tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19680586
Lý luận phê bình văn học
19.02.2012
Nhiều tác giả
Hai bài về nhà thơ Trần Vũ Mai

Nhà thơ Trần Vũ Mai - Ngọn gió từ thảm cỏ sông Hồng


Trong nhật ký bằng thơ, Trần Vũ Mai viết: “Anh đã góp được gì cho đất nước/ Nếu ngày mai anh phải chết/ Anh sẽ nói gì đây/ Anh bỏ lại cuộc đời/ Những gì anh chưa làm được/ Để sau đó có những người đã hát/ Một khúc ca cảm tạ nhân gian/ Cảm tạ bầu trời Cực Nam lồng lộng…”.


Nhà thơ Trần Vũ Mai tên thật là Vũ Xuân Mai, sinh năm 1944 mất năm 1991, quê Thanh Hóa. 47 năm sống học tập mạnh dạn dấn thân và thành danh. Anh là nhà thơ nhiệt thành có tính cách và có tài. Bài thơ “Thảm cỏ bờ sông Hồng” chúng tôi đọc thuộc cuối những năm 1960, đầu những năm 1970: “…Suốt một ngày bầu trời thăm thẳm/ Suốt một ngày tôi nhớ Paul ÊLuard/ Tôi nhớ/ Những gì tôi chưa có được/ Thảm cỏ bờ sông Hồng non tơ/ Mầu cẩm thạch nghiêng nghiêng chào giã biệt…”. Sau khi tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Hà Nội, anh tình nguyện vào chiến trường làm phóng viên Tạp chí Văn nghệ Giải Phóng Khu V, bám trụ vùng cực Nam Trung bộ. Chưa ai viết nhiều, chưa ai viết hay và say sưa về cực Nam bằng Trần Vũ Mai.


“...Cực Nam gió chướng ngang trời/ Gió từ La Hai ngược lên Đắc Lắc/ Đường xuyên sơn hầm dốc/ Gió quần vang trảng trăng thu/ Một lối rẽ bất ngờ/ Ban đi Phan Thiết… Cực Nam!/ Cực Nam/ Ta say đắm bao giờ không biết nữa…” (Cực Nam).


Năm 2010, Hội Nhà văn TPHCM phối hợp với Hội VHNT Phú Yên với sự tài trợ của Công ty Sao Việt… mở trại sáng tác văn học. Nhà thơ Phan Hoàng, người Phú Yên dẫn chúng tôi đi thăm TP Tuy Hòa, từ trên núi Nhạn nhìn xuống, anh nói như nói với riêng mình: Đó, gió Tuy Hòa lạ không? Gió ấy mở đầu thơ Trần Mai Ninh; kia, làng Phước Hậu, nơi nhà thơ Trần Vũ Mai ở và viết trường ca. Phú Yên có hai nhà thơ nổi tiếng đều là dân Thanh Hóa. Cái duyên của Thanh Hóa với Phú Yên là có thật và cái duyên giữa Trần Mai Ninh (1917-1947) và Trần Vũ Mai cũng là có thật. Yêu thích văn thơ, Vũ Xuân Mai mê Trần Mai Ninh mà lấy bút danh là Trần Vũ Mai. Ra chiến trường anh về cực Nam bám trụ và làm thơ… “Cực Nam người có nhớ chăng/ Chàng thi sĩ ấy chết năm mặt trời/ Hóa thành năm tháng trong tôi…” (Nỗi nhớ Trần Mai Ninh). Khánh Hòa Nha Trang, Phú Yên Tuy Hòa… Cực Nam! Những tên đất ấy thấp thoáng ẩn hiện hình bóng cô gái miền Trung mặn mòi: “Tôi ngoảnh lại/ Tuy Hòa rung mềm mại/ Tuy Hòa vui gió thổi/ Lúc bấy giờ/ Lúc ấy/ Nha Trang ơi”… Tính cách sống hết mình, sôi nổi, Trần Vũ Mai mê E.Hemingway (nhà văn Mỹ) mãnh liệt. Trần Vũ Mai thích thơ P.Êluard (nhà thơ Pháp) và Trần Mai Ninh, thơ phóng khoáng đầy màu sắc. Trần Vũ Mai sớm chọn và luôn có thần tượng trong đời. Và Trần Vũ Mai đã thành công. Anh là một tác giả thơ hiện đại đáng được ghi nhận.


Ngọn gió thơ Trần Vũ Mai thổi từ “Thảm cỏ sông Hồng” đến “Cực Nam”, về “Làng Phước Hậu” và thổi qua thổi lại, thổi miệt mài, thổi vô hồi vô tận, thổi hết mùa này đến mùa khác. Khí chất thơ Trần Vũ Mai là chất phóng khoáng, róng riết, gợi cảm, hình ảnh giàu màu sắc, nhịp điệu lôi cuốn, nồng nàn: “Chúng tôi đi về Cực Nam/ Lòng nghĩ thương cây mạ/ Chạy trên đê ngắm lại sông Hồng…”. Ngọn gió thì có ngưng thổi bao giờ. Thơ Trần Vũ Mai thổi khắp dải miền Trung gian khổ ác liệt trong chiến tranh. Cái giá trị của thơ Trần Vũ Mai là dựng lại một miền Trung thời ấy. Thơ Trần Vũ Mai tinh khiết và phố phường. Tinh khiết cả trong dồn nén, lẻ đơn. Không thấy Trần Vũ Mai buồn nản, anh chỉ… ít nói chuyện: “Chưa hết xuân lại đã lẩn sang hè/ Hạt mưa nhỏ như mưa rồi lại tạnh”; “Gió thu nắng giữa thu vàng thu mật/ Hai anh em vào ngõ nhỏ ăn quà”.


Trần Vũ Mai sinh thời, ít in thơ mình. Anh sống như thơ, là thơ. Người ta biết anh là nhà thơ vì chính con người thật của anh. Hết mình. Như uống rượu, hút thuốc. Như ngọn gió thổi ngọn lửa cháy hết mình. Trần Vũ Mai có người cha yêu thơ văn, có nhiều bạn bè yêu quý anh. Trần Vũ Mai chỉ để lại cho chúng ta khoảng 75 bài thơ, 3 trường ca là “Bài ca chính thức về E.Hemingway”, “Làng Phước Hậu”, “Nàng chim Lạc” và một số trang văn xuôi… Tôi đếm được hơn 300 chữ, tiếng “gió” trong thơ Trần Vũ Mai.


Còn nhớ, cuối năm 1975, Trần Vũ Mai vào TPHCM, kéo tôi đến chỗ ở của nhà thơ Giang Nam và nhà thơ Hoài Vũ trên đường Trần Huy Liệu, Phú Nhuận. Trần Vũ Mai đối với tôi là vai anh (anh Mai học trước tôi 3 khóa). Trần Vũ Mai vỗ vai tôi cười phô hàm răng “bã trà khói thuốâc” nói: “Các anh phải cho thằng này vào hội!”. Ngày 11-4-1977 tôi được giới thiệu vào Hội Nhà văn Việt Nam! Tôi thầm cảm ơn anh Trần Vũ Mai, Giang Nam, Hoài Vũ…


Tháng tư lại về... tháng tư, chúng tôi ra trận và tháng tư đất nước giải phóng. Chúng tôi nhớ tháng tư và nhớ Trần Vũ Mai, một ngọn gió thơ, một khí chất thơ của “một trong số không nhiều thi sĩ Việt Nam thời hiện đại” (lời Thanh Thảo)


Vũ Ân Thy


  


 Trần Vũ Mai, như tôi biết


Có lẽ tôi không nằm trong số những người bạn thân thiết nhất của Trần Vũ Mai. Một ngày đầu tháng 4.1975, tôi gặp anh lần đầu ở Nha Trang, lúc thành phố mới giải phóng. Nhóm của anh có bốn người với một chiếc xe jeep chiến lợi phẩm chở theo rất nhiều sách và tạp chí Văn nghệ Giải phóng Quân khu 5. Vui vẻ, cởi mở, xông xáo - đó là những ấn tượng ban đầu anh để lại với những người thành thị mới tiếp xúc với anh - một cán bộ cách mạng, một nhà văn cộng sản. Mấy hôm sau, anh tiếp tục đi vào phía Nam theo chiến dịch. Khoảng một tháng sau anh lại quay ra Nha Trang, mang theo rất nhiều sách xuất bản ở Sài Gòn trước đó, và một mối tình. Anh bạn họa sĩ Thanh Hồ thu xếp cho anh ở tạm trong phòng vẽ, nơi mà những tháng năm trước đó chúng tôi thường tá túc đi về, trốn tránh sự săn đuổi của chế độ cũ. Sau này Mai xin được một căn hộ trên lầu 2 chung cư Chợ Đầm, nhưng anh thường xuyên làm việc và ngủ lại ở trụ sở cơ quan.


Ngay từ mùa hè 1972, Trần Vũ Mai đã viết:


Cực Nam


Cực Nam


ta say đắm tự bao giờ không biết nữa


bầu trời trong veo biển thẳm trong veo (...)


Và anh đã "Nghe ngọn gió nào cũng như gió Nha Trang" khi đang còn đi dưới mưa bom trong những cánh rừng Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk. Vậy nên sau ngày giải phóng anh chọn Nha Trang để sống và làm việc tất là điều dễ hiểu. Mặc dù mãi đến năm 1977, Mai mới chuyển hẳn công tác về Nha Trang, biên chế ở cơ quan Ban Vận động thành lập Hội Văn nghệ tỉnh Phú Khánh nhưng ngay từ đầu năm 1976, khi vẫn đang còn biên chế ở Trại sáng tác Quân khu 5, Mai đã thường xuyên có mặt ở Nha Trang và bắt tay cùng các anh ở Sở Văn hóa Thông tin biên tập bài vở cho những số đầu tiên tờ Sáng tác Phú Khánh. Ngay cả đề án thành lập Hội Văn nghệ tỉnh Phú Khánh được làm đi duyệt lại nhiều lần, Trần Vũ Mai cũng đóng góp khá nhiều công sức, từ những bước đi cụ thể để xây dựng đội ngũ sáng tác địa phương đến nhân sự chủ chốt có đủ năng lực và uy tín tập hợp những con người từ nhiều nguồn khác nhau về dưới một mái nhà.


Cho đến đầu năm 1979, tôi vẫn còn công tác ở huyện xa, tháng đôi lần về Nha Trang vui chơi với anh em bè bạn. Thời ấy tôi không hề có chỗ nào gọi là nhà của mình, cho nên về Nha Trang tôi thường ghé nhà Mai hoặc phòng làm việc của anh trong trụ sở Hội Văn nghệ. Chơi với Mai, tôi học được ở anh thái độ chí thú đầy trách nhiệm đối với công việc; vừa đòi hỏi cao vừa rất chân thành với bạn bè. Chỉ trong vòng ba năm, anh góp nhặt được một tủ sách với rất nhiều cuốn quý hiếm, đặc biệt là những cuốn sách giá trị được xuất bản ở Sài Gòn trước 1975. Anh ấp ủ nhiều dự định cho công việc xây dựng Hội Văn nghệ và tờ Tạp chí Văn nghệ Phú Khánh bởi một tình yêu thương hết mực mảnh đất mà anh lựa chọn gửi gắm bắt đầu từ lời réo gọi của Tình sông núi và Nhớ máu của nhà thơ Trần Mai Ninh, người đã để lại tấm gương chiến đấu hy sinh đẹp một vẻ bi tráng đầy huyền thoại ở đây. Trong những cuốn sổ tay dày đặc chữ của anh, có ghi chép lời kể của các nhân chứng thời chiến, những chuyến đi thực tế về các huyện, về các vùng kinh tế mới, về căn cứ cũ; những cách nói dân dã của người lao động miền Trung, những phác thảo thơ dang dở, một số chương của cuốn tiểu thuyết có tính sử thi về cuộc chiến tranh vừa mới im tiếng súng, rất nhiều những trang, những đoạn viết rời... Sức làm việc của anh thời kỳ này thật đáng nể.


Thế nhưng tình hình xây dựng tổ chức văn nghệ ở Phú Khánh lúc bấy giờ càng lúc càng đáng buồn, cộng với những nỗi buồn riêng khiến Trần Vũ Mai chừng như bị dồn vào tình thế không chịu đựng nổi. Vốn là người thích làm cơm ngon đãi bạn, thích lang thang với cả nhóm anh em trên phố khuya, thích cái không khí ấm áp và dân dã ở những quán rượu bình dân ven đường, giữa chợ, trên sân ga..., càng về sau Mai càng uống nhiều và say nhiều; một vẻ mệt mỏi không sao che giấu được cứ hiện lên, và anh bất lực đi tìm một lối thoát. Khoảng cuối năm 1978, trên da anh hiện lên một số vết chàm, anh em có người bảo đó là hậu quả của chất độc mà anh không tránh khỏi trong những năm ở chiến trường, cũng có người bảo đó là dị ứng của rượu. Đến nay tôi vẫn nhớ rõ mồn một cái đêm chúng tôi uống say mèm đến hai ba giờ sáng, cả bọn ê a hát hò trên những con phố lộng gió và cuối cùng, không biết bằng cách nào tôi và Mai về được đến căn phòng của anh trong cơ quan, tôi lăn đùng ra ngủ khi anh ngồi thiền trên chiếc giường cá nhân, có lẽ để trấn áp cơn say. Tôi giật mình thức giấc khi nghe tiếng đổ đánh "ầm" của Mai từ trên giường xuống sàn nhà, và cứ thế anh nằm không động cựa. Tôi không đủ sức lôi anh lên giường, gọi mãi anh cũng không tỉnh dậy, đành chỉ kê cho anh chiếc gối rồi lại thiếp đi trong cơn say bí tỉ cho đến trưa hôm sau, chính anh là người đánh thức tôi dậy và hỏi: "Đêm qua trên đường về chẳng hiểu mình ngã ở đâu mà trầy trụa cả cánh tay và đau ê ẩm cả người!".


Đầu năm 1979, tôi chuyển công tác về Hội Văn nghệ tỉnh giữa lúc Mai chuẩn bị rời Nha Trang về Nhà xuất bản Tác Phẩm Mới. Trớ trêu thay, tôi thay vào đúng cái chỗ mà anh buộc lòng phải từ bỏ. Lúc ấy anh đang yêu một tình yêu mới, và tôi tin rằng nếu như người phụ trách cơ quan văn nghệ tỉnh Phú Khánh lúc ấy thành tâm muốn anh ở lại, anh đã không rời Nha Trang và 12 năm cuối đời Mai đã diễn ra theo một lối khác...


Tôi còn gặp lại Trần Vũ Mai hai lần nữa. Lần thứ nhất là vào đầu mùa thu năm 1985 khi tôi ra Hà Nội. Tôi đến nhà xuất bản tìm anh, rủ anh đi uống vài chén rượu suông, xin anh đóng góp bài vở cho Tạp chí Nha Trang mà tôi đang làm biên tập chính. Mai nói về chuyến đi Sông Đà, về những dự định sáng tác trong đó có nói về trường ca Nàng chim Lạc. Vẫn là Trần Vũ Mai ấy, lầm lũi đi bộ khắp phố phường, vẫn cười "khì khì..." khi vui, nhưng anh đã già đi nhiều, mỏi mệt và chậm chạp, tiềm tàng một nỗi buồn và có vẻ như chẳng bao giờ có tiền trong túi! Tôi đưa anh một món tiền nhỏ gọi là ứng trước tiền đặt bài. Anh nói với tôi khi chia tay, vẻ thiết tha chỉ có bè bạn văn nghệ ở Nha Trang mới cảm nhận hết: "Thèm vào Nha Trang quá! Tìm cớ kéo tao vào chơi ít bữa đi nghe!".


Lần cuối cùng tôi gặp Mai là tháng 11.1986 nhân Đại hội Văn nghệ Phú Khánh lần thứ nhất mà anh là "khách mời" - cái cớ để anh vào thành phố yêu thương của anh, hít thở lại ngọn gió cực Nam thương nhớ của anh. Chỉ có một ít bạn bè thân mới biết Trần Vũ Mai khóc thế nào trong chuyến vào cực Nam lần cuối cùng ấy vì anh cảm nhận nhiều điều không lành về phong trào hoạt động văn nghệ ở Nha Trang, Phú Khánh.


Tôi không định viết bài này nếu như không cảm thấy xót xa trước một món nợ mà Nha Trang - Khánh Hòa còn mắc đối với Mai. Trong cái gọi là công trình Khánh Hòa 45 năm văn học (1945 - 1990) do Viện Văn học phối hợp với Hội Văn nghệ Khánh Hòa biên soạn, tuyển chọn và xuất bản năm 1990, tác giả của những bài thơ Cực Nam, Trở lại Cực Nam, Thành phố nghiêng mình..., những truyện ngắn Bậc biển, Dắt đèn, Tâm hồn người bạn..., nhà văn duy nhất vào tận chiến trường Khánh Hòa trong những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, từng lặn lội xuống tận cơ sở nằm hầm với đồng bào chiến sĩ Khánh Hòa những năm tháng ấy - vâng, chính là Trần Vũ Mai - đáng kinh ngạc thay, đã không hề được trích tuyển một câu, không hề được nhắc tới thậm chí chỉ cái tên. Lý do là Mai không có vinh dự là hội viên của hội ấy (!). Nhân thể cũng cần nói thêm: cùng chung số phận như Trần Vũ Mai, 45 năm văn học Khánh Hòa cũng đẩy vào quên lãng cả Trần Mai Ninh, tác giả của Tình sông núi nổi tiếng và cái chết oanh liệt của nhà thơ ngay trên đất Khánh Hòa năm 1947; cả "con rùa vàng" Quách Tấn sống trọn đời thơ ở 12 Bến Chợ Nha Trang; và cả nhà thơ Trọng Minh, người cùng hoạt động văn nghệ với Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử ở Quy Nhơn từ giữa những năm 30, sau Cách mạng Tháng Tám 1945 là người sáng lập ra Phân hội văn nghệ đầu tiên của Khánh Hòa năm 1950 trong vùng căn cứ chống Pháp khi đang giữ cương vị Bí thư Tỉnh ủy.


 


THẾ VŨ


Giỗ lần thứ 5 của Trần Vũ Mai, 1996


TNCN số 68/1996


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cảm nhận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú - Nhiều tác giả 22.06.2017
Thảo luận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú - Nhiều tác giả 22.06.2017
Hổ Thần và những điều thú vị khi đọc truyện ngắn dã sử - Triệu Xuân 31.05.2017
Truyện Dị sử của Ngọc Toàn - Triệu Xuân 31.05.2017
Từ cảm thức hiện sinh nghĩ về quan niệm sáng tác của Bích Ngân trong “Thế giới xô lệch” - Trần Hoài Anh 24.05.2017
Nhân vật chấn thương trong “Thế giới xô lệch” của Bích Ngân - Đoàn Thị Ngọc 23.05.2017
Văn hóa lâm nguy - Pierre Bourdieu 21.05.2017
Puskin và Gogol - hai kiểu sáng tác trong văn học Nga - Đào Tuấn Ảnh 15.05.2017
Người con gái viên Đại úy - Lê Thời Tân 15.05.2017
Người viết tiểu thuyết lịch sử, anh là ai? - Hà Phạm Phú 15.05.2017
xem thêm »