tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21054409
22.02.2012
Hà Minh Đức
Nguyễn Đình Thi - Chim phượng bay từ núi (14)

Các kiến thức đưa lên báo chí thường là kiến thức phổ thông trên nhiều vấn đề và được lựa chọn ở cả báo chí của nước ngoài. Báo chí phải đạt đến trình độ cao, tờ báo không nên đăng lại tin tức của báo khác; các tin đăng trên báo phải giám định và bảo đảm tư liệu chính xác. Tổ chức một tờ báo lớn là công việc phức tạp. Ở nước ta có lẽ lớn nhất là báo Nhân dân. Một tờ báo hoạt động tốt, tức là công việc được tiến hành tốt ở tất cả các khâu, số lượng bạn đọc tăng dần và ổn định, các phóng viên hoạt động có hiệu quả.


Biên tập viên báo chí, ngoài việc viết bài, còn phải có khả năng đánh giá, biên tập tốt những bài của bạn đọc gửi tới. Đối với văn học, nghệ thuật, việc chọn tuyển truyện và thơ không thiếu, nhưng còn ít những bài phê bình, nhất là những bài phê bình hay, sâu sắc. Phải có những bài phê bình kịp thời, đánh giá đúng đắn các hiện tượng văn hoá, văn nghệ. Báo Văn nghệ cũng như báo Nhân dân chủ nhật còn thiếu những bài định hướng về Văn hoá văn nghệ. Không cần bài viết phải dài, nhưng cần có chất lượng và kịp thời.


Vấn đề cuối cùng tôi muốn đề cập tới là vấn đề đạo đức trong hoạt động báo chí. Hiện nay trong xu thế chung, nhà báo phần nào có ưu thế xã hội hơn nhà văn. Nhà báo là người có khả năng tạo ra dư luận để ủng hộ hoặc phê phán một hiện tượng xã hội. Vì thế phải công tâm, phải có phẩm chất trung thực. Chúng ta hoan nghênh Nhà nước đã đề ra quy chế đạo đức của các nhà báo. Muốn đảm bảo được đạo đức trong hoạt động báo chí phải có quy chế hoạt động, phải biểu dương những tấm gương tốt trong công tác báo chí và nhà báo cũng phải được sống đàng hoàng. Đề cao lương tâm nghề nghiệp, nhưng cũng phải tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà báo hoạt động.


Tôi là nhà báo nghiệp dư, hoạt động báo chí chỉ là nghề tay trái của tôi. Nghề làm báo và viết văn là anh em sinh đôi. Nghề làm báo đã giúp tôi nhiều trong nghề viết văn. Chúng tôi làm báo vì trách nhiệm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Tôi mong các em sinh viên ngành báo chí được đào tạo có hệ thống sẽ là những nhà báo trẻ bắt tay vào công việc rất vinh quang và nặng nề của hoạt động báo chí thế kỷ XXI.


 


QUÁ TRÌNH HOÀN THIỆN MỘT TÁC PHẨM


12/1/1994.


Nhà văn Nguyễn Đình Thi hẹn gặp tôi ở 51 Trần Hưng Đạo. Dạo này anh ở Sài Gòn, ra Hà Nội đến giáp Tết lại vào. Nhà văn Nguyễn Đình Thi vừa cho in tập kịch, tập sách dày. Nhà thơ Huy Cận đã giới thiệu hai vở trên báo Nhân dân. Anh nói: “Dần dần tôi mới hiểu hết sức mạnh và khả năng của từng thể loại. Khi viết Xung kích và Vỡ bờ tôi bị cuốn vào tiểu thuyết và có viết Công việc người viết tiểu thuyết. Đây là một thể loại thử thách người viết để hiểu ra chỗ yếu của ngòi bút trước một thể loại lớn. Tiểu thuyết đòi hỏi người viết có tiềm lực, sức lực và phải chuẩn bị rất kỹ khi bắt tay vào viết. Còn với thơ, thể loại tôi yêu thích; gần gũi với đời sống tâm hồn. Tôi thích những câu thơ giản dị, tự nhiên nhưng phải chứa đựng một điều gì sâu xa của đời sống tinh thần. Những năm gần đây tôi tập trung viết kịch. Kịch là những mũi nhọn tập trung về tư tưởng, về các vấn đề xã hội gây ấn tượng đặc biệt. Viết kịch không đòi hỏi thì giờ như tiểu thuyết, nhưng lại có những khâu tập trung về tình thế và xung đột, đột phá của tính cách nhân vật. Tôi đã viết một hai vở về kịch hiện đại như Hoa và Ngần nhưng tôi thích đề tài lịch sử hơn. Vốn văn hoá dân tộc có nhiều chuyện hay lại có sự lắng lại của thời gian tạo điều kiện cho người viết chọn lọc. Anh đã viết cho tôi nhiều về tiểu thuyết và thơ. Nếu anh có thì giờ anh viết phê bình kịch cho thì tốt. Tôi sẽ gửi tặng anh tuyển tập về kịch”. Tôi cám ơn anh và hỏi về quá trình sáng tác và hoàn thiện của tác phẩm ở từng thể loại. Nhà văn Nguyễn Đình Thi trả lời: “Tôi viết nhanh, viết say mê và tập trung. Tiểu thuyết Xung kích viết xong trong khoảng bốn mươi ngày. Tác phẩm Vỡ bờ II, bản thảo dày 700, 800 trang tôi viết trong sáu tháng. Và kịch cũng viết nhanh, viết gọn với từng vở. Viết nhanh nhưng không vội vàng mà do suy nghĩ đã chín về điều mình định viết. Không khí viết là không khí say mê không kể đến giờ giấc. Nhưng rồi tác phẩm nào cũng phải sửa chữa, hoàn thiện. Bản thảo Vỡ bờ II phải lược đi khoảng trên một trăm trang khi đưa in. Về thơ thì mọi sự thuận lợi hơn. Mỗi bài thơ là một dòng suy nghĩ, cảm xúc chân thành và khi đã viết ra thì cũng ít sửa chữa, trừ một vài bài đặc biệt”. Tôi tiếp ý: Nhân anh nói tôi muốn được hỏi thêm anh về bài Đất nước. Bài thơ ghi ở dưới 1948-1955 một khoảng thời gian dài cho một sáng tác. Nguyễn Đình Thi ngắt lời: “Đây là thời gian sửa chữa hoàn thiện tác phẩm Đất nước, có lấy ở hai bài Sáng mát trong và Đêm mít tinh một số đoạn. Trong bài Đêm mít tinh có một đoạn nói về đất nước được anh em yêu thích:


Trời xanh đây là của chúng ta


Núi rừng đây là của chúng ta


Những cánh đồng thơm mát


Những ngả đường bát ngát


Những dòng sông đỏ nặng phù sa.


Đoạn này tôi lấy cảm hứng thật và xúc động khi ngày ngày đi trên bờ sông Lô, nhìn dòng sông cuộn chảy, hai bờ cây cối xanh tươi và phía trên là bầu trời xanh bát ngát. Có lẽ câu được nhất là “Những dòng sông đỏ nặng phù sa”. Bài thơ Đất nước có nhiều khổ. Hai đoạn liên hệ với những bể dầu sôi và chúng ta con cháu Hồ Chí Minh tôi đã lược đi khi in vào tập Người chiến sỹ. Tôi còn muốn bỏ một đoạn nữa khi in vào tuyển thơ nay mai. Anh góp ý cho”. Tôi nói: Chắc anh sẽ bỏ đoạn:


Bát cơm chan đầy nước mắt


Bay còn giằng khỏi miệng ta


Thằng giặc Tây, thằng chúa đất


Đứa đè cổ đứa lột da.


Nguyễn Đình Thi cười và bảo: “Anh đoán đúng, bỏ thì gọn hơn và đỡ thô”. Tôi hỏi tiếp: “Trong bài Đất nước ở khổ đầu có hình ảnh “Người ra đi đầu không ngoảnh lại. Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”. Vậy người ra đi là ai, có phải là chiến sỹ tạm biệt Hà Nội đi kháng chiến trong những ngày đầu cách mạng. Nếu thế thì lại gặp một khó khăn là giải thích như thế nào về chữ xa:


Tôi nhớ những ngày thu đã xa”.


Nhà văn Nguyễn Đình Thi cho biết người ra đi trước cách mạng và đi với nhiều lý do. Trong Mấy vần thơ của Thế Lữ cũng đã nói đến hình ảnh người khách chinh phu. Đi vì chán cảnh tù túng, tìm một lối thoát hoặc đấu tranh cho một lý tưởng. Hai câu thơ đầu gợi lên âm hưởng chung về mùa thu, mùa thu trong kỷ niệm mùa thu với những cảm nhận chung về bầu trời trong sáng, hương thơm của mùa cốm và chút se lạnh khi chuyển mùa. Tôi cũng không định viết hai câu này riêng cho Việt Bắc. Tôi hỏi tiếp về câu thơ thứ hai “Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” có nhiều cách cảm nhận. Nguyễn Đình Thi hơi băn khoăn: “ý anh thế nào?”. Ở Khoa Văn trong một cuộc trao đổi có người cho rằng câu thơ của tác giả ngắt đoạn có dụng ý:


Sau lưng thềm/ nắng/ lá/ rơi đầy.


Ở đây người viết gây ấn tượng về nắng nơi, lá rơi nên phải tách ra và không nên đọc: Sau lưng thềm / nắng lá rơi đầy. Nguyễn Đình Thi cười: Tôi không viết cầu kỳ như thế. Mọi sự giản dị thôi: Sau lưng thềm nắng / lá rơi đầy. Tôi thích triết lý, thích ý thơ tiềm ẩn nhưng không thích cầu kỳ khó hiểu. Muốn suy nghĩ trừu tượng khó hiểu thì đi vào triết. Tôi đã từng viết một số sách về triết của Kant, Nietzche, Descartes và Siêu hình học. Cuốn Descartes viết cẩn thận hơn cả. Cuốn viết về Kant tôi gặp may là được đọc Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán của Lênin trong đó tác giả phê phán khá kỹ về Kant. Những suy nghĩ này đã chỉ dẫn cho tôi nhiều. Gần đây anh Hàm Châu bảo Tự điển triết học Pháp có nêu ở Việt Nam hai tên là Trần Đức Thảo và tôi. Sau đó tôi bắt đầu làm báo. Tôi viết cho tờ Gió mới của anh Dương Đức Hiền chủ trì. Có hai bài đáng chú ý là Lớn lên trong lòng mẹ và Sức sống của dân tộc Việt Nam qua ca dao. Bài trên tôi viết nhưng do anh Dương Đức Hiền ký tên. Sau cách mạng tôi làm báo Tiền phong lúc này anh Nguyễn Huy Tưởng đang trực tiếp làm. Hội Văn hoá cứu quốc có ba tờ báo, tờ Tiền phong, một tờ viết bằng chữ Pháp do anh Lưu Văn Lợi đảm nhiệm và một tờ viết bằng chữ Hán. Anh Nguyễn Đình Thi cười: “Tôi khai với anh hết rồi. Hôm nào chúng ta lại có dịp gặp nhau”. Tôi cám ơn anh.


 


NỬA THẾ KỶ VĂN HỌC CÁCH MẠNG


Phần I


Ngày 10/8/1995.


Ngày 16/5/1995 sau khi về nhận trách nhiệm Viện trưởng Viện Văn học tôi có ý định muốn thắt chặt mối quan hệ giữa Hội Nhà văn Việt Nam và Viện Văn học. Một trong công việc đầu tiên là mời những nhà văn tiêu biểu đến Viện nói chuyện. Tuy không có nhiều tiền lệ nhưng cũng là chuyện bình thường trong giao lưu và tiếp nhận văn học. Điều rất may mắn là nhà văn Nguyễn Đình Thi đã nhận lời. Người nghe không có yêu cầu gì đặt trước với diễn giả và nhà văn nói tự do trên cương vị người lãnh đạo cao nhất của Hội Nhà văn trong nhiều thập kỷ về tình hình văn học Việt Nam thời kỳ hiện đại, ít nhất là trên nửa thế kỷ qua. Anh Nguyễn Đình Thi chào hỏi mọi người và bắt vào chuyện:


“Tôi nghĩ là có thể giúp Viện một việc là kể lại những chuyện trong quá khứ như Văn hoá cứu quốc hình thành như thế nào, họp ở đâu? rồi các giai đoạn văn học kháng chiến chống Pháp, hoà bình lập lại,... Tôi nói dần khi nào hết diễn biến của sự việc cũng là hết chuyện. Các anh chị có thể hỏi thêm và tôi sẽ trả lời kết hợp với câu chuyện. Các anh chị thấy thế nào? Mọi người cười vui vẻ và vỗ tay.


Nhà văn Nguyễn Đình Thi nói về thời kỳ đầu cách mạng. Cách mạng tháng Tám và nhất là thời kỳ kháng chiến chống Pháp có đặc điểm là tinh hoa của trí thức và văn nghệ sỹ đều đi theo cách mạng. Ngoài tác động của đường lối chung có vai trò quan trọng của Cụ Hồ. Thời kỳ Văn hoá cứu quốc bí mật, Tiên phong còn giã cả Lều chõng của Ngô Tất Tố. Sau tất cả thành một khối yêu nước, gắn bó với cách mạng. Có cả lớp tri thức lớn đi theo cách mạng. Hồ Đắc Di cũng là người đáo để, Hồ Đắc Điềm cũng ghê gớm, gia đình Vi Văn Định, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Văn Huyên đều có tên tuổi lớn. Đảng Dân chủ có Hoàng Minh Giám, Tạ Quang Bửu cũng là những trí thức tiêu biểu của cả nước. Còn về văn nghệ sỹ thì lớp anh Nguyễn Đỗ Cung, Trần Văn Cẩn đã liên hệ với Văn hoá cứu quốc với cách mạng, rồi đến Tô Ngọc Vân. Chỉ có Lê Văn Đệ, Nguyễn Gia Trí là không đi theo cách mạng. Về nhạc, lớp ông Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Văn Duyệt, Nguyễn Văn Hiếu; về thơ có Thế Lữ, Xuân Diệu; văn xuôi có Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân... trừ nhóm Tự lực văn đoàn cũ Tú Mỡ, Trần Tiêu cũng đi theo kháng chiến. Hoàng Đạo, Nhất Linh, Khái Hưng không theo cách mạng.


Trong cách mạng và kháng chiến, giai đoạn Cách mạng tháng Tám và những năm đầu kháng chiến chống Pháp viết hay, cho đến 1949-1950, giai đoạn này đã khởi đầu đấu tranh trong văn học với nhiều vấn đề tuyên truyền và nghệ thuật, thơ Nguyễn Đình Thi, xung quanh một số tác phẩm văn nghệ. Không khí tranh luận dân chủ, đấu tranh về lý lẽ không dùng áp lực của chính quyền. Tranh luận cả về lý luận và sáng tác. Người tổng kết chính là Nam Cao với tác phẩm Đôi mắt (1948). Sáng tác tự nhiên, thơ hay, văn xuôi có thành tựu sau đó có một mùa đầu của tiểu thuyết. Bình Trị Thiên có Đánh trận giặc lúa, một số truyện ký ở Nam Bộ như Con đường sống của Minh Lộc. Thực tiễn lớn, và tình cảm mới mẻ. Từ 1950-1951, tiếp xúc với các nước XHCN có ảnh hưởng tốt, có mặt hay. Nhiều tác phẩm được dịch như Suối thép của Xêraphimôvitsơ, Trời hửng của Vương Lực... Lớp nhà văn được thử thách, chọn lọc đi vào kháng chiến và dần viết được. Họ là những nhà văn có tài năng như Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân, không thể lẫn được. Một số tác phẩm để lại được với thời gian, có giá trị thật, vừa biết chuyển đổi chấp nhận của phương Tây những giá trị mới vừa giữ truyền thống dân tộc mà không nệ cổ. Sau Cách mạng Nguyễn Tuân có Sông Đà, Nguyễn Công Hoan có những chương hay trong Hỗn canh hỗn cư, Tranh tối tranh sáng. Đống rác cũ rất tài năng. Nguyên Hồng có bộ Cửa biển mấy ngàn trang. Sau Cách mạng mới có tiểu thuyết dài. Nhiều thế hệ tiếp nối. Có lần Tố Hữu nói: “Lớp văn nghệ sỹ cũ không phải bỏ đi đâu mà vẫn còn sức lực đóng góp. Lớp trẻ cũng xuất hiện nhiều tài năng. Chính Hữu, Hoàng Trung Thông, thời chống Mỹ có Nguyễn Minh Châu với Cửa sông đọc hay, Đỗ Chu với nhiều truyện ngắn khá. Miền Nam lúc này có Đoàn Giỏi, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng. Đoàn Giỏi có Đất rừng phương Nam, hấp dẫn của tài năng tự nhiên với thiên nhiên miền Nam. Nguyễn Quang Sáng hợp với con người Nam Bộ, thể hiện rõ chất Nam Bộ. Hồi ký Dòng sông thơ ấu rất hay. Sau có Lê Văn Thảo có Chuyện nhỏ tình yêu rất khá. Sáng tác thời kỳ này vừa viết về chiến tranh vừa viết về đời thường. Làng của Kim Lân là đời thường. Một số cuốn viết về chiến tranh chưa có tác phẩm hay Nhiều nhà văn có đầu óc suy nghĩ. Tác phẩm hay thời nào cũng hiếm. Vấn đề giải phóng dân tộc luôn đi đôi với vấn đề giải phóng con người. Tôi đi với chiến sỹ dân công ngoài tiền tuyến đều thấy rõ con người cụ thể được giải phóng trưởng thành. Con người có được giải phóng mới có sức mạnh bên trong, như thế mới kháng chiến được. Còn đi lên chủ nghĩa xã hội có nhiều vấn đề khác, quyền con người, quyền dân chủ. Ở Liên Xô không tránh khỏi sự đàn áp. Trung Quốc với Cách mạng văn hoá cũng rất phức tạp. Ở ta cũng có những nguyên tắc hạn chế, kỷ luật nhưng chỉ với những người phản động. Các nhà văn, thơ lớn như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Chế Lan Viên đều đọc rộng, suy nghĩ đáo để, sâu sắc. Bản thân tôi bằng tác phẩm thơ, kịch, cũng như Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng đều có va vấp nhưng không ai việc gì. Lớp nhà văn cũ có tình đồng chí thực sự, nhưng rất thẳng thắn. Xuân Diệu không thú thơ không vần của tôi, Lưu Trọng Lư đòi đuổi thơ tôi ra khỏi cuộc kháng chiến song vẫn tôn trọng nhau. Ở Viện Văn học có cụ Đặng Thai Mai, cụ Hoài Thanh. Vấn đề lãnh đạo tốt sẽ có ảnh hưởng tốt với phong trào. Với tài năng lớn hoàn cảnh khách quan không tác động được bao lâu. Nhà văn lớn bắt vào nguồn sâu của thời đại. Cụ Nguyễn Công Hoan viết truyện ngắn, sau viết tiểu thuyết không thành công. Thời nào cũng thế, nhà văn trung bình rất cần môi trường xã hội. Tài năng lớn không làm gì được. Nguyễn Tuân không ai làm gì được. Còn Nguyễn Khải thì bị tác động. Một số anh em buồn vì sự nghiệp không đúng. Tác phẩm lớn vượt trường phái. Tranh Van Gốc không phụ thuộc Dã thú. Bandắc vượt trường phái. Victor Hugo là trường phái lãng mạn nhưng tác phẩm vượt những giới hạn của trường phái. Và bên cạnh đó có những tác phẩm hài hoà với trường phái, và những tác phẩm được biết đến vì trường phái. Thực ra những sáng tác thuộc một trường phái văn học vẫn có thể được những người thuộc khuynh hướng khác thừa nhận và hoan nghênh như trường hợp Nam Cao.


Năm mươi năm qua chúng ta có nhiều thành tựu. Thành tựu khá lớn, nhưng chưa phải thật lớn. Nhiều tác phẩm có giá trị đã khẳng định sức sống với thời gian. Nhiều thế hệ, nhiều chặng đường. Có nhà thơ có mặt ở hầu hết những chặng đường lớn của cách mạng như Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận. Có nhà văn nhà thơ chặng đường nào cũng có đóng góp. Tế Hanh sau cách mạng hay hơn giai đoạn trước. Chế Lan Viên cũng có nhiều thành tựu và chặng đường sau cách mạng hay hơn trước nhất là trong Di cảo. Thời chống Mỹ cũng phải đánh trống thổi kèn nhiều. Sau Cách mạng, Huy Cận viết nhiều nhưng còn lẫn lộn. Có một số bài hay, có bài xoàng. Trước Cách mạng hài hoà hơn. Khối lượng nhiều, nhưng chất lượng kém. Tố Hữu trong Từ ấy ảnh hưởng Thơ mới. Nước non ngàn dặm già dặn ảnh hưởng cổ điển. Lớp trẻ có thiên hướng phản ứng lại thơ giai đoạn trước. Ở ta sức ép yếu, phản ứng bình thường. Thường là phản ứng lại nhưng chưa vượt được. Phải có tác phẩm có trình độ cao hơn. Lớp trẻ viết tự do hơn, có luồng lạnh lùng tàn nhẫn. Nếu có hồn yêu thương trong sự tàn nhẫn thì hay. Một số tác phẩm gần đây thích dạy dỗ người khác. Không phải tuyên truyền mà là dạy đời. Nhà văn không nên dạy đời. Lê Văn Thảo viết dạng khách quan. Trong lớp trẻ có Bảo Ninh, Thu Huệ. Tác phẩm về nữ có ba điểm sáng rất quý là ba nét mặt nhân vật nữ: cô nữ du kích, cô y tá, cô giao liên. Nhiều nhân vật chính không hay vì khệnh khạng. Viết về chiến tranh nhưng với tâm trạng sau chiến tranh nên không thực. Người viết phải biết đối xử với nhân vật, phải tôn trọng, nhân ái, không xa cách, dạy dỗ. Chúng ta cũng không có nhân vật bé nhỏ trong tiểu thuyết. Tiểu thuyết không có trẻ con. Cuộc sống phong phú, nhiều loại nhân vật. Có chỗ chúng ta viết thiếu, có chỗ lại trùng lặp. Tài năng lớn phải trường vốn như dòng suối tâm hồn chảy mãi tuy nhiên cũng có giới hạn. Mozart từ 6 tuổi viết giỏi và sau mất ở tuổi ngoài 30”.


Giờ giải lao xong vài anh chị em đề nghị anh Nguyễn Đình Thi nói trực tiếp vào cả những sáng tác quen thuộc của tác giả “Nguyễn Đình Thi viết nhiều thể loại và có thể nói ở loại nào cũng thành công và trắc trở. Thơ không vần và cuộc trao đổi về thơ ở Việt Bắc, tiểu thuyết Vỡ bờ và những ý kiến khen chê khác nhau và kịch với nhiều trắc trở từ kịch bản đến trên sàn diễn. Thực tế ấy nói lên sức nghĩ và sức sáng tạo của Nguyễn Đình Thi vượt lên những khuôn khổ quen thuộc và không dễ được chấp nhận. Và thời gian đã ủng hộ ông. Ngày nay nhìn lại mọi sự khác biệt đã trở thành quen thuộc, thông thường. Chân lý thuộc về hiện tại trên định hướng tới tương lai”.


Nhà văn Nguyễn Đình Thi lại tiếp tục câu chuyện: “Tôi viết nhiều thể loại. Thơ là chuyện riêng tư kể cả khi viết về chiến tranh. Một số truyện ngắn Bên bờ sông Lô, Xung kích còn đọc được. Về bộ tiểu thuyết Vỡ bờ, ý kiến có khác nhau nhưng tinh thần chấp nhận, ủng hộ là chính. Tôi có những ý kiến riêng về Cách mạng tháng Tám. Ở đấy có sự lãnh đạo của Đảng và cũng là sự vùng dậy của các dân tộc. Ngày 17/8 cuộc họp lịch sử Đại hội Tân Trào, không ai dự đoán được ngày 19/8 là ngày Tổng khởi nghĩa. Lúc này Đảng chỉ có 5000 đảng viên. Đường lối đúng gặp nhu cầu quần chúng thành lớn. Cuộc Cách mạng tháng Tám vượt dự kiến của lãnh đạo. Tôi viết kịch và nghĩ khác với thơ và tiểu thuyết, kịch dồn lại những xung đột trong cuộc sống cũng như trong suy nghĩ người viết. Trong thời kỳ chống Mỹ, lúc đi Nam ra sức khoẻ yếu quá. Những suy nghĩ về dân tộc về cách mạng viết thành kịch cho nhanh. Không kể Hoa và Ngần viết trong chiến tranh, sau tôi viết một loạt. Giấc mơ viết về người lính trẻ, cái sống cái chết, sau có thêm ông lái buôn. Rừng trúc là vấn đề quyền lực, nhặt chuyện xưa của Trần Cảnh và Lý Chiêu Hoàng. Có thể sáng tạo thêm. Nguyễn Trãi ở Đông Quan là vấn đề người tri thức Việt Nam. Tôi viết và có đọc Galilê của Bertholt Bretch và Khuất Nguyên của Quách Mạt Nhược. Vấn đề tri thức Việt Nam gắn với vấn đề dân tộc không thể đời đục ta trong và phải biết phát huy trí tuệ và sự sống tự nhiên của con người (Nguyễn Trãi đối thoại với cô Câm, Nguyễn Trãi đối thoại với tướng giặc). Lê Đức Thọ trong cuộc họp bảo: “Anh Thi viết chống giáo điều mà không đánh nổi”. Tiếng sóng viết theo hình thức hiện đại. Rừng trúc là chính kịch cổ điển. Tiếng sóng nêu vấn đề trong đời người có những hoàn cảnh nhận rõ bản thân mình, sự thật cuộc đời mình. Tôi chọn những chuyện cổ tích của dân tộc. Bức tượng Người đàn bà hoá đá, Trương Chi những chuyện cổ tích của dân tộc. Cổ tích của sức sống và hiện tại. Người đàn bà hoá đá mang tính bi kịch. Cái tốt đánh nhau với cái tốt. Cái tốt có khi tạo bi kịch. Còn cái thiện đánh nhau với ác lại là chuyện bình thường. Chuyện hai anh em rất tốt lấy nhầm nhau thành bi kịch. Chuyện vợ chồng người đàn bà Nam Xương trong vở Cái bóng trên tường từng người rất tốt nhưng nhầm lẫn mà thành bi kịch. Dân tộc Việt Nam ngoài lịch sử chống ngoại xâm dân mình còn nhạy cảm với bi kịch của việc làm người. Vấn đề này còn ghê hơn là thiện chống ác. Nên suy nghĩ thêm để tìm hiểu tâm hồn dân tộc. Cuội trong Hòn Cuội là người nghệ sỹ với cuộc đời luôn có cảm giác lông bông “Cha tôi cắt cỏ...” Trong Cuội có màn ông sư với người hành hương lúc nào cũng có cảm giác mất cái gì. Với mỗi thể loại tôi lại ký gửi ít nhiều cảm xúc suy nghĩ tuỳ theo đặc điểm của thơ hay kịch. Thơ là chuyện riêng nói được nhiều về bản thân, tiểu thuyết là mang cái phản ánh cuộc đời, còn kịch lại là khoảnh khắc đặc biệt, quy tụ, dồn nén cảnh ngộ và tâm trạng.


Lâu nay tôi bận nhiều chỉ làm được một hai bài Trong cát bụi, bài thơ Dòng sông vẫn rì rào mang ý nghĩa tổng kết:


Dòng sông vẫn rì rào đang trôi đi


Ngọn cỏ mang sự sống qua cõi chết


Trong đêm xa xa mờ tỏ ngôi sao


Bông hoa nở cho hương thơm bay toả


Tình yêu dắt đời người trong sóng gió


Đau thương lặng gieo hạt giống nhân từ.


Tôi thích triết học phương Tây ở tính chất duy lý và hệ thống của nó. Tôi cũng ham đọc Kinh Thánh, Kinh Côran. Trong Kinh Thánh các chương Người truyền giáo, Tận thế rất hay. Và triết học phương Đông Trang tử, Lão tử. Lão tử dạy cách làm việc:


1) Vô vi là cách làm vua, giỏi nhất là không làm gì mà nhận được.


2) Có đức giáo hoá.


3) Sức mạnh dùng tiền..


Một ông tướng lớn không thích đánh nhau


Chiến sỹ không nổi giận


Hai đạo quân đánh nhau, bên nào đau khổ nhiều sẽ thắng.


Những trang viết của tôi còn đương tiếp nối. Nguyễn Trãi ở Đông Quan là trí thức Việt Nam. Tôi định viết trí thức cộng sản. Đây là vấn đề thời đại. Tôi định viết thành tiểu thuyết. Về kịch còn muốn viết một vở nhưng khó: Một ngày của ông Trần Hưng Đạo. Chỉ một ngày thôi của người tướng tài sẽ giúp chúng ta bao điều về cái tâm, cái tài của người anh hùng. Một ngày, khoảnh khắc quyết định sự sống còn của giang sơn đất nước. Rồi biết bao chuyện. Ở Điện Biên Phủ tướng tá chỉ huy bằng radio, còn với Trần Hưng Đạo thì chỉ huy ra sao? Diễn biến của trận đánh là quan trọng nhất. Về kịch tôi thích khai thác lịch sử, chọn những tình huống tiêu biểu và xung đột tư tưởng để thể hiện. Còn với tiểu thuyết lịch sử thì khó hơn, phải giàu chất liệu và chi tiết. Ở phương Tây khoa học lịch sử phát triển hơn ta nên việc khai thác lịch sử có cơ sở và căn cứ hơn. Viết kịch lịch sử tôi chủ yếu dựa vào sách vở. Rừng trúc nhờ Khoá hư lục. Nhiều câu của Trần Cảnh lấy từ Khoá hư lục. Nguyễn Trãi ở Đông Quan lấy ở Quốc âm thi tập. Tư liệu cộng thêm trí tưởng tượng của người viết”.


Thời gian buổi sáng cũng đã muộn. Nhà văn Nguyễn Đình Thi hẹn gặp và nói chuyện thêm vào một buổi khác.


Hà Minh Đức ghi


 


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi. Chuyên luận, trò chuyện và ghi chép của Hà Minh Đức. NXB Văn học, 12-2011.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »