tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21055815
23.02.2012
Hà Minh Đức
Nguyễn Đình Thi - Chim phượng bay từ núi (15)

NỬA THẾ KỶ VĂN HỌC CÁCH MẠNG


Phần II


Ngày 16/8/1995.


Khoảng 8 giờ sáng chúng tôi lại đón anh Thi ở phòng họp của Viện. Anh Nguyễn Đình Thi tươi cười chào mọi người và hỏi: “Các anh chị có câu gì hỏi thêm sau buổi nói chuyện hôm trước của tôi”. Tôi nói: Thưa anh, anh em đều hứng thú, vấn đề tuy đã thuộc về quá khứ, nửa thế kỷ đã qua nhưng vẫn có ý nghĩa với hiện tại. Anh cứ nói cho theo tinh thần hôm trước. Nguyễn Đình Thi nói: Còn ý các anh chị. Mọi người không nói gì và vỗ tay.


Nguyễn Đình Thi bắt vào chuyện:


Đại hội Văn hoá cứu quốc họp ở Đào Giã, Phú Thọ. Đại hội không còn văn kiện chính thức, lấy bài của Trường Chinh làm cơ sở. Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam là tài liệu lý luận nêu nhiều vấn đề về văn nghệ có thể trao đổi tranh luận: Đánh giá văn học dân tộc, Nghệ thuật và tuyên truyền, Quần chúng phê bình nghệ thuật. Cuộc họp chủ trương xây dựng nền văn nghệ nhân dân. Trao đổi và khẳng định là mình có văn nghệ nhân dân, sau Tố Hữu viết bài Xây dựng nền văn nghệ nhân dân rồi đi sưu tầm bích báo, ca dao bộ đội. Lập Hội văn nghệ có tạp chí, xuất bản và trường Văn nghệ nhân dân do Nguyên Hồng làm giám đốc dạy văn, nhạc, hoạ, có đến 200, 300 học viên (Nguyễn Kiên học ở đây) học ba tháng, vừa chạy gạo vừa học. Ông Léon Figuères sang và đến thăm rất cảm phục. Một sự kiện lớn là tổ chức giải thưởng cho một số ngành văn, nhạc, tạo hình. Xung kích lúc đầu đưa lên giải nhất sau Tố Hữu bảo lần đầu tiên có văn học công nhân nên để tác phẩm của Võ Huy Tâm. Võ Huy Tâm lần đầu viết liền tù tì với chương mục theo kiểu Tam quốc, Thuỷ hử, truyện Nôm. Anh em bàn là phải giúp anh Tâm bổ sung, mời anh Tâm lên và giữ anh lại hai tháng để chữa, chúng tôi rất phấn khời vì lần đầu tiên có tác phẩm viết về công nhân. Ban chấm giải có thêm các cụ Thế Lữ, Tú Mỡ. Nhạc có bài Vì nhân dân quên mình giải nhất, rồi giải nhì về bài của Nguyễn Văn Tý. Tạo hình có Nguyễn Tư Nghiêm. Nghiêm là một trong tứ quái Nghiêm, Sáng, Phái, Liên. Các giải thưởng lần lượt được tổ chức 1951-1952 sau Việt Bắc. Cùng thời điểm này có Chiến khu Thừa Thiên, Bên đường 12 của Vũ Tú Nam cũng được giải thưởng của Khu 4. Vũ Tú Nam là học viên ở lớp Văn nghệ Quần Tín. Lúc này phong trào văn nghệ ở Khu 4 cũng khá phát triển, một số cây bút trưởng thành với phong trào. Năm 1950 có sự chuyển biến lớn, lý luận Trung Quốc vào. Năm 1949 Lý Ban về. Nguyễn Sơn về từ 1946. Nguyễn Sơn đến chơi Văn hoá cứu quốc. Trước khi về Khu 4 Nguyễn Sơn đánh một trận ở Khu 5. Nguyễn Sơn bị Trung ương phê bình về việc rèn cán chỉnh quân. Trung ương chủ trương phải đánh để phân tán lực lượng. Năm 1949 Cụ Hồ viết thư “trả lại” cho cụ Mao. Năm 1951 tham gia diễu binh ở Trung Quốc. Nguyễn Sơn đem về một ít quan điểm Diên An, Lý Ban đem bài Diên An và báo cáo văn hoá văn nghệ của Chu Dương. Một số người đọc và bảo “Nó nói thế mà có lý đấy”. Lý luận văn nghệ phục vụ công nông binh bắt đầu vào. Các tác phẩm Xung kích, Vùng mỏ được viết trước. Từ sau 50, 51 bắt đầu gò, văn nghệ phục vụ chính sách. Nam Cao đi Khu 3 làm thuế và hy sinh. Nguyễn Xuân Khoát làm bài Chiều Việt Bắc, Tiếng chuông nhà thờ. Tác phẩm Xung kích được đánh giá tốt, lúc này tôi nhận được thư của Hoài Thanh bảo phải kiểm điểm Xung kích. Thời kỳ 1945-46 đến 1950 văn học nẩy nở. Hồi ấy viết nhanh. Xung kích viết trong vòng


1 tháng. Nam Cao viết Ở rừng, Kim Lân viết Làng. Thơ ca cũng có nhiều bài thơ hay của Quang Dũng (Tây Tiến), Hoàng Cầm (Bên kia sông Đuống). Không khí viết phấn khởi, tác phẩm có hồn, hồn văn, hồn nhạc, hồn hoạ. Tác phẩm viết cũng rất chân thực. Từ 1951-1952 ảnh hưởng Trung Quốc khá rõ, nhất là với Người người lớp lớp. Lính cũng như cấp uỷ giống như của Tàu. So sánh thì thấy lính của Trần Đăng, Nguyễn Đình Thi không giống lính của Người người lớp lớp. Cách nhìn cứng nhắc. Chính uỷ Trần lúc này là Trần Độ sư 312 – sau đi vào phát động quần chúng đấu tranh giảm tô. Một số anh chị em đi phát động quần chúng. Nguyễn Huy Tưởng về Phú Thọ, Hạ Hoà viết Truyện anh Lục, viết gò ta tốt địch xấu, trí thức ra rìa.


Cách nhìn tri thức của họ khác ta. Từ Phạm Văn Đồng, Trường Chinh đến Tố Hữu đều đánh giá tích cực về lớp tri thức. Lúc đầu Tố Hữu chưa tin vào lớp văn nghệ sỹ cũ không biết có đủ sức đi theo kháng chiến không? Tư tưởng Mao vào mạnh và ảnh hưởng đau nhất là Cải cách ruộng đất. Vấn đề chỉnh huấn văn nghệ sỹ đặt ra. Chỉnh huấn Khoá I chống tư tưởng tiểu tư sản. Vấn đề chỉnh huấn được tiến hành quái dị. Trước thì kiểm thảo ở hội trường giăng băng đen chữ trắng giống như xưng tội của tôn giáo. Nguyễn Tuân hăng: “Đốt hết sách của tôi đi. Tôi không những là tiểu tư sản mà là phong kiến”. Đặc biệt chú ý là thái độ với đế quốc. Với Nguyễn Tuân, truyện Chém treo ngành có thái độ với Tây rõ. Truyện này bị kiểm duyệt bỏ một hai đoạn quan trọng, sau này mới khôi phục lại. Tôi được học ở trường đảng Trung ương nên mềm mại hơn. Còn anh em văn nghệ lại do tuyên huấn phụ trách; Nguyên Hồng, Kim Lân nói lại là sau khi kiểm điểm bắt Ngô Tất Tố phải dịch Trời hửng của Vương Lực. Theo tôi Vương Lực là học trò cụ Tố. Cụ Tố châm chấm mắt và bảo: “Làm người khó thực”. Cụ Tố có chuyện buồn riêng về gia đình, cụ có hai bà, hai chị em ruột hay mâu thuẫn nhau. Cụ mất ở ấp Đồi Cháy, thuốc men không có. Năm 1947 Trung ương cho mấy trăm bạc. Ông Tưởng đeo bên cạnh và bàn nhau về biếu cụ Tố 100đ để ăn Tết. Con giai cụ bảo: “Thưa thầy theo ý con cụ không nên nhận”. Cụ bảo con: “Anh không biết việc này, anh đi vào để tôi nói chuyện với các bác”. Mình có những nhà văn có tư cách lớn. Cuộc kháng chiến mở ra hướng tiếp xúc với Liên Xô. Cuốn sách Người Xô viết chúng tôi của Pôlêvôi đến tay chúng tôi. Có cuộc họp chủ trương viết truyện anh hùng liệt sỹ. Gọi tất cả về viết truyện người thực việc thực. Tôi nhận viết La Văn Cầu, Giáp Văn Khương. Với La Văn Cầu thì trong dịp đi Hội nghị thanh niên thế giới ở Bá Linh tôi đã có dịp gần gũi. Bộ truyện anh hùng gồm hàng chục nhân vật anh hùng như Nguyễn Quốc Trị, La Văn Cầu, Nguyễn Thị Chiên, Giáp Văn Khương, Hoàng Hanh, Ngô Gia Khảm... Ở trong một bài người ta phê phán chúng tôi là công lợi chủ nghĩa và đây là công lợi chủ nghĩa của cách mạng (retilitarisme), cái có ích là chân lý. Phải có chân lý đúng chỉ đạo. Tư tưởng Mao vào với Bạch Mao nữ và tác phẩm Vương Quý và Lý Hương Hương... Vương Lực ở ban Tuyên huấn Trung ương, sau làm cố vấn cho ta. Trong lúc ấy luồng sâu của văn học vẫn phát triển tạo thành mặt mạnh. Tôi vẫn làm thơ tình như bài Nhớ vì thế vẫn có tác phẩm, hay hay dở tuỳ nhà văn. Phải có tâm huyết cộng với tài năng. Anh Tưởng và tôi hỗ trợ. Về tôi sau khi tôi đưa ra thơ không vần, rồi thơ tình có lẽ một số người cho tôi nặng tư tưởng tiểu tư sản nên tốt nhất là đi chiến trường. Quan niệm thời kỳ đầu cách mạng có tính chất tả khuynh. Thư Cụ Hồ gửi văn nghệ sỹ có ý nghĩa rất quan trọng. Ý chính của thư ngoài xác định trách nhiệm công dân của văn nghệ sỹ, Cụ nhấn mạnh văn học nghệ thuật cũng là một mặt trận quan trọng, vị trí không xoàng. Lúc này quan niệm văn nghệ là hoạt động bình thường. Ý của Cụ Hồ đưa văn nghệ về đúng vị trí quan trọng của đất nước. Tôi nói với ông Hoài Thanh:


Văn học tư sản là cái tôi + buồn + tự nhiên


Văn học cách mạng là ta + vui + con người


Tôi hay nghĩ trái khoáy. Vui buồn là tình cảm tự nhiên, có cái buồn thấp kém, uỷ mị, có cái buồn cao quý. Cái vui cũng cần phân biệt. Tin tưởng, lạc quan khác với vui.


Tình hình phát triển nhanh và tốt đẹp. Lớp văn nghệ sỹ trẻ đi vào thực tế đông. Văn nghệ sỹ tòng quân. Tố Hữu cũng xung phong đi bộ đội. Năm 1949 Trần Đăng hy sinh. Bằng Cao sách đàn violoncelle thấy hầm trú ẩn và máy bay địch đến liền ấn mấy đứa trẻ xuống và đứng bên trên chịu chết.


Năm 1949 một phái đoàn Lạng Sơn và Trung đoàn 88 qua biên giới. Quân Lâm Bưu đánh dạt quân Tàu trắng nhưng ở vùng biên giới Trung Quốc, lực lượng địch còn xen kẽ đánh ta. Đơn vị Trần Đăng bị địch bắt. Trần Đăng + Bùi Thịnh (Chính trị viên) hy sinh. Giải phóng biên giới tôi và một số nhà văn qua biên giới sang Trung Quốc. Nói như nhà văn Nguyễn Tuân: “Nước Tàu là cả một sự nhiều”. Sang Trung Quốc vào buổi tối thấy cái gì cũng nhiều. Lúc này cũng có nhiều luồng tư tưởng giao lưu. Cụ Hoài Thanh trước làm Nghệ thuật vị nghệ thuật nên chuyển hướng nhanh. Nói chuyện thơ kháng chiến anh Hoài Thanh ít điểm thơ anh em. Ở Đại Từ, Tố Hữu giơ cuốn Chu Dương và bảo: “Mình thấy nó nói có lý đấy”. Về giải thưởng thơ, nhất là thuộc về Tú Mỡ với bút danh Bút chiến đấu. Tú Mỡ bị Tây bắt ở Bắc Giang. Tú Mỡ giấu tên, ông biết nói tiếng Tây. Tây giao cho gọi tên và điểm danh tù, sau Tú Mỡ tìm cách trốn về được.


Thơ Tố Hữu trong Việt Bắc hiện thực, mới hơn Từ ấy. Khi làm về các lãnh tụ cũng lôi thôi (viết về Mao Trạch Đông và Staline?). Khi Staline mất, Hoàng Cầm, Lê Đạt cũng có thơ. Tôi ở bộ đội, không viết không được. Tôi chỉ làm một số ý. Bài Sáng tháng năm gây ấn tượng. Tố Hữu rất thật tâm, được gặp Cụ Hồ nhiều. Dương Bích Liên cũng được gần Bác một tuần để ký hoạ. Dương Bích Liên kể ấn tượng nhất về Cụ Hồ là hình ảnh buổi chiều ra giữa rừng ngồi hút thuốc và nhặt lá đốt từng chiếc lá. Tôi mơ ước vẽ tranh thuỷ mặc, vẽ được Cụ rất người. Ông Diệp Minh Châu cũng được ở gần Bác hàng tháng. Tố Hữu nhìn xa và chuẩn bị công nghệ chung. Tôi cho tranh Dương Bích Liên là đẹp hơn cả. Cụ đứng bên ngựa cạnh dòng suối. Thường trực văn nghệ lúc này là Hoài Thanh. Tôi đi bộ đội, năm 1949 đi chiến dịch. Phải chọn đơn vị, đi trung đoàn 88 và tiểu đoàn chủ chốt là thợ mỏ ở tiểu đoàn Lũng Vải. Lúc đầu Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tử Nghiêm đi trung đoàn Sơn la, cuối 47 đầu 48. Đến đây gặp nhóm Trần Dần, Trần Vũ với trung đoàn trưởng là Lê Linh. Trần Dần kết bạn với tôi, thích thơ không vần của tôi. Dự trận đầu Trại Vải, đào mấy cái hố và cho chúng tôi ở dưới xem. Pháo đánh nhưng sương mù quá dày đến khi tan sương phải rút. Trận đầu là trận chạy. Nguyễn Tử Nghiêm cũng bỏ chạy. Riêng tôi không gì bù đắp được chuyện ông Nam Cao chết, chết vì đi làm thuế nông nghiệp. Tôi đi bộ đội làm chính trị viên phó tiểu đoàn nhưng vẫn là người Ban Tuyên huấn gửi. Sau chỉnh huấn anh em văn nghệ thế nào tôi không biết, việc của tôi là phái viên chính trị. Tôi đi nhiều đơn vị. Bộ đội trong kháng chiến chống Pháp chưa có chức vụ, vốn từ nhân dân mà ra chưa phải của nhà nước. Ông Đại đoàn trưởng 308 là bạn với tôi. Ở 308 có Lê Vinh Quốc sau bỏ chạy. Lê Vinh Quốc bắt chước Võ Nguyên Giáp từng tí. Tôi đi chiến dịch Sầm Nưa với Đặng Vũ Hiệp. Đi bộ, chạy đuổi, mệt, càng hăng càng mệt nằm nhìn nhau. Đói, cấp dưỡng nấu canh rau, một số ăn bị nôn. Tôi ngồi cạnh Đặng Vũ Hiệp, Hiệp đêm nôn ra máu. Trải qua vất vả nghĩ đến văn chương, càng thấy văn chương phải đổi mới, gần gũi chắc chắn không phải vấn đề hình thức. Hoàng Cầm ở Văn công quân đội. Hoàng Cầm làm thơ sáo. Đọc Trần Đăng thấy rất quý, đúng là bộ đội thực. Trận Phố Ràng, Một cuộc chuẩn bị rất thực, không phải là những bài viết hoan hô bộ đội. Anh văn nghệ sống cùng người lính, chia sẻ trong công việc và cuộc sống. Để chuẩn bị cho hội nghị trí thức quốc tế, các đồng chí Liên Xô cho một sáng kiến: “Lúc nào cũng phải có một trí thức nổi tiếng nhất ở Hà Nội trong bom đạn”. Báo cáo với Cụ, Cụ không làm và chia ra thành phong trào trí thức quốc tế ủng hộ Việt Nam như Toà án Bertrand Russel và một số phong trào khác. Ở Pháp làm hội nghị trí thức quốc tế và cử Chế Lan Viên sang dự. Chỉ đạo của Cụ rất giỏi, cẩn thận từng tí một. Rồi những cuộc tranh luận văn nghệ ở Việt Bắc. Sau báo cáo của Trường Chinh ở Hội nghị, có nhiều bài lý luận về văn nghệ nhất là về đề tài văn nghệ và tuyên truyền. Tô Ngọc Vân có bài viết về quần chúng phê bình nghệ thuật (muốn phê bình phải có học). Khu 4 đăng bài của Sỹ Ngọc đề cao hội hoạ hiện đại. Đặng Thai Mai có viết bài tranh luận thân ái. Sau Trường Chinh nói lại là không nên hiểu thô. Nguyễn Đình Thi nói phải phân biệt giữa quần chúng và công chúng, công chúng có thể không đúng. Xuân Trường viết bài ký Lê Trọng Lâm không phải phản đối ý nghệ thuật phục vụ quần chúng. Đúng hơn tuyên truyền của nghệ thuật là tuyên truyền không tuyên truyền. Tuyên truyền nghệ thuật khác. Về những cuộc tranh luận về thơ của tôi vào năm 1949. Đường núi, Không nói, Sáng mát trong ba bài in Văn nghệ. Bài đầu Người tử sỹ thơ không vần 6 chữ đăng ở báo Thương binh. Bây giờ tôi vẫn thích. Thơ loại 6 chữ còn ít. Sau đọc Nguyễn Trãi tôi mới biết thơ 6 chữ của Nguyễn Trãi. Tôi có đọc bài Đêm mít tinh ở một số nơi. Hà Phú Hương bảo tôi là giặc thơ. Cụ Hoàng Quốc Việt bảo “Thi sỹ làm thơ tình hả”. Nguyễn Đình Phúc soạn bài hát. Lúc in tạp chí Văn nghệ thì có chuyện giữa hai bài thơ có một cái chết, chia tay vĩnh viễn. Sau tôi chữa lại. Sáng mát trong làm sau. Nguyên Hồng, Nam Cao, Xuân Diệu, Thế Lữ, Tố Hữu không thích. Thế Lữ không thích nhưng rất khen một đoạn. Đến hội nghị tranh luận đặt thơ tôi thành một vấn đề. Sáng mát trong cô đơn, buồn, nhớ về Hà Nội. Đường núi có câu: “Ta nghe ta hát một mình”. Sau tôi bỏ vì ở dưới có câu tiếng hát và có vẻ cổ. Về Sáng mát trong Xuân Diệu chê là đầu Ngô mình Sở. Năm 1990 tôi sang Pháp. Phạm Duy ở Mỹ sang và cả hai người ngồi ở quán mà Apollinaire có ngồi. Trong cuộc tranh luận Thế Lữ nói: “Nghe ông Thi nói rất nguy hiểm”. Xuân Diệu nói: Tôi xin đánh cuộc 20 năm nữa không ai nhắc lại bài thơ này. Bài Khúc hát miền Tây viết về bộ đội Sơn La: “Đèo vàng đổ gió. Ai hát giữa rừng vắng vẻ”. Bài này Xuân Diệu bảo tàm tạm. Về nội dung thơ tình cảm cô đơn, buồn. Nguyên Hồng bảo: Không phải thơ thí nghiệm mà là thơ thật. Nguyễn Huy Tưởng bảo: “Tôi đồng loã với anh Thi”. Văn Cao cũng chê. Tố Hữu bảo: “Lúc nào tôi cần hành động tôi thấy ghét thơ anh Thi”. Tôi đề nghị cần phân thành hai vấn đề: “Thơ không vần và thơ Nguyễn Đình Thi”. Thơ của tôi có nguồn mạch trong trạng thái sống, những hình ảnh đến tự nhiên, không phải nối các hình ảnh với nhau bằng những lời bình giải. Lưu Trọng Lư sau có nói trong bài đăng ở Khu 4: “Loại thơ này phải đuổi khỏi thơ kháng chiến”. Trường phái thơ Khu 4 chủ trương trở về với thơ dân gian. Trong Nam tờ Lá lúa phê là Tố Hữu hữu khuynh. Trường Chinh không thích thơ không vần phản đối việc nói chuyện, tuyên truyền thơ không vần. Sau này trong Lời tựa thơ Sóng Hồng, Sóng Hồng nói lại ý mình. Trần Dần ủng hộ thơ không vần. Tử Phác trưởng đoàn văn công cũng ủng hộ. Sau lần phê bình thơ Nguyễn Đình Thi, tôi cũng cứ đưa in. Năm 1958 tôi mới cho in Người chiến sỹ lần I.


Tôi nghe ý anh Trường Chinh nhận xét qua một chị cán bộ phụ nữ: Bây giờ đến củ khoai còn thiếu, còn thơ anh Thi thì như kem nước đá. Sau đó tôi đi Cải cách ruộng đất và viết Mẹ con đồng chí Chanh được in nhiều lần, tái bản 6 lần và đem bán lẫn với hàng ở cửa hàng xén. Khương Hữu Dụng bảo: “Ông Thi mà phải làm thế này thì liệu mà viết”. Tôi cũng viết nhiều bài thơ tình, tình trong chiến tranh xa cách và buồn. Sau để đáp lại tôi viết bài Đường vui. Chế Lan Viên khen vỗ vai: “Mái nhà nào vàng rơm” đúng lắm. Những câu thơ thường nhiều khi xuất hiện bất ngờ. Câu thơ “Dây thép gai đâm nát trời chiều” là hình ảnh thật. Tôi vẫn giữ ý kiến về thơ không vần. Đầu kháng chiến có đổi về chiều hướng. Một số nhà thơ ở Khu 4 trở về với lối hát dặm. Hoàng Trung Thông trở về với thơ dân gian, hướng khác là đi về phía thơ tự do, những câu thơ gần với cách nói tự nhiên gần gũi ít đinh vít. Thơ mới cú pháp Tây. Dù đổi thay thế nào thì mỗi bài thơ phải có nhạc.


Vào đầu kháng chiến văn học có nhiều đổi mới trong nghệ thuật, qua diễn biến và tiếp nhận tự nhiên. Trần Bạch Đằng sau này có nhận xét: “Đọc Xung kích thấy văn xuôi đã khác. Còn Thơ mới cũng đổi nhiều hướng. Xu hướng trở về với dân gian, với sáng tác của Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu...”.


Tôi cũng ít chịu ảnh hưởng thơ nước ngoài. Tôi đọc ít, ngay Bướm trắng Nhất Linh viết gì tôi không biết. Tôi chỉ đọc Đoạn tuyệt và với Khái Hưng thì đọc Nửa chừng xuân, đọc một số truyện ngắn của Thạch Lam. Rồi công việc cách mạng lôi cuốn tôi đi. Sau này đọc Maiakovski (thích Đám mây mặc quần) và thơ Eluard, Aragon của Pháp. Thơ ta vào ta lúc nào không biết và có khi còn lại mãi. Câu thơ của Bà huyện Thanh Quan tôi đọc lúc 8 tuổi đã ảnh hưởng suốt đời.


Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi.


Hình ảnh cánh chim bay mải miết cứ ám ảnh tôi mãi mãi. Thơ Hugo, Mallarmé, Baudelaire tôi đọc một số bài. Thơ hiện đại của Aragon, Eluard, Appollinaire khá hấp dẫn, trí tuệ... Tôi thích nhất những bài thơ tình trong chiến tranh, cạo râu dưới chiến hào, mũ sắt thủng... nhiều hình ảnh gợi không cần giải thích. Tôi thích Chiến tranh và hoà bình, đặc biệt tả cảnh Lêvin ở ngoài cánh đồng. Chiến tranh và hoà bình đọc ở Hà Nội trong không khí tĩnh lặng và quạnh vắng, thích nhất là đoạn gặp cây sồi. Tôi cũng cùng tuổi với André nhân vật của tác phẩm lúc ngoài 30 tuổi.


Tôi học giỏi khoa học tự nhiên. Giỏi toán, hồi học lớp 3 đã giải được những bài toán ở lớp trên. Xung kích hoàn toàn không kể chuyện chỉ có dựng cảnh, những cảnh xen lẫn nhau trong mỗi chương. Cảnh hành quân trú quân, chuẩn bị tác chiến, chiến đấu. Những cảnh sôi sục xô bồ dùng cách viết cũ không thể viết được. Phải dùng nhiều câu nói xen vào nhau, trực tiếp, lấy từ đời sống. Trần Đăng cũng đổi mới. Cảm giác bi thương cũng lớn. Trường Chinh bảo trong Xung kích thương vong nhiều quá. Cách đánh như thế này không được. Nhà xuất bản Quân đội không in. Tôi viết cái có thực. Sau này trong Vào lửa không dám tả nhiều cái chết. Không nên quên cách mạng chỉ có một hướng. Đổi mới văn học cách mạng và kháng chiến cũng phải có ý thức trở lại ngọn nguồn dân tộc. Sân khấu nhấn mạnh truyền thống. Nguyễn Đình Nghi kể lại là Thế Lữ khi xem xong Năm Ngũ diễn chèo thấy cảm phục và choáng váng. Không nên hiểu quá trình phát triển của văn học theo kiểu lãng mạn, hiện thực, hiện đại. Phải có ý thức về công việc của mình và khả năng cảm hoá của tác phẩm. Nam Cao viết xong đọc cho giao thông nghe chuyện của mình. Nam Cao viết tiểu thuyết Trận đầu (200 tr). Tô Hoài bảo: “Để cho Nam Cao viết còn tôi xin xung phong làm bí thư nhưng anh em vẫn bầu Nam Cao. Nhưng sau Nam Cao xé hết Trận đầu. Văn học muốn có hồn lớn, tình cảm lớn phải gắn vào cuộc sống của dân tộc. Trải qua kháng chiến mới hiểu dân tộc mình, nhân dân mình là vĩ đại. Đánh Điện Biên Phủ có 5 vạn quân chính quy và 9 vạn dân công. Chiến dịch đường Mạo Khê bỏ cuộc vì thiếu gạo. Theo Võ Nguyên Giáp 21 cân gạo đến nơi chỉ còn


1 cân. Và có biểu đồ gạo và gạo được gọi là tướng gạo. Nghĩ đến những trận đánh lớn của các cụ ngày xưa như đánh quân Nguyên cũng dùng đến hàng vạn quân. Trần Hưng Đạo tổ chức chỉ huy ra sao. Qua kháng chiến hiểu dân tộc Việt Nam. Cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc có giải phóng con người. Trong chiến tranh phụ nữ có vị trí cao hơn. Trong chiến tranh, trên đường Trường Sơn gặp hàng ngàn hàng vạn phụ nữ tham gia dân công, giao liên, thanh niên xung phong. Điều kỳ lạ là đưa được hàng vạn phụ nữ vào chiến dịch. Đi chiến dịch Điện Biên Phủ vào đèo Lũng Lô, địch vẫn ném bom đánh phá, phụ nữ vẫn nhảy son lá son. Hỏi một chị phụ nữ chị ấy bảo: “Ở nhà vất vả hơn đi dân công. Ở đây gánh năng suất một ít, chiều đã được khen, ở nhà làm suốt đời không được một tiếng khen. Giá trị nhân cách được tôn trọng trong cách mạng. Ở bộ đội cũng có nhiều chuyện. Tôi gặp một đại đội trưởng chủ công, gia đình khá, luôn có một lọ ruốc và lọ ruốc lo bồi dưỡng riêng thôi.


Tình yêu trong kháng chiến tự do hơn vì có sống, có chết, dễ thông cảm với nhau, gắn bó với nhau vì đây là những phút giây hạnh phúc nhất. Buổi sáng đã muộn giờ, anh Nguyễn Đình Thi tươi cười hỏi: Câu chuyện cũng còn một phần, anh chị đã mệt mỏi chưa? Lần sau chúng ta tiếp tục. Mọi người vỗ tay dài hoan nghênh.


Hà Minh Đức ghi


 


NỬA THẾ KỶ VĂN HỌC CÁCH MẠNG


Phần III


22/8/1995.


Nhà văn Nguyễn Đình Thi lại tiếp tục câu chuyện về văn học cách mạng, từ sau hoà bình lập lại. Đây là buổi nói chuyện thứ ba tại Viện Văn học.


Bắt đầu từ tập Giai phẩm mùa xuân và sau đó là Giai phẩm mùa thu và Giai phẩm mùa đông. Đó là các tập sáng tác vào mùa xuân 1955. Tôi ở Liên Xô làm phim sau về nước mới đọc. Giai phẩm mùa xuân có những anh em là kháng chiến như Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, rồi Tử Phác. Nhất định thắng của Trần Dần và một bài của Văn Cao gây xôn xao dư luận.


Những người không phải của chúng ta


Ngày ngày rất đông


Những con người không phải của chúng ta


Đang mỏi mòn trong xã hội


Le lói trên những cánh đồng lầy


Trần Dần viết:


Tôi bước đi không thấy phố thấy nhà


Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ


Bài của Tử Phác cũng buồn, triển vọng đấu tranh thống nhất mịt mờ. Các tập sách bị thu hồi, cùng lúc ở Văn nghệ quân đội có một nhóm anh em muốn gặp Nguyễn Chí Thanh xin cải tiến chính sách. Anh em văn nghệ đi về đơn vị cũng khó khăn, chưa có quân hàm và chính sách đón tiếp. Trần Dần vượt tường ra tìm người yêu. Sau Trần Dần bị giữ trong buồng ở doanh trại ngồi viết kiểm điểm.


Trong Đảng phát hiện những sai lầm Cải cách ruộng đất (trước Đại hội 20 Đảng Cộng sản Liên Xô). Phát hiện và chỉnh đốn tổ chức. Trong Bộ Chính trị, Hoàng Quốc Việt phụ trách Cải cách ruộng đất và Lê Văn Lương chỉ đạo chỉnh đốn tổ thức. Đã bắt, bắt nhầm đến cấp tỉnh. Việc này làm ảnh hưởng lớn. Đa số những người bị bắt là cán bộ tốt. Sau họ viết thư lên Bộ Chính trị và bắt đầu được xem xét và tha. Tôn giáo cũng lộn xộn như vụ tôn giáo ở Quỳnh Lưu. Bộ đội phải can thiệp, tay không xông vào bắt bọn phản động tôn giáo có súng ống. Đảng Cộng sản Liên Xô họp. Trường Chinh đi họp về mang theo nghị quyết. Trong nhóm Nhân văn, Thụy An là nhà báo – báo Đàn bà. Đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp làm Phó Giám đốc Việt Tấn xã, nhân tình của một anh quốc dân đảng Đỗ Đình Đạo. Khi đánh Điện Biên Phủ xong bà giết Đỗ Đình Đạo và ra Thường Tín, trụ sở thông tấn của ta sắp tiếp quản Hà Nội và đầu hàng ta. Ở Hà Nội hoạt động cùng nhóm kịch Phan Tại. Giải phóng Hà Nội bà hoạt động tự do, thích Người người lớp lớp. Đọc Xung kích và truyện của tôi bà bảo: Kháng chiến mà cũng được viết thế à? Sở dĩ bà phục kháng chiến vì thấy Nguyễn Tuân cũng thành người nghiêm chỉnh. Lúc này Vượt Côn Đảo cũng được in nhiều, truyện lôi cuốn và có tính lãng mạn.


Trường Chinh về gọi anh em phụ trách văn nghệ lên, có Nguyễn Đình Thi: “Anh xem trong thành phố thấy đầy sách báo địch, sao lại không thu hồi, còn Giai phẩm của anh em kháng chiến việc gì phải thu hồi”.


Trường Chinh bảo đây không phải là địch, đây là tư tưởng lệch lạc, nếu cần viết bài phê bình trên báo, không được bắt người ta, không được tịch thu sách báo. Riêng Nhà xuất bản Minh Đức đến bắt đền phải trả tiền tịch thu sách. Chúng ta phải sửa một số chính sách. Sửa chữa Cải cách ruộng đất công phu, trả lại thành phần và của cải. Bác Hồ đứng ra xin lỗi toàn dân, tình hình xã hội dần ổn định, nhất là những lộn xộn trong tôn giáo.


Năm 1956 là năm có nhiều hiện tượng chính trị khó khăn. Đảng Dân chủ phê Đảng Cộng sản mạnh. Nông thôn xáo trộn mạnh, may có sửa sai kịp thời và lời xin lỗi của Cụ Hồ. Rất may là năm được mùa lớn, nông thôn ổn định dần. Sau khi xong Giai phẩm mùa xuân, ông Phan Khôi và Trần Duy xin ra Nhân văn. Lúc ấy chưa có luật báo chí. Báo hàng ngày vẫn có của tư nhân. Cụ Nguyễn Công Hoan có viết một bài rất quyết liệt. Phan Khôi là quốc dân đảng và từ kháng chiến bị bắt ở số nhà 130 Quan Thánh. Em là Phan Bội – Hoàng Hữu Nam, Thứ trưởng Bộ Nội vụ. Con là Phan Thao phụ trách báo. Phan Khôi ủng hộ Quốc dân đảng. Sau ra Việt Bắc mọi người quý. Có một bài thơ cụ viết về kháng chiến:


Giận anh ngồi nghỉ dưới chân mây


Tôi dù già dụi dưới chân anh


Nằm duỗi nghe khúc thanh bình


Phan Khôi ra báo. Tố Hữu khuyên không nên ra song ông cứ ra. Nhân văn ra, Phan Khôi chủ nhiệm, Thư ký toà soạn là Trần Duy. Linh hồn là Nguyễn Hữu Đang. Từ khi in đã quảng cáo và ưu tiên người ủng hộ tiền. Nguyễn Hữu Đang trước Cách mạng giúp Võ Nguyên Giáp và Khuất Duy Tiến làm báo Le Travail. Hoàng Văn Hoan cũng hay đến họp văn nghệ và bảo: “Nó cầm đuốc nó đốt nhà rồi mà các anh còn lơ mơ mãi”. Ông Kỉnh nói: “Tôi phụ trách báo chí tôi chủ trương cho ra khác ông Hoan”. Sau ý kiến được phản ảnh lên cao: “Tôi rất không muốn trong tình hình chia cắt đất nước mà ở miền Bắc lại cấm đoán báo chí”. Tôi chuyển về Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật. Hoài Thanh sang Bộ Văn hoá. Sau Đại hội 20 của Đảng Cộng sản Liên Xô nhiều đảng viên hoang mang. Dương Bích Liên bảo nghe chuyện Liên Xô cứ như nằm mơ và Dương Bích Liên xin thôi Đảng. Hội nghị Cải cách ruộng đất báo cáo sai lầm của Cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. Lê Văn Lương được hoan nghênh và Hồ Viết Thắng bị phê phán. Về chiến dịch Điện Biên Phủ chuyên gia Trung Quốc cho đánh ngay thắng ngay trong 5 ngày. Sau anh Giáp không thực hiện. Về Cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức sai lầm dẫn đến nhiều bí thư chi bộ bị bắn chết... Trường Chinh thôi Tổng Bí thư, Hoàng Quốc Việt ra khỏi Bộ Chính trị. Ở trong Nam Lê Duẩn ra. Bác kiêm Tổng Bí thư. Nhân văn không dám đụng đến vấn đề chính trị lớn mà chủ yếu nhằm vào chính sách văn nghệ vào Tố Hữu. Sang số 2 rồi số 3 từ vấn đề xã hội, kinh tế, chuyển sang chính trị. Bài của Nguyễn Hữu Đang làm nền cho lý luận “Từ Prôlêkun đến trăm hoa đua nở. Trung Quốc có trăm hoa đua nở. Đinh Linh phải đi cải tạo cùng con lên Diên An”. Bài của Nguyễn Hữu Đang là bài có tính chất cương lĩnh. Ra tiếp Giai phẩm là Trăm hoa. Thiết Vũ đánh Nguyễn Bính. Báo Nhân văn xuyên tạc, phê bình lại giải thưởng văn học. Trên Nhân văn đã nói sang các vấn đề dân chủ, dần đi thẳng vào các vấn đề chính trị. Trường Chinh tức nhất Con ngựa già chúa Trịnh của Phùng Cung, Nguyễn Hữu Đang công kích Tố Hữu. Tự do diễn đàn có bài lý luận chính trị của Trương Tửu: Sức sản xuất mới giải phóng vấp phải quan hệ chính trị, phải điều chỉnh. Trần Đức Thảo đòi trung lập. Phải mở rộng dân chủ đến mức phải bày tỏ thái độ công khai với công quyền.


Đang bảo: “Tao phải nạp đơn lên cụ Tôn xin cho phép lập một Đảng trong mặt trận. Xin lập Đảng hợp pháp”. Nguyễn Hữu Đang quen phát hành báo nên đem ô tô đi phóng loa khắp nơi. Thụy An hoạt động, hay gặp Maurice Durand. Durand khuyên không nên tham gia Nhân văn. Nhóm Phan Tại dịch phóng tác kịch và diễn Về một nhà giáo sống khổ bán cả nhân phẩm. Sở Văn hoá cấm không cho diễn. Trường Chinh nhận xét về Nhân văn: “Báo Nhân văn hệt như một cơ quan tác động tinh thần. Quốc hội họp phê bình những sai lầm Cải cách ruộng đất. Đảng Dân chủ đòi chia quyền lãnh đạo. Số báo Nhân văn nói về vấn đề chính trị về đòi biểu tình thợ nhà in Hàng Bông không in. Sau lãnh đạo thành phố cấm Nhân văn. Báo Nhân dân mở chính sách đánh Nhân văn.


Nhân văn bị cấm, trí thức ủng hộ. Tôn Thất Tùng cho là không thể để tình hình lộn xộn. Việc cấm báo Nhân văn không gây ảnh hưởng gì phức tạp. Hội nhà văn cải tổ. Hội nghị văn nghệ toàn quốc báo cáo của Trường Chinh về Nhân văn chỉ nói một câu: “Bài Nhân văn hệt như một cơ quan tác động tinh thần”. Đến năm 1957-1958 xuất hiện trong báo Văn một số bài như Ông năm chuột của Phan Khôi. Năm 1958 đường lối chủ trương chuyển lên cách mạng xã hội chủ nghĩa và Hội Nhà văn tổ chức lớp học văn nghệ sỹ (cho đảng viên trước) và học chung sau. Trong lớp này Đang không được mời (xin tham gia nhưng bị từ chối). Một số nhà văn tham gia Nhân văn lên báo cáo ở hội trường. Văn Cao được xem là tiên chỉ. Phùng Quán là Triệu Tử Long. Một số văn nghệ sỹ không có chỗ đứng muốn ra đi, với tư bản không được, với vô sản cũng không được. Phùng Quán qua lại quen biết Thụy An. Thụy An khen Tát-xi-nhi. Hoàng Cầm sinh hoạt chơi bời. Một số bị bắt ngay ở chỗ hẹn ra đi. Chấn chỉnh tổ chức văn nghệ. Ra toà xét xử chỉ có ba người Thụy An, Minh Đức và Nguyễn Hữu Đang. Hoàng Cầm phải ra khỏi Ban Chấp hành. Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt bị tước hội tịch 3 năm.


Hội Nhà văn thay lại Ban Thường trực. Nguyên Hồng, Nguyễn Xuân Sanh ra khỏi Ban Thường vụ. Tôi làm Thư ký Hội từ 1958. Hữu Loan sau Nhân văn bỏ về quê. Năm 1989 ra xin họp nhưng chưa từng là hội viên chỉ là khách. Nhân văn giai phẩm chưa phải là tổ chức chính trị nhưng có quan điểm chính trị sai. Ở Đại hội, Trần Đức Thảo, Trương Tửu có sai lầm. Trần Đức Thảo nhấn mạnh tự do cực đoan và vấn đề tha hoá. Ở Đại học có cuộc họp đấu tranh với Trần Đức Thảo. Tôi được mời sang. Có thiếp của Phạm Văn Đồng gửi đến khuyên Thảo chân thành, tin vào anh em. Hoàng Ngọc Hiến cũng tham gia đấu Trần Đức Thảo. Sau có chủ trương đưa văn nghệ sỹ đi thực tế. Văn Cao lên Sơn La bị chảy máu dạ dày. Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng lên Tây Bắc và có tác phẩm về Tây Bắc (Sông Đà) và Điện Biên Phủ (Bốn năm sau). Đào Vũ đi Hải Dương viết Cái sân gạch. Trần Đức Thảo đi chăn bò ở Tam Đảo. Ông Đồng gặp vợ Thảo và cho Trần Đức Thảo về. Cũng có chuyện không may trong việc đi thực tế, Ái Loan chết, ít lâu sau Hoàng Cầm bị bắt vì chuyển thơ văn ra nước ngoài.


Sau Nhân văn giai phẩm có nhiều vấn đề đặt ra cho văn nghệ:


- Đấu tranh chống xét lại với vụ Hoàng Minh Chính.


- Mở rộng lãnh đạo văn nghệ đến mức nào?


- Chống giáo điều về các khái niệm hiện thực xã hội chủ nghĩa, Văn nghệ phục vụ chính trị – khẩu hiệu hay nhưng dễ hiểu lầm.


- Đánh giá lại những sáng tác trong giai đoạn qua (bài Đọc lời ai điếu của Nguyễn Minh Châu là bài tiêu biểu cho quan điểm đánh giá lại một cách cực đoan).


- Đánh giá lại những tác phẩm trước Cách mạng, trả lại giá trị cho các sáng tác như Thơ mới, Tự lực văn đoàn.


- Xây dựng phát huy năng lực của đội ngũ trẻ trong văn nghệ.


- Phấn đấu để có tác phẩm hay đó là đích cao nhất mà cũng thiết thực nhất. Văn học cách mạng phải có đỉnh cao, có tác phẩm có giá trị bền vững với thời gian.


Xin cám ơn các anh chị đã chịu khó lắng nghe. Tôi nói có ý kiến chung, có ý riêng, và muốn đem đến một cách nhìn riêng và tiếng nói chân thực về một vài chặng đường văn học cách mạng.


Hà Minh Đức ghi


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi. Chuyên luận, trò chuyện và ghi chép của Hà Minh Đức. NXB Văn học, 12-2011.


www.trieuxuan.info


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »