tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20004435
01.03.2012
Phan Quang
Wilfred Burchett - Nhà báo lớn, người bạn lớn

LUÔN CÓ MẶT Ở ĐIỂM NÓNG


 


            Tên tuổi Wilfred Burchett không xa lạ đối với bạn đọc Việt Nam. Với các nhà báo nước ta, ông không chỉ là một đồng nghiệp lớn, giàu kinh nghiệm, mà còn là một người bạn chung thủy, chân tình.


            Wilfred Burchett sinh năm 1911 tại thành phố cảng Melbourne (Australia). Năm 1936, chàng trai rời quê hương sang Luân Đôn, với hy vọng cơ hội trở thành phóng viên báo Tin nhanh hằng ngày. Một cuộc đời sôi động, một sự nghiệp lớn khởi đầu với từ công việc cực kỳ khiêm tốn trong tòa báo. Với thời gian, rồi đây ông sẽ được các đồng nghiệp công nhận là một chứng nhân của nhiều sự kiện quốc tế trọng đại nhất thế kỷ 20. Ông là nhà báo đã có mặt tại Đức lúc chủ nghĩa phát xít bắt đầu chuẩn bị đại chiến thế giới thứ hai, tại Trung Quốc khi nổ ra cuộc chiến tranh Trung Nhật, tại Miến Điện, Ấn Độ và nhiều nơi khác ở châu Á thời mà nhân dân châu lục này nỗ lực đấu tranh chống sự bành trướng quân sự của quân phiệt Nhật... Ông để lại rất nhiều bài báo thực sự có giá trị về các sự kiện ấy.


            Ngay sau khi quân đội Mỹ ném quả bom nguyên tử đầu tiên xuống thành phố Hirosima vào cuối chiến tranh thế giới, ông là nhà báo nước ngoài đầu tiên đặt chân tới thành phố chết chóc, nơi vừa diễn ra tấn thảm kịch khó tưởng tượng nổi do con người gây nên cho người. Khi cuộc chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Liên Xô tới hồi gay cấn nhất, quân đội Mỹ và đồng minh bị cô lập trong thành phố Berlin, ông có mặt ngay ở đây để kịp đưa tin về cái “cầu hàng không” do Mỹ vừa thiết lập để tiếp tế cho đạo quân Mỹ trong thành phố. Sau đó, ông sang Budapest (Hungari) làm phóng viên thường trú cho các báo Tin nhanh hằng ngàyThời đại của Anh tại Trung Âu .


            Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, đưa nhà báo trở lại châu Á. Ông sang châu lục này làm phóng viên mặt trận, rồi khi hai đối thủ cuối cùng phải ngồi vào bàn đàm phán, W. Burchett trở thành phái viên báo chí châu Âu theo dõi Hội nghị Panmungjung (Bàn Môn Điếm). Khi chiến dịch Điện Biên Phủ thu hút sự quan tâm tập trung của cộng đồng quốc tế, ông đến Việt Nam, tiêu điểm mới của thời cuộc, và lần đầu tiên được gặp và phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh.


            Đến thời gian này (1954), trong mục liệt kê tác phẩm Cùng một tác giả in ở đầu các tác phẩm ông xuất bản, đã có ít nhất mười lăm đầu sách viết về các nước Trung Quốc, Triều Tiên và một số nơi ở Đông Nam châu Á... Tuy nhiên chiến thắng Điện Biên Phủ của nhân dân Việt Nam và lần ông được gặp Bác Hồ trong chuyến đi ấy đã để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong cả cuộc đời ký giả lớn. Nó mở ra cho W. Burchett một thời kỳ hoạt động thật sôi động, hào hứng, giúp ông liên tiếp cho ra đời những tác phẩm đặc sắc hơn nữa của một sự nghiệp vốn đã lẫy long trên thế giới.


            Tạp chí Người viết báo dân chủ của Tổ chức quốc tế các nhà báo OIJ tại một bài viết về ông, đã quả quyết: “Trong cuộc đời sôi động của mình, ông từng xuất bản nhiều cuốn sách, tựu trung nổi tiếng nhất vẫn là các cuốn viết về Việt Nam: Phía Bắc vĩ tuyến 17, Ngược dòng sông Mêkông,Cuộc chiến tranh không tuyên bố (của Mỹ)...  W. Burchett làm phóng viên cho tờ báo tiến bộ của Mỹ The National Guardian (Người bảo vệ dân tộc) cả một phần tư thế kỷ, vậy mà vẫn không được phép đặt chân vào Mỹ, cho mãi đến năm 1979 lần đầu chính quyền Mỹ mới không còn có lý do khước từ không cấp visa, vì ông đến Mỹ với tư cách nhà báo quốc tế đưa tin về kỳ họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên hợp quốc sẽ diễn ra năm ấy tại New York.  Nhà báo James Aronson, người sáng lập và chủ bút báo The National Guardian cho chúng ta biết nhiều chi tiết rất hay về cách làm việc và những cống hiến của ông.


 


            Thời gian Mỹ can thiệp và sa lầy vào Việt Nam, W. Burchett đang có mặt tại Hà Nội. Từ Việt Nam, ông gửi về Mỹ nhiều bài báo chân thực, xúc động nhằm báo động dư luận Mỹ, hãy quan tâm và dè chừng các bước phiêu lưu của nhà cầm quyền họ. Bài của ông chỉ đựơc tờ báo duy nhất Người bảo vệ dân tộc đăng. Còn báo chí lớn, trong đó có cả tờ The New York Times vốn tự hào với truyền thống “khách quan”, chưa một lần chịu trích lại nguồn tin đăng trên báo Người bảo vệ..., bởi lẽ đây là một tờ báo có xu hướng tự do cấp tiến. Nhưng họ lại lấy nguồn tin từ báo Manichi Simbun của Nhật Bản cho dù bài ở đấy cũng do chính W. Burchett cung cấp chứ chẳng phải ai, chỉ vì lý do đây là nguồn tin dùng lại từ một tờ báo lớn ở một nước cùng phe cánh với Mỹ, do đó “đáng tin cậy” hơn nguồn tin lấy từ một tờ báo Mỹ có quan điểm chống đối chính sách của nhà cầm quyền. James Aronson viết:


            “Vào giữa những năm 60, khi những chủ bút có lương tâm nhất biết chắc rằng công chúng Mỹ ( cho đến nay vẫn bị bưng bít) không hề nhận được những thông tin chân thực về tình hình nóng bỏng ở Việt Nam, và W. Burchett là phóng viên phương Tây duy nhất nắm được cái chìa khóa về những thông tin đáng tin cậy ở nước ấy, thì hãng thông tấn AP thi thoảng mới cậy W.B. viết và trực tiếp gửi tin về cho hãng mình. Tuy nhiên bất kỳ bài nào có ký tên Wilfred Burchett, cho dù đó chỉ là một thông tấn giản đơn về một sự kiện cụ thể không kèm theo bình luận, hãng thông tấn cũng đặt lên trước bài ấy một lời mào đầu in bằng chữ ngã, cảnh báo người đọc rằng tác giả bài dưới đây là “một nhà báo cộng sản” và khuyên bạn đọc “hãy cảnh giác”(1) khi đọc nội dung những dòng tin này.


            Việc làm bỉ ổi của hãng AP xâm phạm quyền thông tin bị nhiều nhà báo, kể cả nhà báo Mỹ có lương tri, cực lực lên án. Hãng AP đành thay đổi cái mào đầu bằng một công thức ghi chú khác, rằng “tác giả là một nhà báo có nhiều liên hệ với các nhà lãnh đạo cộng sản”(!), hàm ý độc giả hãy dè chừng.


            Mọi thư từ của W. Burchett trao đổi với các đồng nghiệp Mỹ, và đặc biệt với chủ bút tờ Người bảo vệ dân tộc, tờ báo trước sau kiên quyết phản đối cuộc chiến tranh Mỹ ở Việt Nam, đều bị CIA và FBI kiểm soát chặt chẽ. Họ cho sao chụp lại hết để nghiên cứu, lưu giữ. Mãi đến năm 1980, sau chiến tranh Việt Nam, vận dụng một điều luật mới được Quốc hội Mỹ vừa thông qua, báo Người bảo vệ dân tộc phát đơn kiện FBI (Cục điều tra liên bang), đòi phải trả lại cho tòa soạn báo mọi “hồ sơ” có liên hệ tới công việc của tờ báo cũng như trong mối quan hệ với họ với các cộng tác viên trong chiến tranh Việt Nam. Vậy mà thủ tục rề rà, mãi ba năm sau, đến tháng 1 năm 1983, tức là chỉ tám tháng trước khi W. B. từ trần, James Aronson mới nhận lại được các tư liệu liên quan tới nhà báo này. Hóa ra tất cả mọi thư từ, bài vở, kể cả phong bì thư, của nhà báo gốc Australia đều được người Mỹ sao chụp và đánh số thứ tự. Trong số thư tín này, có khá nhiều tin tức về cuộc chiến tranh Mỹ ở Việt Nam bị họ cố tình giữ lại để ỉm đi, hoặc ít nhất cũng làm chậm lại.


 


            Wilfred Burchett là một trong số ít nhà báo nước ngoài đầu tiên đến vùng giải phóng miền Nam Việt Nam, ông có dịp đặt chân lên đường mòn Hồ Chí Minh ngay từ những năm 60. Ông đã đi nhiều nơi, kể cả đến huyện Củ Chi thuộc vùng phụ cận Sài Gòn bằng xe đạp, để cùng nhân dân địa phương qua một cái Tết Nguyên đán tại một nơi “đêm đêm ông nhìn thấy rõ ánh đèn điện từ nội thành Sài Gòn hắt sáng lên trời”. Bộ phim ông quay được qua mấy chuyến đi ấy gửi ra nước ngoài, tháng 2 năm 1965 được 24 hệ thống truyền hình lớn trên thế giới cùng phát sóng. Đồng thời, tập phóng sự lớn về cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân các vùng giải phóng miền Nam Việt Nam của tác giả được xuất bản bằng tiếng Anh, nhan đề Việt Nam - Câu chuyện từ bên trong cuộc chiến tranh du kích. Cũng ngay trong năm 1965, cuốn sách ấy phát hành bản tiếng Pháp do Gallimard, một nhà xuất bản lớn tại Paris ấn hành với đầu đề có được thay đổi chút ít: Cuộc kháng chiến lần thứ hai - Việt Nam 1965. Tại Hà Nội, chúng tôi đã hào hứng đón nhận cuốn sách dày 353 trang khổ lớn này, bên trong có in nhiều bức ảnh có giá trị. Đây là một tác phẩm chân thực, sống động, ngồn ngộn chi tiết đầy sức thuyết phục, vô cùng đáng ngạc nhiên đối với độc giả nước ngoài. Nó trở thành một bức cẩm nang không thể thiếu cho bất kỳ ai muốn nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam thời ấy và ngay cả bây giờ.


            Cuốn sách mở  đầu với chương Khẩu cabin mẹ và các con của nó giới thiệu cuộc nổi dậy của nhân dân một huyện miền Nam cướp vũ khí địch ở bốt Tua Hai để làm cái vốn vũ trang cho mình đánh lại địch, một sự khởi đầu khá ư nhỏ bé nhưng rồi sẽ mau chóng phát triển không ngừng. Cuối sách, tác giả sớm khẳng định chiến thắng tất yếu của nhân dân Việt Nam và tiên đoán thất bại thảm hại không thể nào tránh khỏi của quân đội Mỹ cho dù quân đội ấy hết sức hùng mạnh, trang bị cực kỳ tối tân, tổ chức chỉ huy thật khoa học, vv. Nhà xuất bản Gallimard trân trọng giới thiệu với bạn đọc: “Vào thời điểm nguy hại của cuộc chiến tranh leo thang, đây là chiếc chìa khoá để hiểu rõ tấn thảm kịch (đang diễn ra) ở Việt Nam”. Còn tác giả thì kết thúc tác phẩm của mình bằng mấy dòng quả quyết như đinh đóng cột: “Trừ phi Mỹ phải dùng đến bom khinh khí để tiêu diệt hết mọi người Việt Nam, và cùng với họ, tiêu diệt nhiều người khác nữa thuộc các nước láng giềng, người Mỹ sẽ chẳng bao giờ có thể áp đặt nổi một giải pháp quân sự cho vấn đề miền Nam Việt Nam”.


            Năm 1968, Hội nghị Paris về Việt Nam khai mạc. Wilfred Burchett bay sang Pháp theo dõi và đưa tin về cuộc đàm phán bốn bên. Ông nhiều lần trở lại Việt Nam mà ông hết sức gắn bó và đã ủng hộ hết mình sự nghiệp chính nghĩa. Khi diễn ra những biến cố mới diễn ra tại Campuchia năm 1973, ông đang ở châu Âu. Lúc này đã khá cao tuổi, nhưng ông vẫn xông xáo đến tận nơi hầu như ngay tức khắc, để viết nhiều bài báo, ra thêm một số sách và thực hiện một vài bộ phim hiếm có về đất nước vừa trải qua cơn ác mộng nhờ sự giúp đỡ của Việt Nam, đang chật vật hồi sinh...


 


            Thành công của Wilfred Burchett trong sự nghiệp báo chí không chỉ bắt nguồn ở chỗ ông sớm tiếp thụ tư tưởng tiên tiến của thời đại, có cái nhìn sâu sắc, giàu tri thức thực tiễn và thật sự có tài năng, mà còn ở cách làm việc cần cù và khoa học. Ông lúc nào cũng tỏ rõ ý thức trách nhiệm rất cao đối với bạn đọc trên cơ sở nhận thức rõ ràng, đầy đủ về cái đức quan trọng nhất của người làm báo: trung thực, vì sự thực trước hết và trên hết. James Aronson kể lại:


            Trong đống giấy tờ của ông được cơ quan mật vụ Mỹ trả lại cho tòa báo, có một bức thư của W.B. đề ngày 29-10-1962 viết từ Moscou gửi tòa soạn, nét chữ hầu như không thể nào đọc rõ. Trong thư, ông xin lỗi vì đã không thực hiện được công việc tòa báo giao cho là viết ngay một bài về phản ứng của Moscou trước thái độ hung hăng của Mỹ trong cái gọi là cuộc khủng hoảng về vấn đề tên lửa Liên Xô bố trí tại Cu Ba thời gian ấy. Ông đau cột sống nặng, đang phải nằm điều trị tại bệnh viện, không thể nào nhúc nhích. Ông viết: “Chưa bao giờ tôi cảm thấy mình vô tích sự trong lao động như lúc này”.


            Nhưng sang hôm sau, cảm thấy người đỡ đau hơn một chút, ông dùng một tấm bìa cứng đặt lên bụng, và cứ nằm ngửa trên giường mà viết bình luận, thỉnh thoảng cố ngóc đầu lên xem chữ mình viết ra người khác có đọc được hay không; trong khi tai vẫn không rời chiếc máy thu thanh bán dẫn đặt ngay trên chiếc gối đầu để theo rõi diễn biến về sự kiện này trên trường quốc tế. Bài báo của ông vẫn được gửi kịp thời về tòa báo và được đăng tải ở Mỹ.


            Bất kỳ ở đâu, đi đâu: châu Á, châu Phi, châu Âu hay Mỹ la tinh, ông vẫn không rời các “công cụ bất ly thân”: cuốn sổ tay, cây bút chì, chiếc máy chữ, máy ghi âm và ghi hình. Có thể nói không ngày nào ông không làm việc. Tôi nhớ một lần, vào khoảng giữa thập niên 60, ông vừa từ vùng giải phóng miền Nam trở về Hà Nội. Cánh nhà báo chúng tôi tụ họp ở Câu lạc bộ Đoàn Kết (gần Nhà hát thành phố ngày nay) nghe người đồng nghiệp nói chuyện nghề nghiệp. Trả lời câu hỏi của một bạn Việt Nam, ông cho biết trong hoàn cảnh khó khăn nhất, ông vẫn cố gắng  không từ bỏ thói quen của mình: ban ngày quan sát, hỏi han, lắng nghe và ghi chép. Ban đêm, đọc lại, sắp xếp những gì thu lượm được trong ngày, đánh máy lại sạch sẽ, cố gắng hoàn chỉnh không chỉ về ý và cả về văn, để sau này khi cần khỏi phải chỉnh lý nhiều. Những gì dùng được ngay, có thể gửi đi không chậm trễ dưới dạng tin, bài thì tìm cách gửi đi luôn; những gì chưa thể hoặc chưa tiện dùng được vì nguyên nhân nào đó (chẳng hạn để giữ bí mật địa điểm, chưa công bố ngay) thì giữ gìn cẩn thận; đó sẽ là những trang viết, thậm chí những chương  sách khá hoàn chỉnh trong một tác phẩm sẽ thực hiện sau này. Cách làm việc ấy tự nó lý giải tại sao sau mỗi chuyến đi, nhà báo đều có tác phẩm trình làng. Rất nhiều bài của ông được viết ngay tại “điểm nóng”, vì vậy không ít bản thảo của ông tòa soạn nhận được, rất khó đọc vì viết vội vã bằng bút chì, thấm đậm mồ hôi tay hoay lang lổ vệt cà phê.


            Các đồng nghiệp đều công nhận ông là một “nhà báo quố tế”. Bạn bè thân thiết thì gọi ông là con người “toàn cầu”. Chẳng mấy ai biết chắc ông là người nước nào. Ông đi nhiều nơi, lưu trú tại nhiều nước, sử dụng thành thạo ít nhất sáu ngôn ngữ. Một lần tôi dẫn ông về thăm một hợp tác xã nông nghiệp ở ngoại thành Hà Nội. Một xã viên ghé tai tôi hỏi: Ông Tây này người nước nào mà thành thạo công việc làm ăn của dân ta vậy. Tôi lúng túng không biết trả lời thế nào cho đúng. Bởi ông sinh ra ở Australia, nhưng suốt đời làm việc cho nhiều tờ báo châu Âu, châu Mỹ. Vợ ông là người Bungari. Ông có ba con, thì một người sinh tại Trung Quốc, một người đẻ tại Hà Nội, và người con út làm giấy khai sinh ở Moscou. Và rồi đây ông sẽ trút hơi thở cuối cùng tại quê hương tươi đẹp của vợ ông bên bờ Hắc Hải, vào ngày 26-3-1983, thọ 72 tuổi.


 


            Đi rất nhiều nơi trên thế giới để làm việc, để phục vụ lợi ích con người, đến đâu ông cũng dễ dàng và mau chóng hòa nhập với nơi cư trú, tuy vậy dù không nói ra ông vẫn da diết nghĩ tới quê hương. Từ năm 1960, nhiều lần ông làm đơn xin trở về thăm tổ quốc, ở đó ông còn khá nhiều người thân thích, song các vị thủ tướng bảo thủ của xứ sở nổi tiếng rộng rãi đối với dân nhập cư này lại khước từ không cấp lại hộ chiếu hoặc thị thực nhập cảnh cho công dân Burchett, chỉ vì công dân này “có quá nhiều cảm tình và liên hệ thường xuyên với chủ nghĩa cộng sản”(!). Rất nhiều lần, ông đến làm việc tại các nước xã hội chủ nghĩa, trong tay chỉ có chiếc giấy thông hành do nhà chức trách Việt Nam dân chủ cộng hòa cấp. Mãi cho đến khi chính trường Australia có sự thay đổi cơ bản, sinh hoạt dân chủ nước ấy mở rộng, Công đảng lên cầm quyền, Wilfred Burchett mới được phép trở về thăm quê...


                                                                                      1985


 


           
BỐN MƯƠI NĂM SÔI ĐỘNG ĐỜI PHÓNG VIÊN


 


            Trong số bạn bè nước ngoài thân thiết được mời đến Việt Nam cùng nhân dân ta mừng mười năm giải phóng miền Nam, có bà quả phụ của nhà báo nổi tiếng Wilfred Burchett. Tại Câu lạc bộ Báo chí Việt Nam, Hà Nội, một số bạn cũ của nhà báo quá cố nồng nhiệt đón tiếp bà. Tôi đưa tặng bà số tạp chí Người làm báo mới ra có đăng tấm ảnh Bác Hồ tiếp W. Burchett cùng với bài giới thiệu sơ lược cuộc đời hoạt động sôi nổi của ông: Luôn luôn có mặt ở điểm nóng.


            Vui mừng được trở lại Việt Nam, bà xúc động thăm lại ngôi nhà cũ gần hồ Thiền Quang, Hà Nội, nơi bà từng cùng chồng và các con sống những ngày không thể nào quên thời gian ta đánh Mỹ. Chủ và khách cùng gợi lại những kỷ niệm chung về Wilfred. Bà kể lại những ngày cuối cùng của nhà báo. Ông qua đời ở tuổi 72, tuy đã có thể gọi là cao niên nhưng lại là lúc ông đang làm việc năng nổ như bất cứ bao giờ trong suốt bốn mươi năm làm báo. Đấy là sai lầm lớn nhất của đời ông. Ông không tuân thủ nghiêm ngặt ý kiến bác sĩ dặn phải nghỉ ngơi đầy đủ sau khi điều trị một căn bệnh hiểm nghèo. Ông đã sai lầm khi bắt tay làm việc quá sớm, khiến cơn bệnh tái phát, thầy thuốc gia đình không kịp trở tay.


            Bà hơi ngạc nhiên biết chúng tôi chưa ai đọc cuốn hồi ký của W. Burchett. “Đúng là sau khi phát hành mấy tuần, không thể tìm mua cuốn ấy ở bất kỳ hiệu sách nào bên châu Âu. Tuy vậy, bà nói tiếp, tôi hy vọng sẽ tìm một bản ở nhà và sớm gửi sang biếu các bạn. Trong hồi ký của mình, Wilfred dành khá nhiều trang cho Việt Nam.


 


            Và đây, chúng ta đọc được cuốn Hồi ký, không phải chỉ có bản tiếng Anh hay tiếng Pháp, mà hơn thế, bản dịch tiếng Việt do Nhà xuất bản Thông tin Lý luận ấn hành. Tuy đã lược bớt một phần, cuốn sách vẫn ngót 470 trang, gồm 28 chương và phần Thay lời kết luận.


            Với lượng thông tin đầy đặn được trình bày súc tích, cuốn sách đưa chúng ta lướt qua những ngày niên thiếu của nhà báo ở quê hương Australia, để từ đó đi sâu vào cuộc đời nghề nghiệp. W. Burchett dừng lại ở nước Đức của Hitler trong bối cảnh chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, rồi từ châu Âu ông được phái sang vùng rừng núi Ấn Độ để sang Miến Điện tìm đường vào Trung Hoa, đến thủ phủ tạm thời của của nước này đặt tại Trùng Khánh. Thời kỳ này, Trung Quốc thực hiện chính sách Quốc Cộng hợp tác kháng Nhật. Ông có bài phỏng vấn lịch sử nhà lãnh đạo Chu Ân Lai, một nhân vật thời ấy chưa mấy ai trên trường quốc tế biết đến. Từ đây về vùng đồng bằng Giang Tây - Chiết Giang đưa tin, bài phản ánh tại chỗ cuộc chiến đấu của nhân dân Trung Hoa. Cuối chiến tranh thế giới, bom nguyên tử Mỹ vừa ném xuống hai thành phố Nhật Bản Hirosima và Nagasaki, ông là nhà báo phương Tây đầu tiên có mặt tại Hirosima đang quằn quại trong đau khổ và tro tàn... Chiến tranh Triều Tiên nổ ra, nhà báo W. Burchett lại sớm có mặt ở bán đảo này. Quân đội Pháp bị bao vây tại vùng rừng núi Tây Bắc Việt Nam, ông xuất hiện tại Điện Biên Phủ. Mỹ leo thang chiến tranh Việt Nam, ông đến định cư luôn tại Hà Nội, để từ đây tìm cách vào vùng giải phóng miền Nam. Sau Việt Nam là Angola, Mozambic đấu tranh giải phóng khỏi ách thực dân Bồ Đào Nha, để lại có mặt kịp thời bên kia Đại Tây Dương, tại quốc đảo Cu Ba luôn sẵn sàng tay súng. Vậy mà ông vẫn có mặt tại Bắc Kinh khi nước này đón vị tổng thống Oatơghết Richard Nixon, và sau cùng trở lại Campuchia từ đây không còn là đất nước thanh bình nữa như hồi ông ghé chân để vào miền Nam Việt Nam, mà đang là nơi Khơme đỏ đang thực thi “sự điên rồ to lớn” của chúng... Liệt kê những sự kiện lớn như vậy để chúng ta hình dung cuộc đời vô cùng sôi động của nhà báo lỗi lạc, và cũng để thấm thía hơn khi tác giả khẳng định vào cuối sách, giữa bao nhiêu sự kiện lớn ấy, “Việt Nam là chủ đề quan trọng nhất trong sự nghiệp cầm bút của tôi” (trang 462).


            Xin để các nhà nghiên cứu đi sâu bình luận về khá nhiều thông tin thật độc đáo mà W. Burchett lần đầu cung cấp qua cuốn sách của ông, những thông tin mà vì nhiều lý do chưa từng được công bố trên các bài báo của ông hay bất cứ một nơi nào khác, hay là về những sự kiện trung tâm, những nhân vật từng là tiêu điểm chú ý của loài người mấy chục năm trở lại đây. Bài này chỉ giới thiệu với bạn đọc dưới góc nhìn nghề nghiệp.


 


Không phải ngẫu nhiên mà chương mở đầu cuốn hồi ký thuật những ngày nhà báo đến tỉnh Tây Ninh khi quân Pôn Pốt vừa tràn sang tàn sát dân lành, và chỉ mấy tuần nữa thì ở biên giới phía Bắc nổ ra cuộc chiến tranh vô nghĩa. Ông đưa tin về những điều quan sát tại chỗ, kèm theo những nhận định của riêng mình. Tuy nhiên một lần nữa trong cuộc đời làm báo của ông, giống như hồi nhân dân ta đánh Mỹ, những tin tức và bình luận cần được dư luận quan tâm nhất lại bị các tờ báo ở Mỹ, lần này kể cả tờ báo Người bảo vệ, là cơ quan nhiều năm đăng tin, bài của W.Burchett, gác lại không dùng. “Bây giờ, chủ bút  (báo ấy) không quan tâm đến bất kỳ tư liệu nào về Campuchia” - ông than thở. May sao, tờ Thời báo New York số ra ngày 23-01-1979 lại chọn đăng một trong những bài viết của ông về tình hình biên giới Việt Trung. “Đó là một trong những điều cảnh báo hiếm có của ông về điều sẽ xảy ra 25 ngày sau, khi đại quân Trung Quốc tràn sang Việt Nam để trả thù cho Khơme đỏ của Pôn Pốt vừa bị quân dân Campuchia, với sự trợ giúp của Việt Nam, đánh đuổi khỏi Phnôm Pênh. Báo Người bảo vệ có đăng nhưng lại dưới dạng cắt xén mỗi một bài duy nhất trong loạt bài ông viết hồi ấy về tình hình nóng bỏng ở Việt Nam. Đó là cuộc phỏng vấn Thủ tướng Phạm Văn Đồng. W. Burchett phản ứng ngay tức khắc. Ông viết:


            “Tôi đã làm điều mà phần đông các nhà báo biết tôn trọng lòng chính trực ai cũng phải làm. Ấy là nhắc máy điện thoại lên, xin nói chuyện với chủ bút báo Người bảo vệ và từ chức phóng viên... Bởi một vị chủ bút là đi loại bỏ tin tức về một đề tài như vậy là đã từ bỏ trách nhiệm của người chủ bút rồi. Đó cũng là sự vi phạm không thể chấp nhận được những khái niệm của tôi, mà tôi cho là chính thống, về đạo đức báo chí”.


            Nét nổi bật trong khái niệm về đạo đức báo chí là ý thức tôn trọng sự thật, và lòng mong muốn làm sao cung cấp cho bạn đọc một cách nhanh chóng và đầy đủ nhất những thông tin cần thiết về sự thật. Nhưng đấy không phải là sự thật bất kỳ về sự kiện bất kỳ nào diễn ra trên hành tinh, mà là “sự thật về những vấn đề thiết yếu có ảnh hưởng đến cuộc sống và lương tri người đọc”. Đạo đức báo chí mà ông quan niệm xuất phát từ quan điểm: “Nhà báo phải là một thành viên của xã hội loài người, có cùng chung quyền lợi, tránh nhiệm và nghĩa vụ như mọi người khác trong xã hội, kể cả quyền lựa chọn chính trị. Những đảng chính trị, nhất là những đảng tận tụy phấn đấu làm thay đổi xã hội, chứ không phải lợi dụng những thay đổi xã hội (để thu lợi cho mình), những chính đảng đó xứng đáng được các nhà báo dốc lòng ủng hộ sự nghiệp và mục tiêu của họ”. Nói cách khác, thông tin của báo chí phải là những thông tin có định hướng chính trị rõ ràng.


            Chính những quan niệm của ông về đạo đức báo chí, cái nhìn khách quan, trung thực của ông về tình hình Việt Nam trong  suốt thời gian hai cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã khiến cho các tập đoàn báo chí chịu sự chi phối của các công ty xuyên quốc gia coi ông là “một nhà báo có liên hệ chặt chẽ với các nhà lãnh đạo cộng sản”, “thậm chí W. B. là một người phát ngôn cho cộng sản Bắc Việt Nam” (tr. 367).


            Nếu đây chỉ là một nhận thức, một phán đoán của bất kỳ ai đó thì chẳng có gì đáng nói, cho dù nó đúng hay sai. Điều trớ trêu là các tờ báo lớn của Mỹ và nhiều nước phương Tây khác trong khi  cô lập W. Burchett, họ bắt buộc vẫn phải dùng nguồn tin do W. Burchett cung cấp (vì không tìm được nguồn tin nào khác chân thực hơn, hâp dãn hơn). Có điều là mỗi khi dùng nguồn tin của ông, họ buộc phải cho các bài ông viết đội cái “mũ” (chapeau) quen thuộc, hoặc ghi trước ở LTS (lời tòa soạn) đôi dòng, nhằm cảnh báo người đọc chớ nên tin những thông tin do một người gần gũi với cộng sản như ông cung cấp.


            Định hướng chính trị trong thông tin đối với W. Burchett không chỉ là niềm tin của cả một đời người, và tôi có thể nói nó làm nổi bật một đức tính khác của W. Burchett mà không phải nhà báo nào cũng có được, ấy là lòng dũng cảm và tính năng động. Thật đáng lạ là các bài ông viết vẫn hấp dẫn và xúc động sau lớp bụi thời gian dày những mấy chục năm, chẳng hạn khi chúng ta đọc lại những trang ông trần thuật về chuyến đi khẩn cấp tới thành phố Hirosima của Nhật Bản vừa bị bom nguyên tử, chỉ nhằm mục đích thông tin kịp thời cho bạn đọc, và qua những thông tin ấy cảnh báo loài người về một hiểm họa mới. Ông kể lại:


 


            “Ngày 14-8-1945, Nhật Bản tuyên bố từ bỏ chiến tranh (tức là đầu hàng vô điều kiện). Một vài giờ sau khi nhận được tin, tôi đã có mặt trên chiếc tàu chở quân Mỹ USS Milet có nhiệm vụ đưa đơn vị lính thủy đánh bộ đi tiên phong đổ bộ lên căn cứ hải quân Nhật ở Yokosuka. Mục tiêu phải đến cho bằng được của tôi trong chuyến đi này là thành phố Hirosima. Tài sản quý báu nhất trong số vật dụng tôi mang theo người lần ấy là một cuốn sách nhỏ có in sẵn những câu ngắn bằng tiếng Nhật. Nó sẽ giúp tôi tìm ra đường đi đến bất kỳ đâu trên đất nước ấy bằng cách đặt ra với những người Nhật sẽ gặp trên đường những câu hỏi đơn giản mà người được hỏi chỉ cần trả lời có hoặc không” (tr. 172-173).


            Từ quân cảng ấy, ông đành phải đi trên những toa tàu xe lửa chung với các sĩ quan Nhật bại trận đang hết sức cay cú vì phải đầu hàng. Đến Hirosima, “không khí càng căng thẳng hơn, cảnh sát Nhật nhìn tôi với vẻ thù địch lạ lùng. Ba mươi lăm năm sau trở lại thăm Tokyô và Hirosima, tôi gặp lại ông Nakamuca (hồi ấy làm phóng viên Thông tấn xã Nhật Bản), mà thật là điều kỳ diệu, ông hiểu sao ông đã có thể sóng sót sau khi chịu hậu quả của phóng xạ nguyên tử, ông cho biết rằng thời ấy đã có một vài viên cảnh sát có ý định bắn chết chúng tôi” (tr. 179).


            Ông đến tận nơi các bệnh viện đang cấp cứu những nạn nhân còn sống sót của bom nguyên tử Mỹ. “Đến một lúc tình hình không chịu đựng nổi nữa, bác sĩ Nhật Caxu lệnh cho ông phải rời khỏi bệnh viện ngay tức khắc. Bác sĩ nói tiếng Anh khá lưu loát: “Tôi không thể bảo đảm an toàn cho tính mạng ông được nữa. Tất cả những người ở đây thế nào rồi cũng chết. Tôi cũng vậy, tôi cũng sẽ chết...”


            “Trở về trung tâm thành phố Hirosima, - W. Burchett viết - tôi ngồi lên một tảng bê tông chưa bị nghiền nát thành tro bụi, một vật hiếm hoi giữa thành phố lúc này, và bắt tay đánh máy bài viết của mình. Một số chi tiết làm lạnh xương sống trong bài đã bị biên tập viên lược bớt, nhưng may sao bài báo vẫn lọt lên được trên tờ báo Tin nhanh hằng ngày xuất bản ở Luân Đôn (số ra ngày 06-9-1945) đại thể vẫn giống như bản thảo ban đầu của tôi, với đầu đề và câu đạo ngữ như sau:


 


TAI HỌA NGUYÊN TỬ


            Tôi viết bài này coi như một lời cảnh tỉnh cho toàn thế giới.


            Các bác sĩ gục ngã khi đang làm việc.


            Nỗi sợ hơi độc: tất cả mọi người đều đeo mặt nạ.


            Bài của phóng viên báo Tin nhanh, W. Burchett.


Là phóng viên của các nước Đồng Minh vào thành phố vừa bị ném bom nguyên tử Hirôsima, W. B. đã đi 400 dặm từ Tokyo đến thành phố ấy một mình, trên người không mang vũ khí, chỉ có lương thực đủ cho bảy bữa ăn - bởi thức ăn hầu như không thể tìm ra ở Nhật Bản lúc này - một cái ô đen và một chiếc máy đánh chữ. Sau đây là câu chuyện...


 


            Bản tin này được nhiều tờ báo lớn trên thế giới đăng lại từ báo Tin nhanh hằng ngày xuất bản tại Luân Đôn.


            Tướng Mỹ McArthur, Tổng tư lệnh đạo quân Mỹ chiếm đóng Nhật Bản, sai tổ chức ngay một cuộc họp báo để phủ nhận nội dung bài báo của W. Burchett đang làm sục sôi dư luận rộng rãi trên thế giới, lên án hành động quá bất nhân của Mỹ. Tại cuộc họp báo, một vị thiếu tướng giải thích rằng không có vấn đề phóng xạ nguyên tử rồi đây sẽ gây ra những vấn đề như W. Burchett mô tả đâu, “bởi vì quả bom nổ ở một độ cao đủ xóa bỏ mọi nguy cơ nguyên tử còn lại”. Nghe tin có cuộc họp báo, W. Burchett vội chạy đến, râu chưa kịp cạo, đầu không chải. Bằng những chứng cứ đanh thép, ông bẽ gãy các luận điệu của giới quân sự Mỹ. Ông kể lại trong hồi ký: “Người phát ngôn (quân đội Mỹ) có vẻ phiền lòng lắm”. Y nói với Burchett: ‘Tôi e bạn đã trở thành nạn nhân của sự tuyên truyền Nhật Bản rồi”. Và câu tiếp theo của y là: “Cảm ơn các bạn”, một công thức theo đúng như thủ tục thông thường để giải tán các nhà báo. “(Lời cảm ơn) được ném ra, vậy là cuộc họp báo kết thúc” (tr. 187).


            Tuy bảo vệ được chân lý, nhưng nhà báo bị quân đội Mỹ trù. Họ xua ông đến một bệnh viện quân sự để điều trị bắt buộc bởi “bạch cầu của ông giảm”, tiếp đó tổng tư lệnh McArthur ra lệnh trục xuất khỏi nước Nhật, vì tội “đã đi quá giới hạn vùng chiếm đóng quân sự”.


            Hơn ba mươi năm sau, W. Burchett mới biết mình đã rất may mắn: bản tin của ông đã thoát ra khỏi biên giới nước Nhật từ nay bị quân đội chiếm đóng kiểm soát gắt gao. Bạn ông, một nhà báo tên là George Miller, phóng viên tờ Tin hằng ngày Chicago, gần như cùng một lúc với ông, cũng đã đến được thành phố Nagasaki, thành phố bị Mỹ ném bom nguyên tử mấy hôm sau Hirosima. Anh đã lưu lại đấy ba ngày, đã viết những 25000 từ mô tả những điều mắt thấy tai nghe tương tự những điều W. Burchett viết. Nhưng G. Miller quá ngây thơ, anh cứ nghĩ mình xưa nay là một phóng viên tận tụy với quân đội Mỹ, vì vậy anh vẫn cứ nhờ bộ tư lệnh Mỹ chuyển giúp bài báo về tòa soạn cho kịp thời như thường lệ. Bài báo này, tòa soạn của anh sẽ chẳng bao giờ nhận được, bởi nó đã bị người của tướng McArthur đọc xong quẳng vào sót rác ngay lúc ấy rồi.


 


            Như W. Burchett nhiều lần nhắc lại, Việt Nam là chủ đề lớn nhất trong cuộc đời làm báo của ông. Năm 1957, từ Hà Nội, ông chuyển về Moscou và sống năm năm ở đấy. Ông trở thành phóng viên phương Tây thạo tin nhất về các nước xã hội chủ nghiã. Cùng một lúc ông nhận làm phóng viên cho nhiều tờ báo lớn ở Mỹ và Anh. Ông cho xuất bản hai cuốn sách bán rất chạy về chuyến bay đầu tiên của Iu. Gagarin vào vũ trụ, và chuyến bay tiếp ngay sau đó của G. Titov. Nhưng tình hình Việt Nam lại trở thành gay cấn do sự tráo trở của chính quyền Ngô Đình Diệm ở Sài Gòn và chính sách can thiệp ngày càng sâu của Mỹ. “Việt Nam đã bùng cháy trở lại” – là tiêu đề một chương trong cuốn sách mới của ông, ngọn lửa chiến tranh lại vừa bùng phát ấy cuốn hút ông trở lại đất nước mà ông yêu mến.


            Trở lại Hà Nội, ông vào ngay vĩ tuyến 17, thăm và viết bài về vùng đầu cầu Vĩnh Linh. Ông muốn vượt luôn qua ranh giới phi quân sự để vào miền Nam Việt Nam nhưng không thể được, vì làm như vậy là vi phạm Hiệp định Paris về Việt Nam. Vừa ốm dậy, ông bay sang Vientiane (Lào), cải trang để đến Phnôm Pênh thủ đô Campuchia bằng cách đi nhờ chuyến bay thường kỳ của Ủy ban quốc tế Giám sát đình chiến, rồi từ đất Campuchia theo đường bộ vào vùng giải phóng miền Nam, mạn Tây Ninh. Chuyến đi này sẽ cung cấp tư liệu cho ông viết và xuất bản cuốn sách Cuộc chiến tranh lén lút (của Mỹ). “Vậy là tôi đã bước sang một giai đoạn quan trọng nhất trong đời nghề nghiệp của mình kể từ sau sự kiện Hirosima) (tr. 303). Ông cùng nhân dân miền Nam dự liên hoan đón Giao thừa năm Giáp Thìn (1964) tại một ấp thuộc huyện Bình Chánh, cách thành phố Sài Gòn khoảng ba dặm về phía Tây Nam. Thời gian này, ông đã nhiều lần hành quân cùng quân du kích Nam Bộ, từng trải qua lắm hiểm nguy; có lần bị địch tập kích bao vây, phải sống trong địa đạo Củ Chi, có lần suýt ngất đi vì mệt khi phải tự mình vác xe đạp chạy qua trảng cát nóng thuộc tỉnh Bình Dương trong khi trên đầu máy bay Mỹ lượn lờ tìm mục tiêu để diệt...


            Cuốn phim nhựa W. Burchett quay tại miền Nam nước ta tháng 2 năm 1965 được 24 hệ thống truyền hình lớn thuộc nhiều nước khác nhau cùng phát lên sóng, gây tiếng vang lớn trong dư luận thế giới. Một tập phóng sự dày cùng chủ đề được xuất bản gần như cùng thời điểm bằng cả tiếng Anh và tiếng Pháp. Trong sách, W. Burchett quả quyết: “Trừ phi Mỹ phải dùng đến bom khinh khí để tiêu diệt hết mọi người Việt Nam, và cùng với họ, tiêu diệt nhiều người khác nữa thuộc các nước láng giềng, người Mỹ sẽ chẳng bao giờ có thể áp đặt nổi một giải pháp quân sự cho vấn đề miền Nam Việt Nam”.


            W. Burchett am hiểu sâu sắc cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, trước sau ông tuyệt đối tin tưởng vào tính tất thắng của nó. Theo lời ông kể lại, tại Bắc Kinh thủ tướng Chu Ân Lai nghe ông kể về những ngày ông ở vùng giải phóng miền Nam, đã phải thốt lên: “Thật là phi thường... Nếu trước kia chúng tôi có được những kinh nghiệm của các đồng chí Việt Nam, thì có lẽ đã chẳng cần phải tiến hành cuộc Vạn lý trường chinh” (tr. 321 và 324).


            Để tiện theo dõi tại chỗ cuộc chiến tranh, khi quân Mỹ bắt đầu leo thang ra miền Bắc, ném bom bừa bãi nhiều nơi, tháng 9 năm 1965, ông đưa cả gia đình từ Moscou sang sống luôn tại Hà Nội.


            Sự xông xáo dũng cảm và tính năng động của W. Burchett  hoàn toàn không giống sự say mê săn lùng tin tức giật gân của một số phóng viên phương Tây bị thôi thúc bởi đồng tiền và danh vọng. Động lực của ông là trách nhiệm chính trị của một người tiến bộ. Năm 22 tuổi, khi cùng công nhân chặt mía làm thuê tại một trang trại ở Bắc Autralia, chàng trai Wilfred bắt đầu hiểu lờ mờ thế nào là xã hội phân chia giai cấp. Anh đã từ giã quê hương sang châu Âu, với hy vọng được sung vào Lữ đoàn quân quốc tế gồm những người lính tình nguyện chiến đấu chống phát xít Franco ở Tây Ban Nha. Không đạt được nguyện vọng, ông trở thành nhà báo...


            Suốt đời đứng về chính nghĩa, cộng tác với nhiều tờ báo Mỹ song thái độ của W. Burchett đối với chủ nghĩa đế quốc Mỹ hết sức rõ ràng. Ông là một cây bút đấu tranh không khoan nhượng chống chiến tranh, áp bức, phân biệt chủng tộc tại bất kỳ đâu... Tại Trung Quốc, nơi W. B. tham dự một cuộc họp báo của tổng thống R. Nixon vừa từ Mỹ đến, ông này nhận ra ngay Burchett. Sau cuộc họp, một bạn đồng nghiệp hỏi, tại sao tổng thổng biết rõ anh là người Australia, ông đáp: “Chẳng có gì đáng ngạc nhiên, bởi từ khi ông ta bước chân vào Nhà Trắng, hầu như tuần nào trên tờ Thời báo New York cũng có bài tôi phê phán chính sách của ông ta” (tr. 420).


 


            Đọc Hồi ký của W. Burchett, những người làm báo tự rút ra những bài học nghề nghiệp, mặc dù không bao giờ tác giả đưa ra một lời khuyên. Trừ một lần. Đấy là lúc ông ông lý giải tại sao còn ít tuổi ông đã sớm trở thành một trong số ít ỏi phóng viên quốc tế (phương Tây) với đầy đủ tư cách được hành nghề tại Trung Quốc (thời chiến tranh chống Nhật), ông viết: “Điều đáng ghi nhớ cho những nhà báo nào muốn trở thành phóng viên nước ngoài (tại một địa bàn hấp dẫn) là không có con đường tắt nào có hiệu quả, ngoài việc anh phải có mặt kịp thời đúng lúc đúng nơi, và nếu có thể (thì có mặt) ở nơi nào chưa có ai cạnh tranh với mình” (tr. 105).


            1987


Nguồn: Cho đến khi giã từ trần thế. Tiểu luận, bút ký của Phan Quang.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (2) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Lượm lặt ở đám giỗ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Lưu Trọng Văn 06.06.2017
xem thêm »