn sôi lên sùng sục.


Đấy là đơn cử mấy câu chuyện cười trong giới chính trị Á Đông. Dưới đây là chuyện chính trị bên trời Âu Mỹ.


1. Cười đã giúp một phần rất lớn trong cuộc tranh cử Tổng thống Mỹ. Rusơven (Roosevelt) là người đầu tiên đem tiếng cười vào trong chính trường Mỹ quốc. Cũng nhờ cái cười mà ông trở nên ứng cử viên số một.


Tất cả các người ứng cử phải cuộc “thi cười” thật gắt gao, thật ăn ảnh. Rồi vô tuyến truyền hình phổ biến đi các nơi. Không cần biết chương trình kế hoạch ra sao, ba mươi triệu nữ cử tri chỉ cần ứng cử viên nào có nét mặt vui vẻ, duyên dáng.


Trong một cuộc tranh cử Tổng thống, Aisenhao (Eishenhower) là ứng cử viên được giới phụ nữ hoan nghênh nhiệt liệt vì ông có một cái cười chinh phục lòng người. Thống đốc Bếttơn (John Baltle) là cổ động viên số một của ông đã nói:


“Cái cười của Aisenhao đáng giá hàng triệu Mỹ kim”.


Trong khi Aisenhao đi hết vùng này đến vùng khác, dân chúng được nhìn tận mặt cái miệng cười, đôi mắt cũng cười thì kết quả càng vững nữa.


2. Hồi còn nhỏ, Mútsôlini (Mussolini) đi xem hát, đến chỗ hay ông cười phá lên. Tiếng cười giòn giã đã truyền sang mọi người làm cho rạp hát như muốn vỡ. Người chủ rạp đã định mời ông ra khỏi cửa.


Ông lại còn có tài thay đổi mặt rất khéo léo và nhanh chóng. Trong khi cười, cái miệng tươi bao nhiêu thì cặp mắt lại dễ thương bấy nhiêu. Thế mà khi cau mày, mắm môi, nghiến răng thì lại đầy sát khí, chẳng khác gì hung thần.


Ngày mới chiếm được Libi (Libye), ông tới phủ dụ dân chúng. Dân nô nức kéo nhau đến dưới kỳ đài, chỉ trông thấy hai con mắt ốc nhồi và hàm răng ông nhe ra thôi. Trong lúc vui sướng, ông vẫy tay kêu người chụp ảnh của chính phủ đến. Nhưng người chụp ảnh vừa chạy đến gần thì thình lình đứng sững, trơ ra dưới luồng điện phát ra từ cặp mắt trợn tròn đầy vẻ hăm dọa dưới bộ lông mày co rúm với đôi môi mím chặt làm rụng tất cả những nụ cười của dân chúng đến hoan hô.


3. Nguyên thủ tưởng Mốtxađét (Mossadegh) nước Ba Tư có chuyện con gái út mới lên ba tuổi nói độc một chữ “không”. Ngày ngày, ông dắt con gái ra bàn giấy làm việc. Hễ có ai yêu sách điều gì quá đáng thì ông chỉ vào con gái mà bảo khách nhắc lại yêu sách cho nó nghe rồi nó sẽ trả lời. Tức thì cô bé đáp như cái máy “không”.


Thế là ông ngồi ngả lưng vào ghế, phá lên cười đồng thời đưa hai ngón tay xòe lên mũ mà rằng: “Cưỡng sao được con nhỏ này”.


4. Thủ tướng Anh Sớcsin với điếu xì gà dài thườn thượt, giọng nói khôi hài thấm thía đã lưu lại được nhiều cái cười lịch sử, quý giá.


Trong trận Đại chiến thứ nhì, ông chỉ lấy màn bạc làm thứ giải trí độc nhất. Ngoài tiếng hát của Điana (Dearina Durbin) ông thích coi những phim lịch sử, phim hài hước của cặp Ốm, Mập (Laurel Hardy) hoặc phim hoạt họa của Đisnây (Walt Disney).


Trận đại chiến ấy đã lôi cuốn nhiều nhân vật cao cấp quốc tế đến Luân Đôn. Sớcsin đã đem nhiều chuyện hoạt kê ra kể làm cho người nghe quên đi trong giây lát những đau khổ của chiến tranh.


5. Trong các cuộc hội họp quốc tế, Stalin (Staline) lúc nào cũng nghiêm nghị với nét mặt đăm chiêu. Chỉ riêng có Sớcsin bông đùa mới làm cho Stalin mỉm cười.


Trên trường chính trị, Stalin trang nghiêm bao nhiêu, đến khi đứng trước đàn bà con gái lại dịu dàng, nhũn nhặn, tươi cười bấy nhiêu. Trong khi tiếp các đại biểu các bà mẹ đông con ở điện Kremlanh (Kremlin), Stalin đã nói:


“Nói theo Lã Phá Luân đệ nhất, tôi chỉ cho phụ nữ một nụ cười. Sau này nếu gặp dịp, họ sẽ dâng cả đời sống cho tôi”.


6. Trước khi thôn tính nước Áo, Hítle (Hitler) ra lệnh cho thủ tướng nước ấy phải đến tìm ông tức khắc.


Với giọng “kẻ cả”, Hítle truyền:


“Tôi hạn cho ông: trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ, phải đem nước ông sáp nhập vào nước tôi. Nếu trái lệnh, tôi sẽ phái phi cơ đến kinh thành Viên (Vienne) mà dội bom xuống như mưa”.


- Ông Hítle ơi, ông làm như thế không sợ gây ra chiến tranh ư?


Hítle cười giòn giã, làm rung cả cửa kính:


- Đã đến nước này rồi mà còn định lấy sự khôn khéo ra dọa nạt nhau chăng? Tôi nói thật để ông hay: quân đội nước Áo của ông chưa đầy một miếng cho tôi nhé!


- Riêng Áo thì chẳng đáng kể, nhưng tôi dám chắc vuốt mặt phải nể mũi chứ! Hẳn ông cũng còn e dè nước Ý một chút thì phải! Vì Mútsôlini là đồng minh của nước Áo mà! Như thế tôi ngại rút dây phải động đến rừng chăng?


Lại một chuỗi cười như sấm dậy, Hítle nói:


- À, quân Ý! Quân Ý! Tôi quên khuấy đi mất không nói cho ông rõ: cả Ý lẫn Áo hợp lại thì may ra mới vừa đủ một miếng cho tôi, ông ạ. Tôi nói toạc cho ông biết: trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ, phải đầu hàng đi.


Dứt lời, Hítle hầm hầm bước ra để mặc khách ngồi trơ một mình trong phòng.


Nước Áo, sau đó, bị xóa hẳn trên bản đồ thế giới.


7. Ríp (Rip), nhà viết báo nổi tiếng đã đem những cái “đầu bự” ở Pháp ra làm đầu đề cho những chuỗi cười thấm thía. Ông ta nói:


- Đệ Tam Cộng hòa có hai cao điểm, hai thời kỳ đặc biệt.


a. Thất niên chính thể chế (septenat) của Tổng thống Lubê (Emile Loubet), thời kỳ mang may mắn năm 1900.


b. Thất niên chính thể chế của Tổng thống Đuméc (Doumergue), giờ phút của thời kỳ sau Đại chiến thứ nhất.


Hai cái cười chân thật và nổi tiếng nhất của hai vị Tổng thống Pháp ở Đệ Tam Cộng hòa đã được Carăng (Caran d’Ache) và Xenép (Sennep) mỗi người ở một thời đại tô điểm thành bất diệt.


- Cái cười trong giới chính trị còn nhiều. Ở Tô Cách Lan, dân có tiếng là kẹo, mà từ xưa đến nay các bộ trưởng kinh tế tài chính lại kẹo hơn nên thời nào cũng đầy rẫy những chuyện cười đả kích tính bủn xỉn. Đây là hai truyện cười tung ra nhân dịp Tô Cách Lan tổ chức hai cuộc thi bóng tròn.


a. Hai chú bé Tô Cách Lan là Páctrích (Patrik) và Giô (Joe) đều lên mười hai tuổi. Hai chú quyết tâm đi xem giải chung kết Tô Cách Lan hàng năm tranh đấu ở trên sân Hămđen (Hampden Park) tại thành phố Glagô (Glagow).


Páctrích chỉ vừa đủ tiền mua một vé đứng ngoài bãi cỏ. Còn Giô thì sờ túi mãi cũng không còn một xu. Đứng trước cảnh khó khăn đó, Páctrích bảo bạn:


- Mày định ra sao bây giờ?


- Mạnh vì gạo, bạo vì tiền. Mày có tiền, tùy mày đấy.


- Chúng ta có lời ước hẹn với nhau là cùng đi xem. Nay tao để mày ở ngoài, tao không nỡ. Vậy phải tìm cách gì cùng vào xem được cả chớ!


Hai đứa suy nghĩ một lát. Bỗng Páctrích kêu to lên:


- Được rồi!


- Làm sao?


- Chuyến tàu tốc hành Luân Đôn đi từ Glagô đến rồi. Chúng ta chỉ việc đặt một đồng hào lên đường sắt, bánh xe lửa sẽ làm bẹt nó to ra bằng đồng hai hào, lấy hai vé chớ sao!


Giô chau mày, đáp:


- Tùy mày đấy. Tiền của mày, muốn làm sao thì làm.


Vừa dứt lời, tiếng còi xe lửa rít lên, Páctrích vội vàng đặt tiền lên đường sắt rồi kéo tay bạn chui vào bụi rậm gần đấy đứng nấp. Tiếng bánh xe chuyển sầm sầm làm rung cả mặt đất. Tàu chạy xa rồi, chúng mới bò ra, rảo bước đến chỗ đặt tiền thì… chao ôi! Đồng tiền không cánh đã bay đi mất rồi!


Té ra chuyến tàu vừa rồi không phải là tàu tốc hành Luân Đôn, mà là tàu tốc hành Tô Cách Lan!


b. Mác Ađam (Mac Adam) ở kinh thành Êđanhbua (Edinburg) xứ Tô Cách Lan. Mác được thưởng một vé đi xem cuộc tranh hùng giữa Tô Cách Lan và Anh Cát Lợi trên bãi Hămđen.


Sau khi tính toán rất kỹ càng, Mác ra đi từ thứ ba cho đến chiều thứ bảy mới tới bãi đá bóng. Mác phải “cuốc bộ” đến bốn mươi lăm cây số vì kinh đô cách thành phố những hai trăm hai mươi lăm cây số.


Chỉ còn vừa đúng một khắc đồng hồ thì hai đội sẽ dàn quân. Mác mở ví lấy vé để qua cửa vào bãi. Lục soát hết túi này đến túi khác chẳng thấy vé đâu. Thì ra Mác bỏ quên ở nhà mất rồi.


Mác băn khoăn suy nghĩ mãi ở trước phòng bán vé. Sau, anh ta cương quyết đi về, vì sợ vào xem phải mua vé!


Bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Mỹ cũng là một đầu đề cho người ta vui cười.


Tục truyền khi người Mỹ phá tung gông, cùm, xiềng xích nô lệ mà người Anh cố đeo vào cổ họ thì tại Hội nghị Phi La Đen Phi, các nghị viên lỗi lạc, trẻ tuổi, trong đó có Giôn Ađam (John Adams), Hoa Thịnh Đốn (Washington) cùng Phrăngcơlanh (Franklin) bàn nên thảo một bản tuyên ngôn độc lập.


Để cho thế giới hiểu rõ người Mỹ bằng những nguyên cớ cuộc khởi nghĩa chính đáng, Giepphexơn (Jefferson) được toàn thể hội đồng tín nhiệm giao trọng trách ấy cho làm. Xong rồi, tác giả bản Tuyên ngôn Độc lập đưa cho Phrăngcơlanh xin góp ý. Ông này sửa đổi lại mấy chữ.


Đến khi họp hội đồng khoáng đại, ông nào cũng đưa ra ý kiến, bàn ra tán vào, kẻ thêm khoản nọ, người bớt điều kia, cứ nhao lên.


Nhìn rõ thấy tác giả tức bực về nỗi bản tuyên ngôn mình viết bị mổ xẻ nhiều quá, Phrăngcơlanh bèn bảo Giepphexơn:


- Việc hôm nay làm tôi hồi tưởng lại câu chuyện khi tôi còn đi tập việc như sau:


Một người bạn tôi muốn mở một ngôi hàng mũ, có đặt làm một cái biển “X… hàng mũ, làm và bán mũ tiền ngay”. Ở dưới hàng chữ, có vẽ một cái mũ.


Anh ta đưa cho bạn hữu xem.


Người thứ nhất nói:


- Hà tất còn đề chữ hàng mũ làm gì. Vì anh đã nói làm mũ rồi kia mà! Như thế có phải là thừa không?


Người thứ hai nối lời:


- Không cần phải đề chữ “làm” nữa, khách chỉ muốn có mũ dùng, chớ nào có để ý tới kẻ làm ra nó!


Người thứ ba nói:


- Mà cũng chẳng cần phải “bán tiền ngay” vì lột trần sự thật ra quá, e mất lòng khách. Anh nào không trả tiền ngay, mình không bán, việc gì phải lôi thôi.


Người thứ tư nói:


- Thế thì chữ “và” thừa. Xin bỏ luôn! Vậy thì chỉ mấy chữ “X… bán mũ” đủ rồi!


Người thứ năm ngắt lời luôn:


- Chữ “mũ” cũng thừa, vì đã có cái mũ vẽ ở dưới rồi.


Nét mặt Giepphexơn tươi tỉnh hẳn lên. Ai nấy cười rộ, dập tắt hẳn cuộc thảo luận huyên náo hơn đám cháy.


Sau đó, mọi người đều bỏ phiếu tán thành nguyên văn bản dự thảo không hề thay đổi một chữ nào.


Câu chuyện này làm cho chúng ta nhớ lại một câu của các cụ nhà ta “Điểm kim thành thiệt” (Nguyên văn thì hay, nhưng sửa chữa quá thành dở) và câu tục ngữ:


“Nhiều thầy thối ma, nhiều cha con khó lấy chồng”.


(còn tiếp)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nói có sách (2) - Vũ Bằng 29.05.2017
Nguồn gốc người Việt - người Mường: Nước Xích Quỷ - Tạ Đức 21.05.2017
Nói có sách (1) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (6) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (5) - Vũ Bằng 18.05.2017
OIJ chấm dứt hoạt động, sự nghiệp OIJ trường tồn - Phan Quang 17.05.2017
Ký ức tháng Tư - Trần Đăng Khoa 02.05.2017
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
xem thêm »