tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21055817
05.03.2012
Hà Minh Đức
Nguyễn Đình Thi - Chim phượng bay từ núi (18)

BẠN VĂN MỘT THỜI


Về các nhà văn nghệ sỹ mà tôi quen biết, trước hết, tôi muốn nói đến Tô Hoài (bút danh của Nguyễn Sen suốt mấy chục năm nay).


Xin cám ơn Nguyễn Sen, người đồng nghiệp và đồng chí đã cùng tôi và nhiều bạn văn nghệ khác đi trong ánh sáng và máu lửa cuộc đấu tranh cứu nước của dân tộc từ cuối những năm 30, đầu những năm 40 thế kỷ này cho đến tận bây giờ.


Nhiều năm, trong các tổ chức văn nghệ, tôi làm "trưởng", Sen làm "phó".


Tuy ở cương vị "trưởng" (chẳng hạn cương vị Tổng thư ký Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam), nhưng trên thực tế tôi luôn luôn làm công tác chỉ đạo ít hơn Sen. Sen làm thay tôi, làm giúp tôi nhiều lắm, nhiều lắm. Những việc Sen làm giúp tôi, tất cả đều chu đáo và đạt kết quả tốt đẹp. Mấy ai biết được công lao ấy của Sen đối với công tác quản lý văn nghệ nói chung, nhưng trước hết là đối với tôi nói riêng! Nhờ sự làm thay đó suốt mấy chục năm của Sen, tôi mới có thời gian để suy nghĩ, để tưởng tượng, để rung cảm, để viết, để sáng tác.


Bận như thế, nhưng từ sau khi miền Bắc được giải phóng (1955), Nguyễn Sen vẫn viết, viết rất nhiều. Hàng trăm tác phẩm của Sen từ cuối năm 30 đến nay chính là một bộ phim liên hoàn về cuộc sống nhân dân miền xuôi, miền ngược thuộc nhiều lứa tuổi, nhiều nghề nghiệp, nhiều thành phần, nhiều dân tộc, v.v.


Về Nguyễn Sen Tô Hoài, có thể lập được một bộ từ điển, từ điển Tô Hoài.


Trong con người Nguyễn Sen, khó mà tách bạch ra được chỗ nào là nhà văn, chỗ nào là nhà báo, nhà quản lý, chỗ nào là người công dân, người đảng viên, chỗ nào là người cha, người chồng, người em, người anh, người chú, người bác. Con người Nguyễn Sen là sự tổng hòa của những con người đó.


Một số đồng nghiệp hoặc nhà phê bình, nghiên cứu, lý luận cho rằng Tô Hoài khôn, rất khôn.


Tôi nghĩ khác. Nguyễn Sen không dại nhưng càng không khôn, càng không khéo. Nguyễn Sen thật thà và đôi khi, đôi khi thôi, hơi... dại.


Sen phê bình văn chương và con người của tôi nói riêng, của đồng nghiệp nói chung, sắc sảo, chính xác, công bằng, thận trọng và thẳng thắn.


Một số bài thơ của tôi, Sen đọc và bảo thẳng với tôi: Thi không biết làm thơ, tên anh là Thi nhưng anh không làm nổi một câu thơ xoàng. Tôi định đùa lại Sen: Vâng tôi không viết nổi một câu thơ xoàng, bởi vì tôi chỉ làm được những câu thơ hay; nhưng nghĩ thế nào, tôi lại không nói như vậy. Tuy nhiên, phải thừa nhận: Sen chê thơ tôi những trường hợp ấy, những câu thơ cụ thể ấy, rất đúng.


Trong cuộc sống, trong công tác, trong cư xử với bạn bè, Sen bình tĩnh, ôn tồn; còn tôi, không ít khi nóng nảy, thiếu bình tĩnh.


Hồi tổng kết vụ Nhân văn - Giai phẩm, bản tự kiểm điểm của Sen vừa chân thật, vừa gây xúc động cho anh chị em đồng nghiệp và cho cả cấp trên, mặc dầu Sen chẳng có lỗi lầm gì đáng kể.


Sen ít đòi hỏi về vật chất; nếu có đòi hỏi thì đó là đòi hỏi tế nhị về thời gian để viết và tế nhị đòi hỏi mở rộng hơn nữa tự do sáng tác cho người nghệ sỹ.


Sen không mặn mà với việc xuất hiện trước đám đông, trước các loại ống kính (nhiếp ảnh, quay phim, truyền hìnv.v.).


Hiểu nhiều về cuộc sống, về lẽ đời, về xã hội, về ngôn ngữ, về văn học, về Hà Nội, về đất nước, v.v. nhưng Sen ít lật ngược vấn đề, ít phản ứng (dù là phản ứng linh hoạt hay phản ứng chậm chạp), đặc biệt không bao giờ tranh luận với bất cứ ai về bất cứ vấn đề gì.


Viết, viết và viết. Đó là cách tranh luận, cách lật ngược vấn đề, cách phản ứng của Sen.


Sen là nhà văn suốt đời tự đổi mới, đổi mới ở những mức độ khác nhau trong từng giai đoạn khác nhau của đất nước. Đừng nghĩ rằng Nguyễn Sen không đổi mới. Hãy đọc cho kỹ khoảng một trăm năm mươi tác phẩm của Sen để thấy ánh sáng đổi mới ngày một rõ trong dòng sông chữ của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký.


Từ Dế Mèn phiêu lưu ký, O chuột đến Vợ chồng A Phủ, Mười năm, Vỡ tỉnh, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ, rồi đến hàng loạt tác phẩm khác thuộc nhiều thể loại, Nguyễn Sen đi từ đổi mới này sang đổi mới khác, lặng lẽ, rất lặng lẽ. Đổi mới trong tác phẩm của Nguyễn Sen luôn luôn xa lạ với lai căng, xa lạ với các kiểu viết phương Tây hóa, giai cấp hóa. Nguyễn Sen đổi mới trên nền tảng giữ lại tinh hoa văn hóa nhiều thế kỷ trước của cha ông theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.


Một trăm năm mươi tác phẩm của Sen là một kho báu tiếng Việt. Hàng trăm tác phẩm của Nguyễn Sen chứng tỏ rằng Sen là một chiến sỹ văn nghệ có đủ đức tài suốt đời đấu tranh bảo vệ tư tưởng đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh trên lĩnh vực văn học nghệ thuật. Hàng trăm tác phẩm của Nguyễn Sen góp phần đấu tranh cho sự phát triển tính dân tộc trong văn học nghệ thuật Việt Nam. Hàng trăm tác phẩm của Nguyễn Sen chia lửa chiến đấu chống lại mạnh mẽ những biểu hiện của sự giả dối, của chủ nghĩa cơ hội, của quan điểm giai cấp hóa trong văn học nghệ thuật Việt Nam.


Hương thơm Nguyễn Sen là hương thơm hoa sen, hoa hồng, hoa đào, không thơm lừng, nhưng tỏa dần vào trái tim bạn đọc, tỏa dần vào tâm hồn bạn đọc.


Trong số các văn nghệ sỹ Việt Nam thế kỷ XX, tôi muốn đặc biệt ghi nhận hình ảnh Thế Lữ (nghệ danh suốt đời của Nguyễn Thế Lữ). Tác giả Nhớ rừng sinh năm 1907, hơn tôi mười bảy tuổi.


Tôi quen biết Thế Lữ đầu những năm 40 thế kỷ này khi tôi bắt đầu lao vào phong trào thanh niên, học sinh, sinh viên Hà Nội dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản. Từ Cách mạng tháng Tám trở đi, Thế Lữ và tôi có dịp gần gũi trong hoạt động sáng tác văn nghệ, biểu diễn văn nghệ và trong công tác quản lý văn nghệ.


Thế Lữ là một nghệ sỹ cách mạng thiên tài.


Anh là một trong vài ba nhân vật có công lớn bậc nhất trong đại nghiệp xây dựng một nền văn học nghệ thuật Việt Nam mới thuộc nhiều dòng và nhiều thể loại khác nhau thế kỷ XX.


Các nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình của chúng ta chưa đánh giá được đầy đủ cả chiều sâu lẫn chiều rộng tác phẩm và hoạt động nghệ thuật của Thế Lữ.


Chỉ riêng về thơ, Thế Lữ cũng xứng là một thi hào, một nhà thơ lớn. Tôi nghĩ: trong đội ngũ những nhà thơ mới, Thế Lữ nổi bật ở vị trí số một.


Trong phong trào Thơ mới, thơ Thế Lữ vừa hùng hồn vừa êm dịu, vừa tha thiết vừa mơ mộng, vừa nồng nàn và hoàn toàn chưa bao giờ chìm đắm trong tình yêu đơn phương mềm yếu.


Nhớ rừng là một thành công phi thường của thơ mới, dòng thơ mà giới nghiên cứu, lý luận gọi là "lãng mạn". Trong Nhớ rừng có tiếng thét, tiếng gầm; có sự luyến tiếc một quá khứ oai hùng, một quá khứ mà hổ đã từng làm chúa tể. Bài thơ tràn ngập niềm kiêu hãnh của một con hổ chiến bại. Nhớ rừng là một bài thơ yêu nước. Nhớ rừng là một bài thơ của khát vọng giải phóng đất nước để trở về với cuộc sống tự do trước khi bị giam hãm trong xích xiềng nô lệ.


Với Nhớ rừng, tác giả muốn nói lên niềm tự hào về quá khứ oanh liệt của dân tộc trong bối cảnh Việt Nam đang bị thực dân Pháp xiềng xích. Được sáng tác trong bối cảnh công khai, hợp pháp của một xã hội như thế, lòng yêu nước và khát vọng tự do, khát vọng chống thực dân Pháp của Thế Lữ không thể nói trắng ra trong bài thơ được.


Đây là sự đánh giá của tôi (tức Nguyễn Đình Thi). Chính Thế Lữ cũng đã từng tâm sự với tôi về Nhớ rừng như vậy.


Nhớ rừng không phải là một bài thơ "có yếu tố tích cực", "thấp thoàng bóng dáng lòng yêu nước" như nhận xét của một số nhà nghiên cứu.


Cùng với Nhớ rừng Thế Lữ cũng ghi được một thành công đặc biệt trong Tiếng sáo thiên thai. Trên chốn thiên thai vang lên tiếng sáo dặt dìu trong cảnh múa hát tưng bừng của một bầy tiên nữ. Thế giới trong bài thơ là thế giới trong sáng, lành mạnh, yêu đời, không thoát tục.


Thơ mới của Thế Lữ đưa chúng ta vào những dòng sông, dòng suối trong mát của đồng quê Việt Nam, rừng núi Việt Nam; đưa chúng ta xích lại gần những tâm hồn Việt Nam, những mối tình Việt Nam, v.v. ngay trong xã hội Việt Nam đang bị Âu hóa thời ấy.


Hầu hết các nhà thơ mới thường nói về cái chết, về những nỗi buồn rũ rượi, những thất vọng trong tình yêu đơn phương. Thậm chí có nhà thơ mới mới 16 tuổi chỉ nói về sự điêu tàn, sự đổ vỡ, sự tan nát, sự tàn tạ.


Trong đại dương thơ mới buồn thảm như thế, thơ mới của Thế Lữ là một giọng hát trong trẻo, yêu đời và có khi đột xuất vươn tới một tiếng gầm, một khát vọng giải phóng dân tộc như trên tôi đã nói.


Vừa sáng tác thơ vừa viết kịch, vừa viết báo vừa viết tiểu thuyết, vừa diễn kịch vừa làm đạo diễn, vừa làm người quản lý cả một đoàn kịch, v.v. Thế Lữ, ngay từ trước Cách mạng tháng Tám, đã hoàn toàn xứng đáng là một nghệ sỹ toàn năng, một nghệ sỹ chiến đấu, chiến đấu cho một nền văn học nghệ thuật thám đẫm hương thơm của tinh hoa Việt Nam kết hợp với sự tiếp nhận một cách sáng tạo tinh hoa văn học nghệ thuật nước ngoài, nhất là văn học nghệ thuật Pháp.


Ngay sau Cách mạng tháng Tám, nghệ sỹ lớn ấy đã lập tức tập trung tài năng và bầu máu nóng yêu nước của mình vào lĩnh vực sân khấu kịch nói.


Tôi nghĩ rằng đoàn kịch Sao Vàng của Thế Lữ và một số anh chị em văn nghệ sỹ khác cần được nhìn nhận là một đoàn kịch cách mạng. Vì sao? Bởi vì Sao Vàng đã lao vào con đường yêu nước bằng nghệ thuật trong những ngày tháng sôi động ngất trời và gian khổ tột cùng ngay sau Cách mạng tháng Tám. Con đường đó chính là con đường nghệ thuật cách mạng! Đoàn kịch đó, đoàn kịch Sao Vàng, chính là đoàn kịch cách mạng!


Suốt từ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp cho đến khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ và khoảng mười năm sau ngày giải phóng miền Nam, Thế Lữ luôn luôn làm việc quên mình, làm việc liên tục.


Anh công bằng, thẳng thắn, chưa bao giờ lùi bước trước những yêu cầu hạ thấp nghệ thuật. Tác giả Nhớ rừng luôn luôn giữ vững quan niệm "sân khấu cách mạng phải là sân khấu thấm đẫm tâm hồn dân tộc Việt Nam, tư duy sáng tạo của dân tộc Việt Nam, không lai căng, không mất gốc, không tiếp nhận những công thức xa lạ với truyền thống sân khấu dân tộc, chỉ tiếp nhận có chọn lọc những tinh hoa của sân khấu nước ngoài".


Anh dứt khoát bác bỏ những vở kịch non yếu, dù là non yếu về nội dung hoặc non yếu về nghệ thuật. Anh chọn diễn viên không vì nể nang, không vì quen biết, không vì "cánh hẩu". Anh chọn kịch bản với yêu cầu cao về nội dung lẫn nghệ thuật. Anh làm việc thẳng thắn và nghiêm túc với tác giả kịch bản. Anh chăm sóc tận tình từng vai diễn của các diễn viên chính, các diễn viên linh hồn của vở kịch.


Bản thân anh vừa là đạo diễn vừa là diễn viên. Ở cương vị nào trong hai cương vị này, anh cũng cố gắng cao nhất với tất cả tài năng và bầu máu nóng của mình.


Anh bỏ việc riêng để tập trung tài sức vào công tác đào tạo lớp đạo diễn, diễn viên kế tục sự nghiệp của thế hệ trước.


Tác phẩm và hoạt động chỉ đạo nghệ thuật, hoạt động quản lý nghệ thuật của Thế Lữ phản ánh sinh động cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ và dũng cảm vì một nền văn học nghệ thuật Việt Nam thật sự mang tính dân tộc của những văn nghệ sỹ trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh.


Sự nghiệp Thế Lữ là phi thường. Bởi vì anh đã sống trong một thời đại phi thường, thời đại toàn dân Việt Nam, trí thức Việt Nam, văn nghệ sỹ Việt Nam vùng lên suốt từ giữa thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX để chặt đứt xích xiềng của chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới.


Sự nghiệp Thế Lữ là phi thường. Bởi vì anh không "kể công", không nói đến những đóng góp nhiều mặt của mình.


Sự nghiệp Thế Lữ là phi thường. Bởi vì anh đã làm việc hết lòng hết sức vì các ngành nghệ thuật để góp phần vào đại nghiệp đấu tranh cho một nền văn học nghệ thuật Việt Nam mới thấm đẫm tính dân tộc có tiếp nhận tinh hoa của các nước.


Thế Lữ thật sự là một con người, một nghệ sỹ toàn năng, một nghệ sỹ của những đỉnh cao, một chiến tướng trên lĩnh vực văn học nghệ thuật Việt Nam thế kỷ XX.


Trong các trường phổ thông và khoa văn các trường đại học, cần giảng dạy về Thế Lữ thành một tác giả riêng biệt. Ngoài ra, cần có một trường về văn học nghệ thuật mang tên Thế Lữ.


Trên lĩnh vực nghiên cứu văn học, tôi muốn nhắc đến Hà Minh Đức.


Phải ghi nhận ngay một điều: trong khi không ít nhà phê bình, nghiên cứu, lý luận; không ít cây bút có học hàm, học vị cao viết còn sai ngữ pháp, còn lủng củng, rườm rà, tối ý và khó hiểu thì Hà Minh Đức đặt trước mặt chúng ta những bài nghiên cứu khá chặt chẽ, diễn tả rõ được ý tưởng của mình. Nói một cách khác, văn Hà Minh Đức sáng sủa, mạch lạc. Đức không "đánh hôi"!.


Đức viết khỏe, viết nhiều nhưng không lặp lại, không loãng, không nhạt. Đức góp phần vào việc phác thảo gương mặt nền văn học cách mạng Việt Nam từ năm 1945 đến 1992. Qua một số bài nghiên cứu của Đức, bạn đọc thấy rằng dù đã đạt được những thành quả nào đó nhưng văn học cách mạng Việt Nam từ năm 1945 đến 1990 vẫn là một nền văn học đang tiếp tục tìm con đường tiến lên, đang tiếp tục tìm cách thoát khỏi những lối mòn, cố gắng tìm ra chỗ yếu cơ bản của mình. Qua một số bài nghiên cứu của Đức, bạn đọc còn phần nào thấy rõ: trong văn học cách mạng Việt Nam đã và đang diễn ra cuộc đấu tranh khi quyết liệt, khi kín đáo, khi tế nhị để có được những tác phẩm thật sự chứa đựng hạt nhân dân tộc, thật sự là sáng tạo, sáng tạo theo con đường dân tộc, không theo một nguyên lý nào của phương Tây, của các nước lớn Xô, Trung (tính tới khoảng năm 1990, 1991)


Đức ít viện dẫn những ông "ốp", ông "ép", những câu sáo rỗng về điển hình hóa trong văn xuôi, về tính chiến đấu và tính giai cấp trong văn học.


Đối với một số tác giả thuộc các dòng mà giới nghiên cứu, lý luận, phê bình thường gọi rất thô sơ là "lãng mạn", là "hiện thực phê phán", Đức cùng với một số người khác, bước đầu khẳng định không ít thành quả của các tác giả đó về một hoặc vài hoặc nhiều mặt.


Tôi (tức Nguyễn Đình Thi) biết: có những nhà văn, nhà thơ gật gù mỉm cười tiếp nhận ý kiến của Đức trong các bài nghiên cứu về tác phẩm của những anh chị em đó.


Như lần trước, lần này, khi tiễn tôi ra về, Nguyễn Đình Thi xuống cầu thang, tới tận vỉa hè, vừa siết chặt tay tôi hồi lâu, vừa nói to câu hát quen thuộc "Đất Việt yêu dấu ngàn năm". Sau đó, ông hẹn tôi ngày giờ buổi gặp sắp tới để tiếp tục nghe ông tâm sự.


Hà Nội, mùa xuân 2009


Nguyễn Đình Thi tâm sự, Nhật Hoa Khanh ghi


(Báo Người Hà Nội, ngày 11 - 9 - 2009)


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi. Chuyên luận, trò chuyện và ghi chép của Hà Minh Đức. NXB Văn học, 12-2011.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »