tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22286257
Lý luận phê bình văn học
20.02.2012
Đặng Tiến
Tô Hoài, mãi mãi không già

Chiều chiều 


 Chiều chiều chim vịt kêu chiều


Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau


Chiều chiều ra đứng ngõ sau


Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều


            Chiều chiều nhớ lại. Chiều chiều lại nhớ. Lại nhớ chiều chiều. . .


             Chiều chiều, hồi ký văn học viết xong 1997, xuất bản 1999, sau khoảng 170 đầu sách, gồm có truyện ngắn, truyện dài, truyện cho thiếu nhi, truyện phim,và khoảng mươi tự truyện kể từ Cỏ dại , 1944, đến Tự truyện, 1978, Cát bụi chân ai, 1992,  Sổ tay viết văn, 1977, Những gương mặt, 1988, Ba người khác ,2006. Những dư địa ký về Hà Nội và nhiều ký sự, du ký ..


            Tô Hoài viết cái gì thì cũng ra .. . tự truyện.  Anh nhẩn nha kể hết chuyện này sang chuyện khác nhưng mỗi tác phẩm đều mang đến cho người đọc nhiều kiến thức mới lạ và lý thú. Thậm chí giọng kể mỗi lần mỗi khác. Ví dụ Cát bụi chân ai đã đem lại  nhiều hiểu biết về Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Xuân Diệu và một thời đại văn học. Tưởng đến đó là hết chuyện, nhưng Chiều chiều lại mang lại nhiều ánh sáng mới, rọi chiếu vào một giai đoạn dài và nhiều truân chuyên  trong xã hội và văn học từ 1955 đến nay. Ngày nay không thể viết phê bình hay lịch sử văn học mà không đọc đi đọc lại Tô Hoài.


             Tô Hoài luôn luôn gửi gấm từng mảng đời  thật của mình vào chữ nghĩa, kể cả trong truyện ngắn, truyện dài, và có thể do đó anh không ưa dùng hai chữ “tiểu thuyết”.


            Mỗi ký sự của Tô Hoài đều có sắc thái riêng. Ví dụ mảng hồi ký về thủ đô Hà Nội , từ Chuyện cũ Hà Nội (1986) đến Hà Nội và Hà Nội (1996) đã đem lại những chứng từ sống động về địa dư, lịch sử, phong tục, tiếng nói của thủ đô, và nhà văn Nga Ni-cu-lin đã tinh tế phát hiện ở nhà văn Tô Hoài một nhà dân tộc học. Viết bao nhiêu về thủ đô Hà Nội Tô Hoài vẫn còn “tình thương chưa đã, nhớ chưa bưa”  nên thừa mọi cơ hội để tự tình với Hà Nội, từ tiểu thuyết lịch sử Quê nhà (1970) đến Chiều chiều.


  Tô Hoài đă viết hàng chục tập du ký. Chú Dế Mèn đă mở những trang phiêu lưu ký đến khắp các miền đất nước, sang láng giềng Lào, Campuchia, sang các nước Âu Mỹ, á Phi, mà đỉnh cao là núi Kilimangierô, nơi Dế Mèn đã phiêu lưu đến năm 1989 (Chiều chiều tr. 501). Du ký của Tô Hoài ăm ắp tình người và lúc nào cũng đăm đắm lòng quê.


            Tiếp theo là hồi ký văn học, đặc biệt là Những Gương Mặt (1988) ghi lại chân dung đậm nét về các tác gia bạn bè từ Nguyễn Bính đến Trần Huyền Trân, đằm thắm tình nghĩa. Nổi tiếng nhất là Cát bụi chân ai (1992) viết sau thời kỳ đổi mới, đã gây tiếng vang lớn. Một mặt vì nó tiết lộ nhiều sự kiện, như thái độ một số nhà văn thời  Nhân văn Giai phẩm, mặt khác vì lối viết mới mẻ, ví dụ như những trang về quan hệ đồng tính với Xuân Diệu (1992, tr. 190), những trang nồng nàn tình bạn với Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân qua bao nhiêu sóng gió. Sách được in đi in lại nhiều lần, trong nước và ngoài nước. Khi tái bản, Tô Hoài chăm chút đọc lại và thêm bớt, tuỳ nhu cầu thông tin hay tình hình cho phép. Ví dụ trong Cát bụi chân ai, lần in 1997, trong Tự truyện, anh ghi rõ tên Hoàng Huế là người năm 1956 đã mỉa mai Nguyễn Tuân #thắt cà vạt đỏ đi khắp năm châu trên báo Đất Mới. Cũng trong Tự truyện, ấn bản 1997, Tô Hoài thêm  một chương dài 15 trang cho Nguyễn Hữu Đang (tr. 360-374). Và nói rõ thêm về các nhà văn theo nhóm Trốt kýt (Đệ tứ), như Lam Kiều bút hiệu của Nguyễn Xuân Huy (tr. 282).


             Như vậy, khi đọc Tô Hoài, dù một tác phẩm in lại, nếu đọc kỹ, chúng ta vẫn thu hoạch được những kiến thức mới và hiểu được thời tiết văn nghệ Việt Nam trong khí hậu chính trị Việt Nam


*


            Chiều chiều là con sông dài, qua bao nhiêu ghềnh thác vẫn tiếp tục xuôi dòng hồi ức 80 năm của Tô Hoài mà vẫn chưa hò hẹn ngày xuống đồng bằng hay đổ ra biển cả.


            Vậy Chiều chiều đã mang lại cho người đọc những cảm thụ gì mới? So với những tự truyện trước, Chiều chiều nặng phần phê phán thời đại mà tác giả đã trãi qua; ở các tác phẩm trước, Tô Hoài thường bao che, bào chữa, như là một hồi ký bao cấp. Đến Chiều chiều, giọng kể nghiêm nghị hơn về đời sống chính trị và văn nghệ  những năm 1955-1970, về những sai lầm trong chính sách Cải cách ruộng đất, về đời sống Hà Nội từ những ngày tiếp thu qua những đợt sơ tán, đặc biệt là những ngày nhà văn Tô Hoài, trưởng khu phố (1965-1972) phải đi mai phục “bắt gái điếm” (tr. 294) và “những người giặt xi líp thuê cho gái điếm  (tr. 288) “bắt những anh Hà Nội, buổi trưa thuê phòng chơi gái”  (tr. 290), hay  cảnh diệt chuột, bắt mê tín, thậm chí cả việc “trông  nom hơn hai trăm cái hố xí hai ngăn của thành phố”  (tr. 301). Hà Nội thanh lịch của Tô Hoài trong các hồi ký trước, đến Chiều chiều bỗng sực mùi hôi hám suốt mười trang rất hiện thực mà lần đầu tiên, Tô Hoài đă dành cho “việc ỉa đái của đất Kẻ Chợ”  (tr. 300). Ngôn ngữ  này sẽ làm ngạc nhiên nhiều độc giả vì lạ lẫm ở hành văn Tô Hoài, một tác giả duy mỹ, có cả một chủ trương về chữ nghĩa, mà từ 1959 anh đã gọi là “chủ nghĩa tiếng nói”. Mới đây anh có bài báo:


            “Làm sao cho mỗi chữ là một hạt ngọc trên bản thảo, hạt ngọc mới nhất của ta tìm được, do phong cách văn chưng của ta mà có được. Trang sách mà không có ngọc, trang bản thảo không có chữ thần, không có tinh hoa chữ thì cái hồn tác phẩm, từ tư tưởng đến nhân vật, biết lấy gì mà sống được, không có chữ ngon, chữ bổ nuôi nó, trang viết gầy gùa trống rỗng rồi chết héo” (Tâm sự về chữ nghĩa, Tạp chí Văn học, 12/1998), nhưng bài này viết đã lâu, in trong Sổ Tay Viết Văn (1959).


 


            Chữ “ỉa đái” không chứng minh, mà cũng không phản biện, “chủ nghĩa tiếng nói”  của Tô Hoài; theo tôi, nó chỉ chứng tỏ cụ Tô...  bực mình; cụ bất bình về chính sách vệ sinh thời đó, mà phải phớt tỉnh, cho đến Chiều chiều thì nó bật ra. Sự đời, rồi đến tình người, cụ bực nhiều chuyện lắm ; thậm chí cụ gắt gỏng ngay với con sông Tô lịch “tuyệt vời nhất châu Á” (!) (tr. 267) mà một đời cụ chắt chiu trong trí tưởng: cái tên Tô Hoài còn có nghĩa là hoài vọng sông Tô.


*


            Tiếng Việt ta không có một từ chính xác tương đương với chữ humour trong tiếng Pháp, tiếng Anh. Ta tuỳ tiện dùng những chữ hài hước, hóm hỉnh, dí dỏm... Nhưng trí óc Viêt Nam rất giàu uy mua (hay u mặc). Ca dao, tục ngữ, truyện dân gian chứng tỏ điều đó. Gặp văn học phương Tây, nó phát triển mạnh: truyện Vỡ Đê  từ thời Phạm Duy Tốn là một ví dụ; O chuột (1943), tập truyện đầu tay của Tô Hoài là một minh chứng về sau.


            O Chuột, một hình ảnh,  là phản ngữ của động từ O Mèo, là một sáng tạo ngôn từ  của Tô Hoài (o nghĩa là tán tỉnh, như trong từ o bế).  Ngoài Tô Hoài ra, không ai nói: o chuột. Nhưng humour, uy mua, không hợp với văn chương cách mạng. Hiện thực xã hội chủ nghĩa đòi hỏi trào phúng, hài hước chỉ đích danh đối phương; còn uy mua thì không rõ ám chỉ ai, mà nhất định phải là một lối văn linh tinh, không đáng tin cậy, nhất là trước một đề tài trọng đại. Lấy Như Phong làm ví dụ, khi ông ấy phê phán cuốn Mười Năm (1957):  “Tại sao Tô Hoài cứ phải giở giọng pha trò khi nói đến những giờ phút nhiệt tình hay cảm động của quần chúng”  (sđd, tr 132). Khổ thân Tô Hoài, theo cách mạng từ tuổi thiếu niên làm sao dám pha trò, đùa cợt, chế diễu (sđd, tr. 104) với cách mạng? ấy chỉ là cái uy mua,  u mặc đặc biệt trong giọng văn và trong cách sống, cách nhìn đời. Sáng tác Tô Hoài luân lưu giữa hai bờ phong cách: u hoài và u mặc. Cuộc đời Tô Hoài là Nụ Cười Thương Nhớ: tên một bài thơ Đinh Hùng, cố tri và cố   nhân. (Nguyên câu thơ là: Nụ cười thương nhớ  nét đan thanh).


             Giọng văn dí dỏm khiến  người đọc dù nghe chuyện về những nhà văn ít tên tuổi như Sao Mai (sinh 1924) cũng không chán: “Tôi lại khoái ông có máu đa tình mà lại chung thuỷ. Léng téng với ai rồi cũng lấy người ta. Nghe nói ông mới có phòng mới (...)  vừa cai nghiện (...) bằng một liều thuốc dân gian, mạnh và dữ, phi có nghị lực mới cai được (...) Bài thuốc cai của Sao Mai có gia giảm các vị phụ nữ...” (tr. 25-27).


            Tô Hoài không nói rõ là gia hay giảm.


             Giọng văn có khi đanh lại, như khi nói chuyện quyền thế, cơ hội, tráo trở. Tâm hồn anh thoáng rộng, không cố chấp về luân lý hay chính trị, thậm chí còn bị Như Phong phê phán là hoài nghi chủ nghĩa (!) (Sđd, tr. 132) ; duy có một điều: Tô Hoài tình nghĩa, như đã viết: tình nghĩa cũng trong lẽ sống tự nhiên (tr. 516) và đã tự nhiên thì mãi mãi (tr. 269) ! Và từ đó Tô Hoài không hiểu những thái độ không tình nghĩa ; chẳng nhất thiết phải là phản bội hay tráo trở. Nói là nhược điểm cũng được đi.


            Trong Cát bụi chân ai, Tô Hoài có thể xởi lởi với một đại tá Huỳnh Cự trở áo (1992, tr. 116), nhưng đến  hồi ký  Ba người Khác,  viết cùng thời 1992,công bố 2006,chuyên đề về thời Cải cách ruộng đất,  Tô Hoài mô tả kỹ càng viên đội trưởng ác ôn tên Cự, về sau chính là đại tá Huỳnh Cự hồi chánh tại Miền Nam, giọng Quảng Nam oang oang trên đài phát thanh Sài Gòn.( Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2006, trang 245).


            Giọng văn Tô Hoài cũng có lúc cà kê ở phần sau, khi kể những chuyến đi các nước á Phi, Nga, Đông Âu . Tô Hoài đi thăm con trai, lao động tại Laixich (tr. 409) mấy năm sau đã tử nạn  tại đấy (tr. 521). Một thảm kịch trong đời, nhưng anh chỉ kể sơ lược. Tô Hoài vốn tiết kiệm những chuyện gia đình, riêng tư. Anh chỉ ghi lại những mảng đời tiêu biểu, có liên quan đến xã hội, văn học, và chỉ đề cập đến con người cá nhân khi nó “mang hình thái trọn vẹn của thân phận làm người”  như lời Montaigne.


*


Tên sách Chiều Chiều lấy từ ca dao:                  


Chiều Chiều lại nhớ chiều chiều


Nhớ người quân tử khăn điều vắt vai


            Tô Hoài trích dẫn ở đầu sách, gọi là ca dao cổ. Thật ra nó không cổ, chỉ mới phổ biến hơn trăm năm nay, vì nguyên là một câu thơ của Tương An Quận Vưng, con vua Minh Mệnh, kín đáo khóc Hồng Bảo, con trưởng vua Thiệu Trị, là cháu, học trò và bạn tri âm của mình. Hồng Bảo âm mưu tranh ngôi vua với em là Tư Đức nên bị bắt giam và bức tử trong ngục.


 Nguyên gốc là:


Chiều chiều lại nhớ chiều chiều


Nhớ người đãy gấm khăn điều vắt vai


            Đãy gấm là cái hà bao bằng gấm.  Bao là cái đãy, hà là cây sen, vì đãy gồm có hai phần: đãy lớn hình lá sen đựng trầu cau, đãy nhỏ hình bông sen đựng thuốc. Màu sắc tuỳ thuộc đẳng cấp: vua dùng đãy bằng đoạn màu vàng, hoàng thân, như Hồng Bảo dùng đãy bằng gấm màu đỏ (điều) dân thường dùng lụa màu xanh.


            Chi tiết nhỏ không quan trọng gì, nhưng tôi vẫn trình bày với Tô Hoài vì anh ưa thảo luận về chữ nghĩa, trong cái anh gọi là  “chủ nghĩa tiếng nói” (Có lần anh than với tôi: “ngày xưa còn cụ Hoàng đạo Thuý, thỉnh thoảng mình còn có người nói chuyện về chữ nghĩa. Bây giờ ông ấy qua đời thì ..”. Anh có những câu nhẹ nhàng thế thôi, nhưng nghe ... phát ớn).


            Chiều Chiều... Tô Hoài dùng chữ theo ý nghĩa, nhưng còn vì âm vang của nó. Chiều chiều là hồi ký của người cao tuổi, như Nhớ nghĩ chiều hôm của Đào duy Anh. Nhưng chỉ hiểu như thế thì chưa tri âm. Vì Tô Hoài rất thích âm vang ấy từ hồi còn trẻ, như là lúc 23 tuổi. Tại Sơn Tây, ngày 20 -7- 1943 anh đã viết:


             Chiều chiều Ly thẩn thơ ra ngoài bờ giếng. Gã muốn nói mãi, nói mãi về những chiều vô tội ấy. Những buổi chiều hoa mộng không bao giờ có thể quên, bởi nó ngây ngất mà chẳng mang một nghĩa gì rõ ràng (...).  Sao không chỉ có những chiều thơ dại ấy trong tất cả một đời người...


             Tô Hoài là nhà văn không bao giờ già. Vì con người anh chưa bao giờ trẻ. Tô Hoài miên viễn là  buổi trưa mùa thu” “Mùa thu có những ngày không sáng, mà cũng không chiều Nhưng vẫn có những chiều chiều. Những chiều chiều mãi mãi trong chúng ta.


            Thỉnh thoảng lại hanh hao lên một âm hao u hoài, xa vắng ...


            Chiều Chiều...


Nguồn: Văn nghệ/phongdiep


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Truyện Tỳ Bà, từ Trung Quốc vào Việt Nam - Lại Nguyên Ân 19.04.2018
Sự có mặt của Nguyễn Bính - Lại Nguyên Ân 19.04.2018
Nhớ về Maxim Gorky - Nguyễn Văn Chiến 12.04.2018
Sự cáo chung của nghiên cứu văn học? - Steven G. Kellman 02.04.2018
Thiên sứ của Phạm Thị Hoài: Tiếp nhận từ lý thuyết trò chơi - Lê Hương Thủy 30.03.2018
Krasznahorkai László - “Chiến tranh và chiến tranh”: Một cuộc xô đẩy điên loạn - Tư liệu sưu tầm 28.03.2018
Thơ Nguyễn Bính, một từ khóa của tâm hồn Việt - Nguyễn Quang Thiều 24.03.2018
Những người đàn bà tắm của Thiết Ngưng - Hà Tùng Sơn 19.03.2018
Người đàn bà tắm: Cuốn tiểu thuyết của những cuộc đối thoại văn hóa - Vương Trí Nhàn 19.03.2018
Nguyễn Vỹ: Nhà báo, nhà thơ, nhà văn của quê hương Núi Ấn sông Trà - Đoàn Lê Giang 19.03.2018
xem thêm »