tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18964140
Những bài báo
14.02.2012
Tư liệu
Phạm Anh Tuấn phản biện Ngô Tự Lập về bài viết “Học Văn để làm gì?”

Tiến sĩ Ngô Tự Lập ở Đại học Quốc gia Hà Nội vừa có một bài viết được ông cho là phản biện lại đường lối dạy Văn của nhóm Cánh Buồm. Kể từ khi Cánh Buồm ra đời cùng với những cuốn sách giáo khoa Cánh Buồm thì bài viết này của Ngô Tự Lập, như tôi thấy, có lẽ là bài viết đầu tiên mang đôi chút tính học thuật và thảo luận thẳng vào vấn đề nhất trong phạm vi liên quan đến công việc của Cánh Buồm. Nhưng trong khi hầu hết những gì ông trình bày và trích dẫn trong bài viết đều có thể là đúng thì, ngạc nhiên thay, tất cả đều không giúp ích gì trong phạm vi của việc học sinh học môn Văn ở bậc phổ thông (tôi nhấn mạnh học sinh học môn Văn, bởi đây chính là điểm khác biệt chí tử giữa đường lối dạy Văn của Cánh Buồm so với cách dạy truyền thống).


 


Trước hết, tuy bài viết của Ngô Tự Lập chỉ giới hạn vào việc dạy Văn như là sự “giáo dục chủ thể văn hóa dân tộc, đào tạo con người dân tộc, thông qua đó bồi đắp bản sắc văn hóa” (lời của Ngô Tự Lập) và trong phạm vi như vậy thì ông có thể đúng, song điều trớ trêu là luận điểm của ông là luận điểm của một nghiên cứu văn học hoặc đúng hơn là nghiên cứu lịch sử văn học (nhìn nhan đề cuốn sách chính được ông trích dẫn cũng có thể thấy rõ: Nhập môn Lý luận văn học của Terry Eagleton). Như thế, vấn đề do Ngô Tự Lập đặt ra dường như thích hợp hơn với công việc giảng dạy văn học cho sinh viên bậc đại học.


 


Mặt khác, nhược điểm dễ nhận thấy nhất ở bài viết của Ngô Tự Lập là ông dường như chưa kịp khảo sát kỹ lưỡng toàn bộ đường lối dạy Văn và cách phân chia cách học theo bậc học theo nhóm Cánh Buồm: Tiểu học (5 năm) là bậc học dành cho học cách học. Trên tiểu học hoặc gọi tên là gì cũng được (5 năm) là bậc học học sinh vận dụng phương pháp và thói quen tư duy đã học để tự mình trang bị hoặc tự mình tìm đến với những vật liệu văn học. Bậc học cuối cùng (2 năm) gọi tên là gì cũng được, là bậc hoàn thiện năng lực: lúc này học sinh mới bắt đầu nghiên cứu một cách hệ thống trong đó có thể có cả chính việc thực hiện được cái gọi là mục đích của học Văn học như Ngô Tự Lập chủ trương trong bài viết đang được nói tới!.


 


Từ nhược điểm nói trên, Ngô Tự Lập đã vô tình nhầm lẫn mục đích của học môn Văn (thực ra theo cách hiểu của Ngô Tự Lập – một cách hiểu cổ truyền – thì đó là mục đích mong muốn của người lớn đối với việc dạy môn Văn cho trẻ em!) với đối tượng của học môn Văn.


 


Vấn đề cốt tử là phải phân biệt mục đích với đối tượng. Sự phân biệt mục đích với đối tượng không phải là một vấn đề được đặt ra vu vơ, vô cớ. Đó là một vấn đề của triết học giáo dục. Kim cổ, nhà trường nào cũng có một mục đích, kể cả nhà trường cổ truyền. Vấn đề không phải là văn học đúng như tên gọi ngày nay (cũng như môn khoa học chỉ có cách hiểu như ngày nay kể từ thế kỷ 17) bắt đầu có từ bao giờ, được đề cao theo những cách khác nhau như thế nào, mà vấn đề là phải nhận ra đối tượng của môn Văn. Nhà trường cổ truyền tuyệt nhiên cũng có mục đích của nó. Tùy theo các thời kỳ phát triển văn hóa khác nhau thì tên gọi của mục đích cũng khác nhau, song mục đích của nhà trường cổ truyền có điểm chung là sự trừu tượng, chung chung: văn hóa, di sản văn hóa, con người, dân tộc …tính chất chung chung được thấy rất rõ ở chỗ ta có thể tùy tiện thay đổi trật tự các mục đích con phụ thuộc hoặc có thể thêm vào bớt đi cái này, cái kia mà rút cục mục đích chung vẫn không thay đổi! Bởi vì mục đích chung chung trừu tượng như thế, cho nên mục đích bao giờ cũng là bất biến, đẹp đẽ, toàn diện, không thể chê vào đâu được, cho nên nhà trường cổ truyền chỉ đơn giản bê nguyên xi cái nó muốn, được đóng gói sẵn, sang cho trẻ em mà không cần hỏi xem trẻ em có thích hay không, có cần hay không và quan trọng nhất: có hiểu hay không. Trong phạm vi của dạy văn, nhà trường hiện nay trong trường hợp tốt đẹp nhất và nghe có vẻ như là đúng ấy là nó cho là, chẳng hạn, dạy văn tức là dạy khả năng cảm thụ cái đẹp, cái DÂN TỘC, thì trong chừng mực ấy mục đích đó vẫn là vô bổ bởi vì giá như nhà trường đã làm được như nó mong muốn!


 


Sự phân biệt mục đích với đối tượng là một thành tựu của dạy học. Giáo dục là thầy dạy trò (hoặc ra sức dạy trò) hay là trò học (tức tự chúng học)? Đứa trẻ học lẫy bằng cách nó tự lẫy, học bò bằng cách nó tự bò, học đi bằng cách nó tự đi …Trí tuệ của con người có bản chất thao tác. Tức là nó phải tác động lên đối tượng để cải biến đối tượng thành cái của mình (interiorized action). Như vậy, học tức là đi tìm, là tra vấn chứ không phải là tiếp nhận, ghi nhớ thụ động cái được đưa vào từ bên ngoài vào. Có thể nào đi tìm một cái gì mà không biết đối tượng của cái đi tìm?


 


Trong dạy học, học gì (what) không quan trọng bằng học bằng cách nào (how). Trong quãng thời gian 12 năm đẹp nhất của đời một con người, chúng ta có thể học được bao nhiêu loại nội dung và mỗi thứ học được bao nhiêu nội dung? Nhà trường phổ thông là một thiết chế đặc biệt, nó được thiết kế sao cho tận dụng hiệu quả nhất và kinh tế nhất một quãng thời gian không thể thay đổi (12 năm). Trong trường hợp này, nhà trường giống như một phòng thí nghiệm (hiểu theo nghĩa cao quý của từ này) ở đó đối tượng được khu biệt, được tách ra để nghiên cứu. Do đó, nhà trường định ưu tiên dạy cái xe (nội dung) hay ưu tiên dạy con ngựa kéo cái xe (phương tiện)? Cách khôn ngoan hơn cả là nhà trường hãy dạy con ngựa để cho sau đó mỗi cá nhân tùy theo thiên hướng của mình có thể khai thác những gì họ thấy cần ở trên cái xe chuyên chở văn hóa đó.


 


Điều may mắn là, những nghiên cứu tâm lý học nhận thức và tâm lý học sinh lý-thần kinh và môn di truyền học hiện nay đã chứng minh là trí tuệ con người có một số lượng nhất định nào đó những năng lực và những năng lực đó là có thể xác định được và do đó có thể đào tạo được. Như vậy, dạy học phải dựa vào hai cơ sở: cơ sở tâm lý học giúp giáo dục dạy được những năng lực nào đó. Cơ sở di truyền học, thần kinh học giúp giáo dục phát huy hoặc kiểm soát những ước chế (constraint) hoặc hạn chế (limitation) về di truyền hầu như mang tính chất định mệnh cá nhân.


 


Như vậy, sự tranh luận về mục đích học văn theo kiểu ”chung chung”, ”vu vơ” như vậy (cách làm kiểu này thì Bộ GD&ĐT đang làm rất tốt rồi!!!, cớ gì Ngô Tự Lập còn góp thêm nữa!) giống như cãi nhau về cái xe mà không biết con ngựa kéo xe đang ở chỗ nào. Khoan hãy nói, ta có thể đưa một con ngựa tới một nguồn nước, song nó có muốn uống nước hay không thì lại là một chuyện hoàn toàn khác!


 


Đường lối học Văn ở bậc Tiểu học theo Cánh Buồm, xin nhắc lại một lần nữa, là đường lối tôn trọng cái vốn có ở mỗi đứa trẻ, cái thế chủ động tự nhiên ở mỗi đứa trẻ. Đứa trẻ sẽ trở thành nhà toán học, nhà văn hay vận động viên thể thao là điều tự nó quyết định dưới sự hỗ trợ của người thầy (bằng việc tổ chức quá trình tìm tòi của chính nó chứ không bằng sự giảng giải). Một dân tộc hạnh phúc là một dân tộc ở đó mọi cá nhân là chính mình. Nghĩa là được sống và làm việc bằng đúng năng lực của mình. Chỉ bởi vì tôi có năng lực đồng cảm, liên tưởng, tưởng tượng về cô Kiều của Nguyễn Du, chứ không phải là thuộc làu làu Kiều của Nguyễn Du (Ngô Tự Lập có ”khoe” là hồi đi học Ngô Tự Lập học thuộc làu làu hàng trăm bài thơ!), mà tôi trở thành có bẳn sắc dân tộc thông qua Nguyễn Du, chứ không phải là ngược lại. Không làm gì có bản sắc văn hóa chung chung.


 


Do đó, cụ thể việc học Văn được tổ chức như thế này:


 


Lớp Một: đối tượng là năng lực đồng cảm


 


Lớp 2: đối tượng là năng lực tưởng tượng


 


Lớp 3: đối tượng là năng lực liên tưởng


 


Lớp 4: đối tượng là năng lực tạo ra bố cục


 


Lớp 5: đối tượng là năng lực làm ra sản phẩm nghệ thuật


 


Việc sử dụng trò chơi đóng vai chỉ là một công cụ để đi đến năng lực đồng cảm. Nếu Cánh Buồm có một nhược điểm nào đó trong việc sử dụng trò chơi đóng vai thì có chăng là sự đôi khi lạm dụng công cụ này. Việc này hoàn toàn có thể điều chỉnh được (nếu muốn). Song, tâm lý học hiện đại đã chứng minh được rằng: trò chơi đóng vai (không chỉ là diễn kịch) là công cụ tối ưu đối với độ tuổi ấu thơ và bậc tiểu học.


 


Tóm lại, bài viết của Ngô Tự Lập quả có giá trị nào đó, nhưng là giá trị như một luận điểm về nghiên cứu văn học dành cho sinh viên đại học. Sự theo đuổi hoặc nương vào những mục đích bên ngoài như vậy (chứ không phải là đối tượng phải tạo ra ở trong đầu của học sinh xét như là mục đích bên trong của chính học sinh) tức giống như là việc nắm lấy đầu một người không có tóc. Cách làm như vậy sẽ rất dễ rơi vào sự viển vông và sự thất bại thấy trước – đúng như những gì chúng ta đã thấy ở cách dạy Văn của nhà trường phổ thông cổ truyền (đầu tiên là các ông đồ và sau đó là các ông-đồ-vận-com-lê-đeo-ca-ra-vat sử dụng máy điện toán cá nhân giảng thao thao bất tuyệt) và thấy nhãn tiền ở cách dạy văn của chính nhà trường phổ thông ở Việt Nam hiện nay! Không phải muốn dùng văn học để đào tạo con người dân tộc mà dễ! (như Ngô Tự Lập mong muốn).


 


Ngô Tự Lập đứng trước một câu hỏi dường như không thể có câu trả lời: người lớn cần dạy (hoặc hi vọng nhồi nhét, áp đặt) cho trẻ em trong nhà trường bao nhiêu văn học dân tộc (đến năm 2012 này thì đó là con số khổng lồ những tác phẩm!), bao nhiêu điển phạm (chữ do Ngô Tự Lập dùng trong bài viết của ông) thì đủ để đảm bảo rằng chúng được gọi là những con người dân tộc, được gọi là đủ để đảm bảo chúng bồi đắp bản sắc văn hóa dân tộc như ước nguyện được thấy qua bài viết của ông?!


 


Ngô Tự Lập là một trường hợp như đã được John Dewey (mà Ngô Tự Lập luôn ngợi ca hết lời!) cảnh báo cách đây gần trăm năm: một lý luận tưởng như tiến bộ vẫn hoàn toàn có thể là giáo điều nếu nó không được chứng minh bằng thực tiễn! Bởi, như thế, nó không thể tự phản biện chính nó!


 


Rút cục, phỏng có ích gì khi ta đi săn dù MỤC ĐÍCH là săn CHIM TRỜI nhưng không nhìn thấy “đối tượng” CON CHIM đủ lông đủ cánh đang bay lượn sinh động trên BẦU TRỜI VĂN HỌC trong khi đầu vẫn đang mơ về ”mục đích” món chim quay thơm phức đậm đà bản sắc dân tộc?!


 


Phạm Anh Tuấn


http://phamanhtuanhn.wordpress.com/2012/02/10/


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bà con vùng sạt lở sông Vàm Nao thoát nạn nhờ một người tắm sông - Nhiều tác giả 26.04.2017
Cuộc đời và văn nghiệp của cha tôi: Bình Nguyên Lộc - Tống Diên 26.04.2017
Khi tờ báo gia đình đối đầu các ông lớn - James Warren 25.04.2017
Tranh cãi về 'tượng Đức Ông' ở đền Quán Thánh - Tư liệu 24.04.2017
Ngáo đá, lộ hàng, chảnh chó... sáng tạo hay méo mó tiếng Việt? - Vũ Viết Tuân 23.04.2017
Về thị trường sách và việc xuất bản - Hà Thủy Nguyên 18.04.2017
Cảm nhận của một bạn trẻ Ba Lan lần đầu đến Sài Gòn - Szymon Siudak 14.04.2017
Hậu 60 năm Hội Nhà văn VN: Nhật Tuấn, con sói già đơn độc - Nguyễn Văn Thọ 09.04.2017
Khiêm tốn một Nguyễn Hải Tùng, sống và viết - Nguyễn Thanh 08.04.2017
Quyển sách trên mộ ba tôi - Trịnh Bích Ngân 08.04.2017
xem thêm »