tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21054380
02.03.2012
Hà Minh Đức
Nguyễn Đình Thi - Chim phượng bay từ núi (17)

CÂU CHUYỆN XUNG QUANH CÔNG VIỆC


SÁNG TÁC NGHỆ THUẬT


Cái gọi là “sáng tác nghệ thuật”, theo tôi nghĩ, nó rất đơn giản, đơn giản như cái cây mọc lên, như bông hoa nở, như trái kết trên cành. Các anh chị ở đây đã có nhiều người có gia đình, thử nhìn vào đứa con của mình xem. Đứa bé mới sinh ra cứ mỗi ngày học biết thế nào. Nó đơn giản lắm. Nhưng cái đơn giản ấy lại kỳ diệu vô cùng, không thể phân tích cho hết. Tại sao khi có mặt người mẹ nhìn vào thì mặt đứa trẻ nó khác. Có người cười với nó, nó biết cười. Lớn lên chút nữa, đứa trẻ đã biết thích màu sắc. Rồi nó chập chững biết đi. Nó chú ý đến cái tay của nó. Nó múa.


Không nói những loài vật cao cấp như loài có vú, mà loài chim cũng làm nghệ thuật. Con công múa đẹp lắm. Con gà trống khi dụ gà mái cũng biết khoe bộ lông sặc sỡ. Nó phải làm sao “hấp dẫn”. Nó làm nghệ thuật đấy. Con chim hót, đến mùa sinh sản nó hót. Nó đang “sáng tác” đấy.


Không nói các loài động vật nữa, tôi nói cây cỏ. Đóa hoa là cái gì? Cũng có thể nói bông hoa chính là “sáng tác nghệ thuật” của cái cây. Nó là vẻ đẹp hấp dẫn của cái cây, nó là tình yêu ở trạng thái đơn giản nhất của sự sống, bông hoa làm cho sự sống tiếp tục, truyền nối! Và hoa có nhụy, có màu sắc, có hương thơm. Đã có màu sắc, lại có hương thơm nữa. Chỉ có màu sắc, thì ong ở xa một kilômét làm sao biết mà đến được? Tác phẩm nghệ thuật là “hoa” ta thường nói vậy cũng có lý.


Trong đó công việc sáng tác nghệ thuật có mối quan hệ giữa tâm hồn con người với thế giới bên ngoài. Tâm hồn con người càng trong bao nhiêu thì đón nhận sự vật bên ngoài càng dễ bấy nhiêu. Còn lắm lý sự, mà không đạt tới cái trong, thì cái bên ngoài sẽ bị mờ đi. Lắm chữ, lắm nghĩa, lắm chủ nghĩa... mà có khi thành ra cuộc sống ở ngoài vào như vấp phải cái màn. Một em bé mười tuổi có thể làm thơ và thơ hay. Tại sao như thế? Bởi vì cuộc sống qua tâm hồn rất trong ấy của em bé đã đi vào thơ một cách tự nhiên.



Làm nghệ thuật phải giữ cho được cái trong đó của tâm hồn, đừng có làm mất cái trong của mình đi. Vì thường dễ có những cái gì đấy làm cho nó mất trong. Có khi nghĩ đến mình nhiều quá thì sẽ mất trong. Bắt đầu thấy mình quan trọng là mất trong rồi. Và khi học nữa. Có cái học trong ra, và có cái học làm mờ đi. Trước kia anh là tấm gương, bây giờ anh là mảnh gỗ. Sự vật chỉ có ảnh lờ mờ trên mặt gỗ. Nghệ thuật không phải cứ học là làm được. Như bông hoa nở có sức sống, có quy luật bên trong của nó, đến lúc nở thì nó nở. Còn như ta muốn nở ngay, ta cầm tay kéo cánh này kéo cánh kia, hoa vẫn không nở. Sống thế nào để càng sống càng trong. Càng sống mà càng mờ đi, dầy cộm lên, thì không làm nghệ thuật cho hay được.


Các nhà lý luận của ta thường hay trích dẫn câu nói của Biêlinxki: “Nghệ thuật là tư duy bằng hình tượng”. Đây là một câu rất quan trọng, như cái chìa khóa, để hiểu đặc điểm của công việc nghệ thuật. Nhưng ta nên hiểu câu này như thế nào? Có lẽ nên nói “Tư duy trong nghệ thuật là tư duy bằng hình tượng” thì rõ hơn, tránh được sự hiểu theo cách hẹp cạn. Bởi vì nghệ thuật không chỉ là tư duy. Tôi nghĩ rằng nó còn là cái gì khác nữa. Làm nghệ thuật không chỉ đơn thuần bằng trí tuệ, mà phải sống, phải lăn lộn trong cuộc sống. Tác phẩm nghệ thuật trực tiếp từ cuộc sống của con người mà nảy lên. Có một ông người da đen, nói theo kiểu lạc hậu ngày xưa thì ta gọi ông là “mọi” ở châu Phi tít trong rừng sâu, chẳng học hành gì, làm một tượng gỗ mặt người. Vậy mà Picátxô họa sỹ giỏi nhất phương Tây, của văn hóa, của văn minh, của công nghiệp hiện đại, phải tìm học ông “mọi” này, bắt chước ông này đấy! Nếu cho nghệ thuật chỉ là tư duy, theo tôi là làm hẹp lĩnh vực của sáng tạo nghệ thuật. Lại nói “tư duy bằng hình tượng” nếu hiểu nghệ thuật là chỉ nhận thức cái cụ thể thôi thì cũng chưa ổn. Làm nghệ thuật phải tư duy rất trừu tượng nữa chứ! Ví dụ, tiếng nói đã là một cái gì trừu tượng. Một câu nói đơn giản nhất khi tôi nói: “Cái bàn này nhẵn” là tôi tư duy bằng khái niệm rồi, có phải chỉ cụ thể đâu?


Những nhà nghệ sỹ lớn đều là những người có hiểu biết đến nơi đến chốn. Tônxtôi viết Chiến tranh và hòa bình phải giỏi về chiến tranh, tả một ông tổng tư lệnh thì những hiểu biết của nhà văn về chiến tranh phải đến mức cũng có thể bàn bạc được với ông tổng tư lệnh. Có một đoạn Tônxtôi tả Kutudốp trong một hội nghị quân sự hop ở một túp nhà dân trước khi đánh trận Bôrôđinô. Đối lập với Kutudốp là những cố vấn Đức. Những cố vấn Đức ấy họ thích “khoa học”, máy móc, bài binh bố trận như xếp quân cờ, đi nước cờ. Kutudốp thì hiểu sâu nhiều mặt sống động, ông biết rằng đánh cố nhiên phải có kế hoạch, nhưng vào trận đánh cụ thể nó sẽ biến hóa ghê gớm, và ông thấy trước trận đánh này sẽ thua. Nhưng nhà vua trẻ thích tiếng tăm, ham đánh bằng được. Đám cố vấn kia biết vậy. Cho nên Kutudốp nói gì là cả đám cố vấn tướng lĩnh ấy xâu xâu vào bắt bẻ. Trong khi ấy, ở góc nhà có một em bé gái cứ thương ông già tội nghiệp lúc nào cũng có vẻ chịu thua. Viết được một đoạn như thế phải suy nghĩ lắm, em bé gái ấy chính là lẽ phải thông thường ở cái tuổi ngây thơ nhất, nhưng cũng là lẽ phải căn bản nhất. Cái em bé gái bênh ông già ấy, đó là lẽ phải của nước Nga.


Chúng ta đều biết câu nói của Gớt: “Bạn ơi, mọi lý thuyết đều xám, nhưng cây đời mãi mãi xanh tươi”. Nghệ thuật là một trong những cách sống, một trong những biểu hiện sự sống của con người. Sự sống của con người có nhiều biểu hiện. Thí dụ như con người sống phải lao động. Sống phải sinh đẻ. Sống về vật chất. Sống về tinh thần. Trong sự sống tinh thần có cái hoạt động gọi là hoạt động nghệ thuật, để con người nói lên là mình sống như thế nào. Hoạt động nghệ thuật này có cội rễ rất sâu trong mọi mặt sống của con người.


Gần đây chúng ta hay bàn đến chức năng của nghệ thuật. Và thường nêu lên những chức năng giáo dục, nhận thức, thẩm mỹ, có người nói đến chức năng giải trí nữa. Kể ra hiểu theo nghĩa nào đó thì người ta nói như thế. Nhưng tôi còn muốn hiểu khái niệm “chức năng” theo một cách khác, và tôi muốn xem những cái đã nêu trên kia (nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ, giải trí...) là ích lợi, tác dụng, chứ chưa thật là chức năng. Nói vậy không phải là hạ thấp ý nghĩa thật ra rất lớn của những tác dụng về nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ, giải trí này của nghệ thuật, mà chỉ muốn bàn cho hết lẽ. Vì muốn nhận thức chẳng hạn, thì người ta còn có khoa học, và có lẽ khoa học, giúp cho nhận thức hơn, muốn giải trí cũng có nhiều cách v.v... Nghệ thuật không phải do những cái đó, những lợi ích tác dụng đó, mà sinh ra, mà phải có. Để so sánh cho vui, chức năng của việc lấy vợ lấy chồng là gì? Là để khôn hơn à? Lấy vợ, lấy chồng cũng có khôn ra thật, nhưng đấy chưa phải là “chức năng” của việc yêu nhau rồi lập gia đình. Theo tôi nói gọn lại, văn học nghệ thuật là thức ăn tinh thần của con người, là chất nuôi sống tâm hồn con người, đó là chức năng của văn học nghệ thuật. Trong khi nuôi sống tâm hồn con người, nghệ thuật có nhiều mặt lợi ích, nhiều tác dụng lắm: Nó giúp cho giáo dục, nhận thức, thẩm mỹ, giải trí... Thân thể con người được nuôi bằng nhiều chất khác nhau, bằng gạo, bằng mỳ, bằng rau, bằng thịt... Nhưng tâm hồn con người thì phải có những gì nuôi được nó? Tâm hồn con người đang cần cái gì hiện nay mà viết trúng là phản ánh được thời đại. Có khi một đề tài, một chủ đề tưởng như ở đâu xa ấy, là lại trúng được đòi hỏi của thời đại. Mà nói chuyện bây giờ lại có thể vẫn chệch ra ngoài.


Thơ là gì? Tôi không dám định nghĩa thơ, nhưng tôi rất chú ý thấy có những ông bà cụ người nông thôn chất phác khi đọc thơ là tự nhiên rung đùi. Vậy thì thơ có quan hệ với nhịp đập thình thịch thình thịch của trái tim đây này. Không có nó thì có lẽ cũng không có thơ. Thử ngẫm cái thể thơ lục bát của dân tộc ta mà xem, trên sáu dưới tám, thở ra dài hơn hít vào, trong đó có cái gì “bí mật” đến thế! Chẵn mà lệch. Thể thơ Đường luật thì cân đối như “tinh thể”. Thể thơ lục bát “cân đối” như nhịp hơi thở của con người, nó đáp ứng được một đòi hỏi tự nhiên của sự sống. Ở ta, từ một người không biết chữ, một em bé cũng làm thơ lục bát được rất thuận. Loài người làm nghệ thuật hình như bắt đầu từ những nhịp trước: Nhẩy múa, âm nhạc, trong âm nhạc cũng nhịp đi trước, giai điệu đi sau. Một em bé bắt đầu làm nghệ thuật là nó múa. Ta thường nói “khí văn”, tức là cái nhịp đập thầm ấy, đọc câu văn nào không có cái nhịp đập bên trong ấy là nhạt nhẽo.


Theo tôi, nghệ thuật là một cách để con người biểu hiện sự sống của mình, sự sống từ cơ thể đến tinh thần, mà xã hội càng tiến hóa thì càng đi vào tinh thần, và tinh thần này không tách rời vật chất. Và nghệ thuật là một công cụ loài người tạo ra để giao hòa với nhau, để có nhau mà sống. “Giao hòa” không phải chỉ là “thông tin”. “Thông tin” chỉ là một mặt trong đó. Thí dụ như người ta nhảy múa là để giao hòa với nhau. Đã là người thì phải có nhau mới sống được. Kể từ đứa bé nằm trong lòng người mẹ là có sự giao hòa với nhau rồi. Ta thử tưởng tượng cho đứa bé vào lồng kính nuôi theo lối “công nghiệp”, như nuôi gà công nghiệp trong lồng ấp, nó không thành người được. Con người ta không thể sống một mình được. Trong sự “giao hòa” với nhau ấy, con người làm việc: thông tin, truyền kinh nghiệm sống, v.v... Và con người ta luôn sống giao hòa với nhau về tình cảm, cái này phải văn nghệ mới làm được. Mà có tình cảm thì mới có hành động. “Giải trí” cũng là một nhu cầu của con người giao hòa với nhau. Không nên khinh “giải trí”. Có nhiều thứ giải trí, giải trí dễ dãi và giải trí không dễ dãi. Giải trí cũng là quy luật của sự sống về tinh thần. Tình cảm trong nghệ thuật cũng như tình yêu. Khi ta “mê” một người, thì cái “mê” của tình cảm (passion) không phải là một dục vọng thấp mà là một tổng hợp về tinh thần, ta mê người ấy với cả bản năng và trí tuệ của ta.


Nói nghệ thuật là nói đến sự cao cả của tâm hồn. Đẹp tức là một cái gì cao. Đã nói đẹp là nói cao cả. Có khi nhà văn tả một cái rất xấu, một tội ác, một tên giết người, nhưng cách nhìn cách miêu tả cái đó phải cao cả. Đôtxtôiepxki, trong Tội ác và trừng phạt, tả một tên giết người, Raxkônhicốp, nhưng khi ông cho Raxkônhicốp ra ngã tư quỳ xuống hôn đất, nói “Tôi là kẻ giết người”, thì ngòi bút của ông tỏa ra ánh sáng. Nếu không cao cả thì không thể viết được như thế, Nguyễn Du tả Mã Giám Sinh, chính là một tên bẩn thỉu, mà ông viết:


Quá niên trạc ngoại tứ tuần


Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao.


Nếu Nguyễn Du không từ cái cao cả mà nhìn, không đứng ở chỗ cao của con người, thì không thể nhìn Mã Giám Sinh ra thế đâu.


Cái mà ta khâm phục nhất ở những nghệ sỹ lớn, là tâm hồn của họ. Bêthôven nói: “Tôi chỉ công nhận có một cái lớn, là cái lớn của tâm hồn”. Nhà nghệ sỹ có thiên tài đến mức ấy cũng nói như thế.


Bây giờ lại nói đến trí tưởng tượng. Ai cũng biết không có hoạt động tưởng tượng thì không có nghệ thuật. Muốn có khái niệm thì cũng phải có trí tưởng tượng. Cái này Lênin đã nói nhiều, xem Bút ký triết học sẽ thấy. Từ những cảm giác cụ thể, phải qua trí tưởng tượng mới thành khái niệm được. Cho nên trí tưởng tượng không đối lập với khoa học, và nghệ thuật với khoa học không phải là xa cách.


Trí tưởng tượng còn có quan hệ mật thiết với đạo đức. Có một điều rất quan trọng, là phải có tình thương mới có đạo đức. Có tình thật ở trong lòng mới là đạo đức thật. Nếu trong lòng không có tình thật mà làm một việc “đạo đức” thì đó là đạo đức bề ngoài thôi. Nhưng muốn cho tình thương nẩy nở trong con người thì phải cần đến gì? Phải có trí tưởng tượng mới có tình thương được. Nói “tôi thương một người” tức là bằng trí tưởng tượng tôi có thể đặt mình vào hoàn cảnh người ấy để hiểu và thông cảm với người ta. Không thể thương một cái gì mình hoàn toàn xa lạ không tưởng tượng nổi. Cố nhiên có một điều này: Có trí tưởng tượng chưa hẳn đã có tình thương. Nhưng không có trí tưởng tượng thì không thể có tình thương được.


Qua một nơi bị bom, tôi thấy có gì xúc động rất mạnh, đó là vì tôi tưởng tượng ở chỗ này đã có những ai bị chết? Những người mẹ nào mất con Người bà nào mất cháu? Và tôi nghĩ: Nếu nhà tôi ở đây cũng bị bom như thế này, con tôi chết bom, thì ra sao?... Cho nên càng có trí tưởng tượng bao nhiêu thì tình thương càng nhậy bấy nhiêu.


Chúng ta đọc một câu thơ, một câu văn, thoạt nghe tưởng như chẳng dính líu gì đến đạo đức cả, vậy mà động đến tâm hồn rất nhiều. “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi...”, câu thơ ấy của Bà huyện Thanh Quan tôi được học từ năm lên bảy tuổi mà đến bây giờ vẫn nhớ, và cứ đọc câu thơ ấy tôi lại thấy một cái gì rất mênh mông, như gọi mình suốt đời nên làm con chim bay mãi.


Trí tưởng tượng tạo điều kiện để đạo đức, để tình thương nẩy nở trong tâm hồn. Một tâm hồn không có trí tưởng tượng thì không thể có đạo đức. Văn học- nghệ thuật nuôi đạo đức trong lòng người bằng nhiều cách, nhưng có một cách rất quan trọng là làm cho trí tưởng tượng hoạt động lên, phong phú lên. Không nên chỉ hiểu tác dụng đạo đức của nghệ thuật một cách đơn giản là dùng lời văn, hình vẽ... để thuyết giải các nguyên tắc luân lý. Những câu thơ này của Nguyễn Du:


Một vùng cỏ áy bóng tà


Gió hiu hiu thổi một và bông lau.


Thì có quan hệ gì với “đạo đức”? Câu thơ tưởng như chẳng dính líu gì đến đạo đức cả. Nó không dạy cho người ta phải làm việc này thiện, việc kia thiện. Nhưng một câu thơ như thế cho người ta nhìn thấy một vùng cỏ úa với nắng chiều ngả vàng vàng, bên trên có mấy bông lau phơ phất, mà động lòng thương, nó cho ta thấy ngọn “gió hiu hiu thổi” và cảm thấy đằng sau đó còn có cái gì nữa. Con người đã giàu lòng thông cảm như thế, đã động lòng được với từng ngọn cỏ, lá cây, thì làm sao mà không động lòng thương những nỗi khổ của con người được? Con người đã hiểu được cả ngọn cỏ thì sẽ hiểu được nhiều nông nỗi con người.


Một bức tranh đẹp vẽ phong cảnh, thật ra, nuôi đạo đức con người, có ích với đạo đức con người hơn một bức tranh xấu, bôi bác, vẽ đề tài đạo đức mà gò cái đầu người ta lại, hoặc tình cảm trong bức tranh ấy giả dối. Chính bức tranh sau lại là vô đạo đức. Những tác phẩm giả nghệ thuật mà phổ biến là làm bại hoại đạo đức xã hội. Chúng ta phải nuôi đời sống tâm hồn con người bằng những tác phẩm có nghệ thuật thật, và kịch liệt chống những cái giả trong nghệ thuật. Vì cái nghệ thuật giả ấy làm bại hoại đạo đức, bại hoại tâm hồn con người. Mà cái bại hoại đạo đức này lại khó trông thấy, vì nó đánh vào cội rễ sâu kín, chứ không phải vào chỗ trông thấy của đạo đức. Nói như thế để thấy đi vào nghệ thuật không đơn giản được.


Có bạn hỏi tôi về cái luận điểm phân biệt “nhận thức cảm tính với nhận thức lý tính” nó quan niệm con người ta có các giác quan mắt, mũi, tai... như những cửa sổ, thế giới bên ngoài qua các giác quan ấy vào đầu óc người ta thành ra “nhận thức cảm tính”, sau đó những cảm giác tập hợp lại, thông qua lý trí so sánh, phân tích rồi mới trừu tượng hóa lên.


Vậy thì cái cơ chế của sự “biết” (của “nhận thức”) của con người qua các giác quan là như thế nào? Lấy thí dụ sự nhận biết qua hai con mắt. Con mắt, để người ta nhìn sự vật, không bao giờ chỉ như một cái ống kính máy ảnh, chụp nguyên lại hình tượng sự vật bề ngoài rồi hình tượng được đưa lên trí tuệ, rồi trí tuệ phán xét... Đứa bé khi trông thấy mặt mẹ, nó quờ tay, nó hôn hít từ đấy nó biết mặt mẹ nó. Khi con mắt nhìn là tất cả sự sống của con người nhìn vào, chứ không phải con mắt chỉ là ống kính máy ảnh thụ động ghi hình sự vật. Angghen đã nói: Mắt con chim đại bàng có sức nhìn xa hơn mắt con người, nhưng mắt con người nhìn thấy trong mỗi vật rất nhiều thứ hơn mắt con chim đại bàng. Mắt con người nhìn với toàn bộ sự sống của con người. Và khi người ta nhìn là cả trí tuệ thông minh, cả sự yêu ghét, v.v... mọi hoạt động của thân thể và tâm hồn dồn vào con mắt! Thế cho nên cụ Nguyễn Trãi mới có câu:


Ai ai cũng có hai con mắt


Xanh bạc đầu chưng mặt chúng ngươi.


Nghĩa là có một con mắt xanh và một con mắt trắng. Từ cái mặt người đến với mình mà mình nhìn với con mắt xanh hay với con mắt trắng. Anh đến với tôi tử tế thì tôi nhìn anh với con mắt xanh. Anh đến với tôi mà thế nào đó thì tôi nhìn anh với con mắt trắng. “Ai ai đều có hai con mắt” câu này của Nguyễn Trãi ghê lắm. Cái biết của con người là do sự va chạm tóe lửa ra mà thành cái biết. Toàn bộ hoạt động sống của con người mới ra được sự biết của con người. Nó là cái biết của con người sống, luôn luôn va chạm, đánh vật với thế giới bên ngoài, sự va chạm và đánh vật lớn nhất là trong lao động để sống. Nói cho đơn giản thì nhận thức có cảm tính, lý tính, nhưng nếu cho rằng hai cái đó là hai bước tách biệt nhau của nhận thực thì quá thô sơ và sai nữa. Nếu lại từ đấy suy ra nghệ thuật là đơn thuần cảm tính (thấp hơn), khoa học là lý tính (cao hơn) thì càng không đúng.


Con người ta sống rắc rối như thế. Tôi đưa ra những chuyện lan man, mong để nói lên cái ý là con người ta sống không bao giờ đơn giản đâu. Và con người ta sống đâu chỉ là cái ăn cái mặc, mà còn vì một cái gì đó nữa ở sâu bên trong tâm hồn, mà không có nó thì người ta không sống được. Có khi không có cái đó, người ta chết. Ta làm nghệ thuật chính là đem lại cho người ta cái gì đó để người ta sống. Nếu không giải đáp cho người ta những cái gì bên trong tâm hồn để người ta sống thì làm nghệ thuật làm gì? Làm để khoe tôi có tài, tôi đẹp, tôi hay... mà thôi ư! Nghệ thuật chính là phải giải đáp những đòi hỏi rất sâu bên trong tâm hồn con người, phải là thức ăn tinh thần, là chất nuôi sống tinh thần con người. Tâm hồn con người đang đòi hỏi, đang cần đến cái gì hiện nay mà viết trúng là phản ánh được thời đại, dù có thể là đề tài lịch sử hay hiện tại, đề tài viễn tưởng huyền thoại hay hiện thực.


Lấy một thí dụ nhỏ, theo tôi, tâm hồn con người phải có vui buồn. Nếu lờ cái buồn đi thì cũng không tạo được cái vui. Vấn đề là con người ngày nay đòi hỏi cái buồn nào, cái vui nào? Tâm hồn con người đòi hỏi sự tự do, phóng khoáng, nhưng cũng đòi hỏi sự vâng chịu. “Yêu” chính là vâng chịu, là tự đặt mình, khép mình vào một tập thể, một tập thể nhỏ nhất là hai người. Nếu có người nào không muốn vâng ai, không chịu một cái gì, thì đó làngười điên. Nhưng mặt khác, nếu tâm hồn con người bị ép chỉ có vâng chịu mà không được tìm tòi đặt những câu hỏi, tưởng tượng, v.v... thì cũng khô héo, không chịu nổi, và phải chạy vào những “đường hầm không lành mạnh”. Tâm hồn con người đòi hỏi hiểu và tin. Đòi hỏi tin mà không cho hiểu thì tâm hồn lệch lạc, ốm đau. Nếu “hiểu biết” mà trong cái hiểu này hoàn toàn thiếu lòng tin thì cũng ốm đau to. Tâm hồn con người là cái vô hình, không có giới hạn nào ngăn được, không gì ràng buộc lại được, nhưng lại đòi hỏi phải có rễ. “Rễ” đó là gia đình, xã hội, là dân tộc, là nhân loại, là quá khứ, là hiện tại, là sự hướng về tương lai. Con người không có rễ, bật rễ thì sống vật vờ, cái gì thổi đến là ngả, là theo.


Một nhà văn Pháp đã từng lái máy bay đánh nhau, đã viết về người lái máy bay rất hay, nhưng tác phẩm hay nhất của ông “hoàng tử nhỏ”, lại không phải là chuyện của người lái may bay. Nhưng rõ ràng chỉ những người nào đã bay nhiều, vượt ngoài mặt đất, lơ lửng trong không gian, giữa cái sống và cái chết, mới viết được chuyện như thế. Chuyện viết về một ông hoàng tử nhỏ ở một hành tinh xa bay đến trái đất, xuống giữa một sa mạc chết, hoang vắng. Triết lý của chuyện là con người ta phải ràng buộc vào một cái gì mới sống được, tình yêu thương và trách nhiệm với một cái gì đó làm cho người ta sống. Truyện này ai đọc cũng thấy hay, cả người gia và trẻ em, vì nó đáp ứng đúng yêu cầu trong bề sâu của tâm hồn con người. Tôi nghe nói học sinh các trường bây giờ thường thích học toán hơn học văn. Tại sao thế? Có phải vì ta còn dạy ít bài văn hay? Một bài văn hay khác nào một dòng sông để người ta bơi mãi, bơi ngang bơi dọc cũng không hết nước. Một bài văn dở như một vũng nước, đập đập mấy cái là cạn hết. Bắt các thầy dạy những bài văn như thế thì thật là làm tình làm tội ông thầy, và làm tình làm tội cả học sinh. Và khi làm một bài toán, các em phải động não, phải tìm tòi, nghĩ thế này, nghĩ thế khác mới ra giải đáp. Nhưng với một bài văn giảng dạy cứng nhắc thì tâm hồn các em không được tác động như thế. Dạy văn mà không gợi mở cho học sinh tìm cái này, tìm cái kia mới ra giải đáp thì nó cũng dễ chán.


Tôi nghĩ rằng văn học - nghệ thuật phải động đến toàn bộ tâm hồn con người, toàn bộ đời sống con người, phải dánh lung lay, lung linh lên hết. Và muốn xây dựng tác phẩm, nhà văn phải vận dụng toàn bộ cuộc sống của mình, phải hiểu biết nhiều và phải làm công việc tương tự như Niutơn nhìn quả táo rơi xuống mặt đất mà nghĩ được ra mọi vật hút nhau, mặt trời hút quả đất, quả đất hút mặt trăng... Tất cả những cái viết của nhà văn, sáng tạo của nhà nghệ sỹ là để cuói cùng tác động vào tâm hồn con người, và từ đó mà con người làm thay đổi thế giới. Tôi đặt một cốc nước này. Cạnh đó tôi xếp những chồng sách của Tônxtôi, Maiacốpxki, những ông khác nữa, cao ngất tận trần nhà, cũng không làm cái cốc này thêm một giọt nước nào, chứ sao! Vật chất mới làm ra được vật chất. Vậy thời tác dụng của văn học là ở chỗ nó thay đổi tâm hồn con người, rồi những con người đó cải tạo thế giới. Một cái cốc như thế này, sau khi đọc thơ Nguyễn Du mà tôi thấy phải làm cho nó đẹp hơn nữa, ví dụ tôi đi tìm mấy bông hoa đặt vào cốc, thì đó là tác dụng của nghệ thuật.


Bây giờ tôi xin chuyển sang vấn đề khác. Trong sáng tác văn học nghệ thuật chúng ta phải làm sao có được bản sắc dân tộc. Một dân tộc, dù chỉ vài vạn người, vài nghìn người, mà tồn tại được là một dân tộc, tức là có cái gì mạnh lắm. Chứ không thì qua lịch sử hàng nghìn năm, bao nhiêu sóng gió, làm sao nó tồn tại được?


Cố nhiên dân tộc, cũng như mọi thứ trên đời, nó chưa có, nó có, và rồi sau này cũng có thể mất đi. Nhưng, trong giai đoạn lịch sử dài, nó sẽ còn tồn tại. Cũng như đối với mỗi người, lên chủ nghĩa cộng sản không phải là để mọi người giống nhau hết, mà để phát huy được hết mọi khả năng của từng người. Một mà nhiều, nhiều mà một. Rồi ta sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản nhưng không phải văn hóa dân tộc ta sẽ giống “văn hóa chung” của nhân loại, mà ta vẫn có nền văn hóa dân tộc riêng của mình. Càng dân tộc, càng Việt Nam bao nhiêu thì càng nhân loại bấy nhiêu, cũng như càng người bao nhiêu thì càng Việt Nam bấy nhiêu. Không nên nghĩ rằng những cái tạo nên bản sắc dân tộc là chỉ có ở dân tộc mình, các dân tộc khác không có. Muốn tạo ra một cái “Việt Nam” không giống ai cả là phi lý. Những cái mà Việt Nam có, mọi dân tộc khác cũng có, nhưng tất cả những cái đó tập hợp lại như thế nào đó vẫn tạo thành bản sắc riêng của dân tộc.


Chúng ta phải học các dân tộc khác; phải học cho được tinh hoa của nền văn hóa mà cả loài người đã tạo nên. Học nền văn hóa các nước Xã hội chủ nghĩa anh em, các nước “thế giới thứ ba” gần gũi với tình hình chúng ta, các nước phương Tây đã phát triển công nghiệp trước ta. Nhưng trong khi học những cái hay của mọi nơi, cần nhớ mình là người Việt Nam, luôn luôn nhớ mình là người Việt Nam. Và phải biết được mình là ai? Văn hóa ta là thế nào?


Thế thì tính cách “Việt Nam” trong nghệ thuật là cái gì? Ta cần suy nghĩ không ngừng về câu hỏi ấy. Ở đây, tôi chưa dám đưa ra những câu trả lời, mà chỉ nhận xét rằng, có cách mạng, bây giờ ta mới hiểu được Việt Nam hơn. Thí dụ về ông Nguyễn Trãi, bây giờ ta có điều kiện hiểu ông hơn trước nhiều. Ông là một nhà nho. Nhưng Nguyễn Trãi lại là người Việt Nam. Tôi nhặt được trong thơ Nguyễn Trãi mấy chữ này: “Khó bền, mạnh gắng, khôn ngay, khéo đầy”. Đó là cách sống Việt Nam, không phải là những tín điều “quân thần, phụ tử, phu phụ”. Khó bền hợp với dân tộc mình có nhiều khó khăn, như Bác Hồ trước đây luôn luôn căn dặn là phải “Khắc phục khó khăn”, dân tộc mình muốn đối phó với cái khó thì phải bền. Mình không là nước lớn lại phải bảo vệ đất nước luôn bị đe dọa nên phải bền, không có con đường nào khác. Và cái mạnh của con người mình là ở chỗ gắng. Sức mạnh không phải ở chỗ to lớn, mà ở chỗ gắng. Không có cái khôn nào bằng cái ngay, người ta thường cho “khôn” là lắt léo, quanh co, nhưng ở Việt Nam ngay thẳng mới là khôn. Nói theo chủ nghĩa Mác bây giờ là có đường lối vững chắc mới đứng được, bao nhiêu thứ cơ hội chủ nghĩa đều rơi rụng hết. “Khéo đầy”, khéo là ăn ở cho đầy đặn như Bác Hồ bảo phải “ăn ở cho có tình có lý”. Cách xử thế Việt Nam là như vậy. Nguyễn Trãi đã dạy ta như vậy. Nhiều khi phải biết lịch sử mới hiểu được rõ chuyện bây giờ. Và có ánh sáng của ngày này mới thật hiểu chuyện cũ của lịch sử.


Tôi cũng có nghĩ về chuyện lễ phép của Việt Nam. Một cử chỉ thông thường khi gặp nhau là bắt tay. Cái này ở đâu ra? Nó là ở phương Tây. Nguyên thủy thế này: Hai anh bạn gặp nhau chìa tay ra như để phân bua. Không có dao đâu nhé! Họ sống với nhau như thế, gặp nhau là phải nói luôn: Này, cậu yên chí, tớ không có dao. Rồi lại đến hai anh lái buôn, sau khi mà cả với nhau, đồng ý rồi. Chìa bàn tay ra nắm tay nhau: Thế là xong, cứ thế nhé! Cái gốc của tục bắt tay là như vậy, nhưng rồi thời gian đã xóa nhòa nguồn gốc, thành ra ta không để ý nữa.


Người Nhật Bản gặp nhau thì cúi rạp xuống chào. Ông kia đáp lễ cúi xuống thấp hơn. Ông này lại cúi xuống thấp hơn nữa. Cứ thế một lúc, chào nhau không bao giờ một lần. Cử chỉ ấy muốn nói là: Thưa ngài, tôi là bề dưới của ngài! Ấy chết, tôi mới là bề dưới của ngài!... Ấy chết, tôi mới là bề dưới!... Cứ thế.


Ở ta bây giờ, trẻ con gặp người lớn chào: “Cháu chào bác”. Hoặc gọn hơn: “Chú ạ”. Và nó cứ trợn mắt lên thế này, mà không lạy. Nhiều anh bảo trẻ con ta như vậy hỗn, ngày trước trẻ con ngoan lắm, gặp người lớn nó chắp tay, cúi đầu, nói rất nhỏ nhẻ, lý nhí nữa: “Lạy bác ạ! Lạy chú ạ!”. Nhưng mà hay gì cái đó? Như thế có khác gì ngay từ bé, ta đã bắt nó tâm niệm  “Cháu là bề dưới của bác, cháu là bề dưới của chú” từ bé đã dạy như thế thì làm sao lớn lên nó đứng thẳng cái xương sống được? Cố nhiên, xin đừng hiểu lầm và tôi khuyến khích trẻ con hỗn láo.


Hình như theo lễ phép Việt Nam, người tiếp khách giỏi nhất là làm sao để người ta tự nhiên. Người khách đến nhà mình vẫn là người ta, chứ ông đến nhà tôi không phải hóa thành cái gì giống tôi, mà tôi tiếp ông cũng không hóa thành cái gì giống ông. Đó là cách tiếp khách Việt Nam, lễ phép Việt Nam. Ở đấy có văn hóa, có sự tôn trọng con người, quý con người. Bắt người ta phải giống mình mới quý người ta thì quý làm cái gì? Ở đây có một cách sống rất cao, chứ không thường đâu.


Cứ nhìn vào Bác Hồ là thấy cái cốt cách Việt Nam, lịch sử Việt Nam. Bất cứ trong hoàn cảnh nào, Bác Hồ cũng vẫn tự nhiên. Khách đến cũng thế, Bác làm cho khách được tự nhiên. Ai cũng có khi gặp Cụ Hồ, mình đang ngượng ngập lo lắng, chỉ một câu nói của Cụ làm mình được cởi mở ngay. Đấy là lễ phép lịch sự Việt Nam, là văn hóa Việt Nam. Đấy là lòng tin sự tôn trọng giá trị của người khác. Và giá trị bản thân mình.


Văn hóa Việt Nam quý con người lắm. Nhân dân ta có câu “Người ta là hoa của đất”.


Trong văn hóa có vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa cái bản năng tự nhiên của con người với cuộc sống xã hội thế nào. Cái gì ngược với sự sống tự nhiên của con người sẽ không đứng được. Nhưng con người phải có xã hội mới sống nổi. Tôi cho rằng: câu nói “Nhân chi sơ tính bản thiện” không hoàn toàn đúng. Thật ra con người mới đẻ, chưa biết thiện ác, nó sống và phấn đấu để sống, và chính xã hội và sự giáo dục sẽ vạch lên những nét đẹp hay xấu, thiện hay ác. Đứa trẻ có mặt biết thương và có mặt không biết thương đó là bản năng của nó, và nó có thể phát triển theo cả hai mặt ấy. Đứa trẻ chơi chuồn chuồn bứt cánh con chuồn chuồn, đó là vì nó chưa hiểu sự đau khổ, chưa biết thương. Vào cuộc sống xã hội không thể chỉ có bản năng, mà phải có trí khôn của đạo lí sống của xã hội, những đạo lí này cũng khác nào bản năng tập thể. Bản năng sống của từng người phù hợp với bản năng sống của xã hội.


Về mối quan hệ này, ở nhiều nơi khác nhau có những cách giải quyết khác nhau. Một là, lấy cái bản năng sống của từng người làm trên hết mà không cần đến cái chung của xã hội, như vậy chỉ có “cá lớn nuốt cá bé”. Hai là tàn bạo, không thấy từng người mà chỉ thấy xã hội, như vậy cũng chỉ nuôi cái ác ngầm dưới vỏ đạo đức, và trói buộc khả năng tiềm tàng của từng con người, cái tiềm năng này rất lớn chứ không nhỏ đâu. Mối quan hệ này ở Việt Nam giải quyết giỏi. Cái bản năng sống tự nhiên của con người được tôn trọng, đồng thời được hướng dẫn và phát triển hài hòa trong cái chung của xã hội. Xem trong ca dao, sẽ thấy rõ điều đó.


Cũng vậy, trong nghệ thuật của ta có sự phát triển hài hòa của cái thực và cái tưởng tượng. Xem hát chèo, ta không thấy có cửa gì cả nhưng vẫn có người mở cửa bước vào. Đó là thế nào? Đó là vừa thực vừa tưởng tượng quyện vào nhau. Kia là ngoài nhà, đây là trong nhà, nhưng cũng có lúc diễn mở cửa ra, đây lại là ngôi nhà. Cùng một khoảng này, lúc là trong nhà, lúc là ngoài nhà, đó là do trí tưởng tượng của khán giả.


Trí tưởng tượng ấy có cơ sở từ một cái có thực, chứ không viển vông. Nhưng không phải vì thực mà gạt bỏ tưởng tượng. Đó là trí thông minh của Việt Nam. Cả người diễn và người xem đều phải thông minh. Tác phẩm không bao giờ đưa sẵn cho người xem chỉ có bấy nhiêu, đưa ra một, người xem nhận được một. Trên sân khấu đưa ra một, người xem thấy mười, nhìn thấy cả những cái gì không diễn trên sân khấu. Cũng như việc giải quyết mối quan hệ giữa bản năng (cái tự nhiên) và yêu cầu xã hội (cái xã hội), mối quan hệ giữa cái thực và cái tưởng tượng trong sân khấu Việt Nam được giải quyết tài tình.


Có lần tôi về thăm Vạn Kiếp, ở đó vừa đào được cái đĩa cổ. Tôi xem những hoa trang trí trên đĩa cổ đó, đơn giản thôi, có bốn điểm chấm, mỗi điểm là một hình chữ nhật hơi lệch một tí. Tôi thấy đẹp quá. Nó vừa cân đối, vừa phóng khoáng, hơi lệch mà vuông vắn. Tài ở chỗ ấy, vuông vắn mà không khép kín, vẫn mở ra một cái gì. Vẫn không kết thúc mà vẫn mở. Mở mà không phải là không có phương hướng nào, mở mà vẫn có một cái gì gốc rễ ở cái thực vững chắc.


Về văn hóa Việt Nam, tôi cho còn nhiều cái lạ lùng phải tìm hiểu. Đó là do hoàn cảnh lịch sử tạo cho mình. Bản thân dân tộc mình có cái gốc của mình, nẩy nở lên. Rồi mình lại ở ngã ba ngã tư có nhiều dòng văn hóa gặp nhau ở đây. Dòng phương Bắc từ Trung Quốc đã đành. Dòng phương Tây từ rất xưa, từ Hy Lạp cũng đến mình, qua Ấn Độ. Có cả dòng phương Nam, gần với người da đen, cũng đến với ta qua biển Đông, biển phía Nam. Những cái này trộn vào nhau, như luyện “linh đan”. Ngay giống người Việt Nam chúng ta cũng có hàng chục dân tộc, sinh sống pha trộn hòa quyện với nhau, từ rất lâu đời. Đó là chỗ mạnh của mình về văn hóa. Cái thuyết nói rằng “chủng tộc trong sạch” mới là chủng tộc quý là không đúng đâu. Tôi thấy trong nghệ thuật Tây Nguyên có nhiều cái có vẻ họ hàng với nghệ thuật người da đen, như về nhạc, về mỹ thuật. Đồng bào Tây Nguyên rất nhạy bén về nhịp về màu sắc. Tôi đã xem cái gùi của các bà mẹ. Pha đặt màu sắc giỏi quá. Chỉ những thanh tre, nan tre nhuộm đan thành gùi mà thật như một bản hòa tấu bằng màu sắc riêng. Và ngay từ các em bé lên ba lên bốn cũng biết nhạc múa. Tôi đã thấy hai chị em, chị đánh đàn tơrưng, đứa em trai cầm những ống tre, ống thấp ống cao điểm theo. Lên bốn lên năm đã biết lúc thì đánh “pình,” lúc thì đánh “pinh”... Đó là cảm giác về hòa âm. Tôi nói đến Tây Nguyên, nhưng mỗi dân tộc ít người ở ta đều có những của báu về văn học. Mà ta có hàng mấy chục dân tộc cùng với dân tộc Kinh, tạo nên đất nước và cuộc sống Việt Nam. Cho nên trên một mảnh đất không rộng, dân không đông lắm, mà tạo nên một nền văn hóa hết sức phong phú.


Dân tộc ta đã có cách giải quyết nhiều vấn đề rất sâu sắc, ngay trong đời sống xã hội hàng ngày. Thí dụ về người phụ nữ chẳng hạn. Trong đạo Nho phong kiến nói “tam tòng”. Xã hội La Mã thời cổ cũng quy định người đàn bà lúc bé theo cha, lúc lấy chồng theo chồng, lúc chồng chết theo con trai lớn. Nhưng ở Việt Nam thời cổ không thế. Người đàn bà bên ta, người vợ, nhất là người mẹ, quan trọng lắm. Có lẽ vì nhiều chiến tranh, tai nạn, ly tán. Đàn ông đi đánh giặc, đi xa lo kiếm sống, người phụ nữ, người mẹ lo gánh vác đời sống cả nhà, như trung tâm liên lạc của gia đình. Mà đồng thời lại “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”!


Còn nhiều vấn đề phải suy nghĩ về cách sống Việt Nam. Bây giờ ở phương Tây người ta kêu gọi đề cao bản năng và tiềm thức trong nghệ thuật. Thậm chí sáng tác theo lối viết cứ như người lên đồng, cái gì đến trong đầu thì ghi ra. Mặt khác, có nơi lại hoàn toàn không biết gì đến cái tự nhiên của con người, có mấy cái khuôn sẵn, “hàn lâm” cho là hay đẹp, đem ép con người vào đó, không còn cho cựa quậy. Nghệ thuật ta có điều kiện để giải quyết thỏa đáng những mặt đó. Tôi xem những tượng gỗ dân gian thế kỷ XVII, XVIII của mình, rất “môđéc” (nói theo cách nói bây giờ), rất thực mà cũng rất tưởng tượng, phóng khoáng. Chúng ta là những người thợ của văn hóa Việt Nam, mỗi người phải đóng góp hết sức mình xây dựng nền văn hóa ấy, nhiều hạt thóc thành mùa lúa. Luôn nhớ mình là người Việt Nam. Phải cố tìm xem ta là ai đây, ta có cái gì, ta có thể đóng góp cho nhân loại cái gì. Nói rộng ra là như thế. Nói gần hơn thì ta viết cái gì, diễn cái gì cho người xem của chúng ta là người Việt Nam? Sáng tác nghệ thuật trước hết phải nhằm vào người xem của chúng ta là người Việt Nam...


Bài khai giảng khoá I trường Nguyễn Du


Duy Lập ghi  


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi. Chuyên luận, trò chuyện và ghi chép của Hà Minh Đức. NXB Văn học, 12-2011.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »