tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19380634
03.02.2012
Vũ Bằng
Cười Đông cười Tây, cười Kim, cười Cổ (4)


CÁI CƯỜI ĐỐI VỚI CÁC GIỚI


A- VỀ THƯƠNG MẠI: Trước hồi Đại chiến thứ nhì, một chủ hãng làm phó mát nói với nhà họa sĩ chuyên biệt vẽ loài vật là Rabiê (Benjamin Rabier) vẽ cho con bò cười để quảng cáo. Chẳng bao lâu hãng ấy trở nên thịnh vượng.


Đến ngày nay, quảng cáo cũng phải tùy thời mà tiến. Vì thế cái cười lại càng được đắc dụng hơn lúc nào hết. Hiện nay họa sĩ Savinhắc (Savignac) đã biết đem cái lối quảng cáo hài hước mà thay thế cho lối quảng cáo tả cảnh. Bởi vậy cái cười là điều cốt yếu cho bất cứ một cuộc thành công nào.


Nhà sáng lập ra nhà buôn Samariten (Samaritaine) lớn vào bực nhất nước Pháp, tên là Cônhắc (Ernest Cognacq) đã nói:


“Tôi sở dĩ làm nên được như ngày nay là nhờ ở ba điều:


1. Bất cứ lúc nào cũng phải vui vẻ niềm nở, cười dễ dãi và nhẹ nhàng.


2. Biết phục thiện.


3. Cố tránh nói đến mình nhiều quá”.


Cho nên bất cứ một cuốn sách nào, do các nhà thông thái ở bất cứ cường quốc nào bàn về sự thành công ở đời đều phải nhận tiếng cười và nét mặt vui vẻ chiếm một địa vị tối quan trọng.


Ở Ba Lê, có một người bán hàng rong chuyên làm cho khách hàng cười mà bán được nhiều hàng. Người ấy nghiệm rằng:


Một người khách hàng mà cười thì chắc chắn có thể mua được hàng của mình tới tám phần mười rồi. (Ở nước ta, có mấy anh bán hàng kẹo kéo vừa pha trò, vừa đọc vè hài hước, làm cho trẻ con bu đặc lại mua cũng là vì lẽ đó chăng?).


Một anh hề nổi tiếng, Đôniô (Yves Deniot), hồi còn nhỏ, bắt đầu đi bán hàng rong. Anh ta kể lại rằng:


“Tại một cuộc chợ phiên mở tại một làng nọ, tôi bán một lúc buổi sáng được tới tám mươi cái vòi máy nước. Sau điều tra rõ ràng, tôi thấy tất cả tổng, về thế kỷ ấy, chỉ có chừng năm mươi nhà dùng thứ “xa xỉ phẩm” ấy thôi. Tôi chỉ biết nói bạt mạng, miễn sao khách cười nhiều để mua hàng của tôi, mặc dầu thứ hàng đó, đối với họ, không cần thiết. Cho nên mới có câu: “Cười và vui vẻ là hai người bạn tối cần cho sự thành công của ta”.(1)


Một nhà doanh nghiệp trên thương trường Pháp đã khuyến cáo như sau:


“Nếu cô là người bán hàng thì cô phải hết sức tránh bốn thứ cười đuổi khách:


1. Cười buồn rười rượi (rire ennuyé).


2. Cười hoài nghi (rire sceptique).


3. Cười tuyệt vọng (rire désespéré).


4. Cười ái ngại (rire compatissant)”.


B- VỀ NGHỀ NGHIỆP: Một đêm cách đây sáu chục năm tại Nhà hát Lớn Nữu Ước (Mỹ) có một người khách đang coi hát bỗng phá lên cười. Tức thì hàng vạn người như bị thôi miên, cũng cười theo, tưởng chừng như đổ sụp rạp hát xuống. Người chủ rạp phải nhờ nhà chức trách đến mời ông quý khách kia ra. Ngày hôm sau, người khách ấy lại được mời đến cười thuê với giá mười Mỹ kim một tối.


Thế là hôm ấy vua cười Môngômêry (John Montgomery) - vì người khách ấy là Môngômêry - đã vô tình khai sinh một nghề mới cho nhân loại: nghề cười thuê.


Tối tối, ông ta chỉ có mỗi một việc là: “vác xác” đến rạp, chĩnh chện ngồi trên ghế như các khách hàng khác, duy thỉnh thoảng lại phá lên cười để “tiêm nhiễm” cái bệnh cười ấy cho khán giả.


Bóng dáng ông đến đâu là công chúng đổ xô đến đấy. Vì thế đào kép, ban nhạc, vở tuồng nào có chàng đến dự đều nổi tiếng như cồn. Các rạp tranh nhau mời, đến nỗi lương mỗi tối tăng lên đến hai ba trăm Mỹ kim, ấy là chưa kể tiền lộ phí đi xa mà người mời phải đài thọ.


Nhưng sinh ư nghệ, tử ư nghệ. Một hôm, vào năm [?] Môngômêry đang phưỡn bụng ra cười tại một rạp lớn tại thành phố Phi La Đen Phi (Philadelphie) thì ngã gục xuống đất và chết ngay tại trận, trong khi trận bão cười của khán giả chưa tan.


Nhân nói đến nghề cười thuê, ta cũng nên nhắc lại ở nước ta, từ xưa cũng đã có nghề cười thuê khóc mướn. Khóc mướn trong các đám ma, các người làm nghề này cào mặt, cấu mày, lăn ra mặt đất, giẫy lên đành đạch, tỏ ra thương tiếc người quá cố hết sức, không có cách gì làm cho nguôi. Còn cười thuê thì người làm nghề này sẽ phụ trách trông nom các đám cưới, chạy đi chạy lại xem chuyện ăn uống trà bánh có đầy đủ không và gặp câu chuyện nào đó thì cười ầm lên cho vui nhà vui cửa.


Ở Pháp, trước Đại chiến thứ nhì cũng có những chàng trai vạm vỡ, phương phi, chuyên làm nghề cười thuê. Anh ta đóng vai chú rể phụ: nhỡ ra chú rể chính thức vì một lẽ riêng nào đó, phải vắng mặt vào ngày, giờ đã định trước thì phải mướn đến chàng ta đi thay mình với một giá tiền đã thu xếp trước.


Không may đám tiệc nào đến phút cuối cùng thiếu hay thừa người mà tính ra bàn ăn chỉ có mười ba vị thì bắt buộc phải mời chàng ta đến đóng vai người khách thứ mười bốn.


Cũng như ở Việt Nam, anh này cũng kiêm cả nghề khóc mướn. Nhờ có nghề cười thuê khóc mướn đó, chàng ta sống một cuộc đời sung túc vì suốt ngày làm không hết việc.


Và ảnh hưởng cái cười đối với nghề nghiệp, có lẽ nhiều nhất là đối với nghề viết văn. Dưới đây trong mục cái cười trong văn chương, chúng tôi sẽ nói dài. Ở đây chỉ xin kể một vài câu chuyện cười ngăn ngắn:


Có ba ông thi sĩ kia đi đâu cũng vỗ ngực là thơ hay. Một hôm, ngồi ở đình, ba ông thấy một con cóc. Ba ông bèn thách nhau làm thơ. Ông thứ nhất, làm thơ hay và lẹ như Tào Tử Kiến, ngâm luôn:


Con cóc trong hang


Ông thứ nhì không chịu kém, cũng xuất khẩu thành chương luôn:


Con cóc ngồi đó


Ông thứ ba, sau một hồi suy nghĩ, đọc liền:


Con cóc nhảy ra


Cả ba ông vỗ đùi chan chát và tự khen là tuyệt tác rồi ôm lấy nhau mà khóc. Hỏi tại sao thì ba ông bảo tài hoa thường mệnh bạc, các ông sợ thơ hay như thế thì chết non mất. Bèn gạt nước mắt bảo tên mõ đi mua ba cái áo quan về để sẵn đấy, ngộ có chết thì chôn luôn.


Một lát sau, tên mõ mang bốn cái quan tài về:


- Ủa, sao mà mày mua những bốn?


- Bẩm ba ông, con nghe thơ ba ông hay quá, con sợ cũng chết mất, không sống nổi, nên cũng mua sẵn một cái, chết theo!


Câu chuyện sau đây cũng thuộc vào loại “Tiếu lâm Việt Nam” nói lên cái cười đối với văn nhân, thi sĩ…


Ngày xưa, có một người lúc sống làm đủ các trọng tội ở trên trần. Đến khi chết, linh hồn phải xuống Phong Đô, một thế giới ở dưới mặt đất, rộng như Dương thế. Phong Đô, gọi tiếng nôm là Âm ty, hay Âm phủ. Đứng đầu là Phong Đô Đại đế cai quản mười vị Diêm Vương, ở mười khu riêng biệt.


Tên tội nhân độc ác bị dẫn tới điện Diêm Vương Tân Quảng, bắt soi vào Nghiệt Kính đài. Bao nhiêu điều hắn làm khi sống đều hiện lên rõ rệt, không sót mảy may. Những người và vật hắn sát hại khi trước nhảy lên và đòi mạng. Bao nhiêu hình phạt hà khắc ở dưới Phong Đô như cưa đầu, khoét mắt, chặt chân, leo cầu vồng, cho chó ngao moi ruột đối với những tội ác tày trời do gã đã gây nên lúc sinh thời thảy đều nhẹ tếch, không có nghĩa lý gì.


Một viên phán quan đứng lên buộc tội:


- Muôn tâu Đại Vương, xin cho hắn chết một lần nữa.


Diêm Vương phán:


- Như thế há chẳng phải là thưởng cho hắn về những tội ác của hắn ru?


Lại một phán quan khác đứng ra trước sân, sụp lạy tâu:


- Hạ thần xin Đại Vương cứ cho hắn sống lại thì hắn mới đủ đền tội ác được.


Hai bên văn võ triều thần xì xào bàn tán và tỏ ý ngạc nhiên.


Viên phán quan vừa lên tiếng, bấy giờ mới thủng thỉnh nói tiếp:


- Cho hắn có tài…


Mọi người xôn xao tỏ ý bất mãn.


Viên phán quan điềm nhiên tiếp:


- Cho hắn sống lại, cho hắn có tài và cho vợ hắn thật mắn đẻ…


Triều thần càng xao xuyến, muốn bác bỏ ngay cái án kỳ quặc ấy đi. Viên phán quan, làm như không biết, cứ nói tiếp:


- Đầy hắn phải lao đao trường ốc. Vạn bất đắc dĩ hãy cho hắn đỗ cái tú tài là cùng…


Tiếng cười chế nhạo vang lên.


Viên phán quan cứ tiếp:


- Muôn tâu Đại Vương, số là ở nước Việt Nam chúng nó có cái thành kiến rất ngộ nghĩnh: các công việc làm bằng chân tay, bất luận hay và hữu ích đến mức nào cũng đều coi là đê tiện. Những công việc ấy chỉ dành cho những người vai u thịt bắp, còn các bậc văn nhân thì bị cấm ngặt, không được mó tới. Cho nên cái tú tài kia tuy ở nơi thôn dã được dân chúng kính nể thật đấy, nhưng đối với triều đình thì vua chúa chúng nó lại không dùng đến. Thế là cao không tới, thấp không thông… Sự kính nể hão huyền đưa tên tú tài vào con đường cụt: hắn phải để ngón tay dài cuộn cong veo như mười cái xe điếu ống, ăn nương vợ, qua ngày ấy sang ngày khác chỉ nằm khoèo rồi nhổm dậy rung đùi ngâm thơ:


Vuốt râu nịnh vợ: con bu nó,


Quắc mắt khinh đời: cái bộ anh!


Vì mang danh ông Tú, hắn không dám nhúng tay vào việc gì hết, sợ thiên hạ chê cười.


Có cái máy “làm tiền” thì lại đem dùng làm “máy đẻ” rồi. Đã đẻ sòn sòn “đầu năm con gái, cuối năm con trai” thì không thể: 


Quanh năm buôn bán ở mom sông,


Nuôi nấng năm con với một chồng.


Một lũ con dại với một đức lang quân dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm, đối với một người đảm đang đến tột bậc, cũng khó lòng chu tất. Ấy là chưa kể khi con sài, mẹ yếu:


Van nợ lắm khi tràn nước mắt,


Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi.


hoặc:


Một phường rách rưới con như bố,


Ba chữ nghêu ngao vợ chán chồng!


Trong cảnh nguy khốn, cùng quẫn ấy, hắn dù có muốn chết cũng không chết được mà sống thì hỏi sống bằng cách gì? Thế là hắn “sống dở chết dở” và có như thế họa chăng hắn mới đền bù được tội lỗi do hắn gây ra!


Muôn tâu Đại Vương, theo ngu ý thì dám chắc ở dưới Âm ty ta cho đến Dương thế, cùng cả trên Thiên đình nữa, vị tất đã có thứ hình phạt nào độc ác, kinh khủng tới mức ấy.


Tất cả văn võ bá quan, kể cả ngục tốt, ngục quan, quỷ sứ đều cười rộ cả lên để hoan nghênh cái án ấy. Về sau này, có người phê bình: có lẽ cái án “không tiền khoáng hậu” này trong lịch sử tư pháp trên trời, dưới đất đặt ra chỉ có để phạt cái tội ngông của các văn sĩ, thi sĩ dám cả gan chửi không tiếc lời những mục nát thối tha của xã hội loài người chăng?


Nhân nói về văn thơ, ta cũng nên kể thêm mấy chuyện hài hước về khoa cử.


Thấy người đời bị bả khoa cử làm say mê lăn lóc, Bờrútsông (J. Brotson) năm 1941 ở Ba Lê đã đem ra hài hước mối thắc mắc suốt đời vì hỏng vấn đáp kỳ thi tú tài hồi 16 tuổi của văn hào Annatôn Phrăng (Anatole France) sau này được cử vào Hàn lâm viện, chiếm giải thưởng văn chương Nôben năm 1921.


Annatôn Phrăng là một trong những thí sinh được vào vấn đáp kỳ thi tú tài phần thứ nhất.


Giáo sư sử ký hỏi:


- Con là học trò có tiếng xuất sắc. Vậy con sông Xen (Seine) có phải chạy vào biển Măng (Manche) không nhỉ?


Annatôn đáp:


- Dạ, đúng ạ.


- Khá lắm! Thế bây giờ con sông Loa (Loire) chảy ra Đại Tây Dương chứ gì?


- Thưa phải.


- Khá lắm. Thế con sông Rôn (Rhône) chảy vào hồ Misigăng (Michigan) phải không?


- Thưa giáo sư đúng thế, chảy vào hồ Misigăng.


Tức thì giáo sư phồng mang trợn mắt lên, chửi oang oang cả lớp:


- Ối trời ơi, ối đất ơi! Xuẩn đến như mày là hết nước. Thế mà cũng đòi thi, đòi thiếc, đòi đỗ, đòi điếc! Con sông Rôn ở miền Nam nước Pháp chảy ra Địa Trung Hải, chớ đâu có chảy vọt mấy trùng dương mà rót vào hồ Misigăng ở phía Bắc nước Mỹ!


Giáo sư cho một “hột vịt” vào phiếu điểm là cố nhiên bị rớt.


***


Một hôm, Annatôn Phrăng dự một bữa tiệc thân mật tại nhà bà Đờ Caơvê (De Caillevet). Trong bữa cơm, có ông Tổng trưởng Quốc gia Giáo dục Bêra (Léon Bérard).


Đang khi trò chuyện vui vẻ, ông Tổng trưởng nói:


- Kính thưa quan Hàn Annatôn! Nếu quan có cần gì thì tôi xin vui lòng giúp ngay.


- Xin đa tạ tấm lòng tốt của ngài. Tôi đây vẫn biết ngài có nhiều quyền hành lắm. Tôi chỉ ước ao ngài cho tôi đậu được cái bằng tú tài vì ngài thừa hiểu rằng tôi mới chỉ được vào vấn đáp phần thứ nhất mà thôi.


Ông Tổng trưởng trợn mắt, phồng má lên, đáp:


- Tôi cứ tưởng quan cần cái gì, chớ cái ấy tôi không thể nào giúp quan được. Nếu tôi để quan đậu thì chẳng hóa ra tôi phạm tội gian lận thi cử ư?


Quan Hàn cười xòa, cãi lớn:


- Sao ngài chóng quên thế? Mỗi lần ngài ra tranh cử Hàn lâm là y như tôi phải bỏ phiếu cho ngài thành “bất tử” đấy! Nay ngài lại nhẫn tâm không cho tôi đậu tú tài hay sao?


C- VỀ NGHỆ THUẬT: Nói tới văn chương nghĩa lý tức là đã bước sang địa hạt nghệ thuật. Chúng ta thử xem địa vị cái cười đối với màn ảnh hát chèo hát xiệc ra sao.


Màn ảnh.- Từ ngày có màn bạc đến giờ, nhiều vai hề quốc tế thi nhau xuất hiện, nổi tiếng nhất có những hề sau đây:


+ Lúy (tức Harold Lloyd) đội nón canôchiê, đeo kiếng trắng, đã làm cho thế giới cười trong một thời gian khá dài.


+ Hề mặt ngựa Phécnăngđen (Fernandel) cũng làm cho công chúng cười vỡ bụng một dạo.


Vì thủ vai chính Camiô (Camillo) trong hai cuốn phim Ý nổi tiếng “Thế giới tí hon của chàng Camiô” (Le petit monde de Don Camillo) và “Chàng Camiô trở về” (Le retour de Don Camillo), liên đoàn trạng sư đã tặng Phécnăngđen một huy chương lịch thiệp, chính phủ Pháp cũng tặng Bắc đẩu bội tinh. Đó là chú hề đầu tiên được hưởng cái vinh dự lớn lao như thế.


+ Cặp “thằng Mập, thằng Ốm” Lôren (Laurel) và Hácđy (Olivier Hardy) ganh nhau vắt óc để tạo nên những chuỗi cười ran như pháo nổ cho loài người ở rải rác khắp năm châu.


+ Với cái ba toong ngắn ngủn, cái mũ “già nua”, bộ quần áo “lôi thôi” cũn cỡn, cặp chân đi chữ bát, trong đôi giày tàng với cặp mắt ngây ngô, nhớn nhác, Sácly (Charlie Chaplin) đã tạo nên một nhân vật đặc biệt: Sáclô (Charlot) có cái thái độ lố bịch, cử chỉ nửa quê, nửa giễu, chửi đời.


Vai hề quốc tế đã thống trị ngôi bảo tộ mấy chục năm liền, chưa hề có ai đoạt nổi. Chẳng thế mà nhà bác học Đức nổi danh hoàn cầu Anhxtanh (Einstein) đã phải gọi Sácly là “một thiên tài của nhân loại”.


Một hôm, Sáclô gặp Anhxtanh. Nhà bác học bảo nghệ sĩ:


- Cái làm cho tôi ngưỡng mộ nhất trong tài nghệ ông là cái tính cách quốc tế của nó. Khắp hoàn cầu đều hiểu ông.


- Thưa, đúng. Giáo sư thử coi: danh vọng ông còn lừng lẫy hơn thế nhiều, khắp hoàn cầu đều ngưỡng mộ ông, nhưng chẳng ai hiểu ông cả!


Cho đến thánh Cam Địa (Gandhi) cũng phải nhận “Sáclô là người độc nhất làm cho tôi cười”.


Năm 1952, Sáclô, trong cuộc du lịch Âu châu có ghé qua Ba Lê. Trong một bữa tiệc do giới chiếu bóng khoản đãi ông, có người tò mò hỏi ông có ý định làm cho vai trò Sáclô sống lại không.


Ông trả lời:


- Không. Một khi thế hệ nào đã qua đi rồi thì nó không thể trở lại được nữa.


Những tác phẩm của Sáclô làm cho người ta phải cười trong tiếng khóc và khóc trong tiếng cười.


 + Không có “dây mơ rễ má” gì với nhau, Sicô (Chicô), Hácpô (Harpo) và Grútsô (Groucho) trong ngày thường đều là những người rất hiền lành, trầm tĩnh và nghiêm nghị, thế mà trái lại, trên màn bạc lại thành một bộ ba “tướng sĩ tượng” quấy phá không chê được, làm cho hãng sản xuất phim gán cho cái mỹ danh “ba anh em họ Mác” (Les trois Frères Marx).


Bộ ba ấy có tài pha trò làm cho khắp hoàn cầu phải cười như điên. Khán giả, sau những trận cười vỡ bụng, lại còn phải suy nghĩ rất nhiều về trạng huống con người.


+ Anh em Phờratelini (Fratellini) là những vai hề được xếp vào hàng đầu của thế kỷ hai mươi. Các chú hề ấy có hàng ngàn chuyện khôi hài hoặc bi đát. Phờrăngxoa (François Fratellini) có tài kể lại bằng một giọng thu hút rất duyên dáng.


Hát chèo và hát tuồng.- Căn cứ vào lịch sử nghệ thuật sân khấu Việt Nam, người Nguyên đem lối hát tuồng vào nước ta trước nhất.


Họ điều động hàng trăm vạn hùng binh, mãnh tướng lăm le nuốt chửng nước ta. Trong khi hai bên giao tranh mãnh liệt thì quân ta bắt được mấy tên kép hát có tài. Những tù binh ấy bắt buộc phải phô diễn tài nghệ trong quân thứ để mua vui cho ba quân.


Lối hát tuồng Tàu manh nha từ đấy và lưu truyền cho mãi tới ngày nay. Từ vở tuồng, điệu hát, y phục, âm nhạc, hóa trang, sân khấu đều hoàn toàn Tàu cả. Chỉ có tiếng nói là Việt Nam. Các điệu hát thì có Bắc, Nam, ngâm thơ, nói lối, kim tiền, tẩu mã…


Tổ tiên ta vì tính quật cường mới do đấy mà sửa đổi thêm bớt cho hợp với dân tộc tính, rồi đặt ra lối hát thuần túy Việt Nam: hát chèo. Có lẽ hai chữ hoàn toàn Việt Nam ấy bắt nguồn từ lối hát trào lộng hay trào phúng của Tàu chăng?


Thoạt kỳ thủy thì có những điệu như trống quân, đò đưa, xẩm, cấy lúa, huê tình, đường trường… Dần dần thêm các điệu như dịp một, dịp chờ, dịp đuổi, hát cách, hát căm giá… Sau này thêm nhiều điệu hát nữa như bồng mạc, sa mạc, gối hạc, vỉa, nồi niêu, thổng, nói sử, nói lối, ví than, ngâm, làn thảm, làn ba… Những vở hát đều chọn các tích trong sử sách nước nhà: Lưu Bình - Dương Lễ, Phạm Công - Cúc Hoa, Hoàng Trừu, v.v…


Hát chèo lấy văn làm lợi khí để hài hước, châm biếm cái xấu cái dở mà răn người, dạy đời. Người ta chỉ có thể tìm ở hát chèo mới thấy những cái cười say sưa, ý nhị.


Trong ngành hát chèo, gánh nào được nổi tiếng cũng đều nhờ ở chú hề cả, vì hề là vai khó nhất. Không cứ cần phải có tài pha trò để cho khán giả cười, nhưng lại phải có duyên làm cho khách cười mãi mà không chán. Cái duyên ấy phải có đủ khía cạnh để bộc lộ trong lời nói tự nhiên, cử chỉ dớ dẩn cùng dáng điệu lẩm cẩm, ngộ nghĩnh nữa.


Trước đây bốn năm chục năm, chú hề Long, tức Long Toét, đã dùng lời nói, cử chỉ, dáng điệu làm cho khán giả cười lăn lông lốc như điếu đổ. Vai chú sắm trội nhất là vai thằng nhỏ. Hơi thoáng thấy bộ mặt chú ló ra là khán giả đã nổi lên những trận cười tưởng chừng như có thể làm vỡ rạp. Ánh sáng chói lọi của ngôi sao ấy chiếu trên rạp Sán Nhiên Đài sáng ngời lên trong một thời gian khá lâu, đã thu hút được nhiều khách mộ điệu. Sau, đến thời kép Phẩm cũng là vai vẽ nhọ bôi hề lỗi lạc.


Còn rạp Quảng Lạc thì chuyên hát tuồng Tàu. Vai nhọ đặc sắc nhất về ngành này là hề Tín cũng nổi danh một thời.


Hiệp thành ban chuyên hát chèo cải lương, cũng có một kép vô cùng xuất sắc: Nguyễn Đình Nghị. Ông này đã có tài đóng kịch lại còn soạn rất nhiều vở đầy vẻ châm biếm chua chát. Văn hào Phạm Quỳnh giới thiệu kịch sĩ ta với các nhà trí thức Pháp, rất hãnh diện mà gọi ông là “Môlie Việt Nam tiên sinh”. Về sau này, trong một cuộc phỏng vấn, Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu cũng trả lời Lê Thanh: “Nếu ở nước khác Nguyễn Đình Nghị có thể trở nên một Môlie”.


Bình luận về những kịch sĩ, chú hề, có người phê phán: “Chỉ có những người ngày đêm lăn lộn với quần chúng mới tạo nên được những cái cười thấm thía, những cái cười đáng cười, vì quần chúng là nơi chứa đựng những cái cười ra nước gừng:


Tính toan luống đổ mồ hôi muối,


Thương xót đà non nước mắt gừng”.


Duđanô (Zudanow) đã nói một cách thông suốt: “Làm kỹ sư tâm hồn nhân loại, nghĩa là đứng thẳng trên hai chân giữa cuộc đời thực tại”.


Hát xiếc.- Trong các rạp hát xiếc, vai hề chiếm một địa vị vô cùng quan trọng vì chuyên biểu diễn những trò dựa theo khoa học, khi luyện tập thì tử công phu, đến lúc diễn thì cực kỳ nguy hiểm, chẳng khác gì đem tính mệnh treo đầu sợi tóc. Những trò thực tế ấy đã khiến khán giả nhiều phút hồi hộp, lắm lúc phải rùng mình, sởn ốc. Có người yếu tim đã gục xuống ngất đi.


Một thí dụ điển hình:


Gánh xiếc “Chớp Nhoáng” (Eclair) mới thành lập, ra mắt công chúng lần đầu tiên vào tối thứ bảy 20-3-1952 tại thành phố Vinlơnốp (Villenoble) nước Pháp. Họ giới thiệu với khán giả bước thứ nhất của chú hề Buốcvin (Bourvil) trong làng hát xiếc.


Trống đổ từng hồi, bỗng im bặt. Cuối cùng một điệu nhạc ngây ngất cử lên. Đèn điện sáng choang làm hoa mắt “bộ tư” Vâylăng (Weyland) đứng sững trên đu cao nhất (12 thước).


Người nọ hỏi người kia:


- Đã sẵn sàng rồi đấy chứ?


- Vâng.


Tức thì bốn người đều lộn nhào cả xuống, người nọ nắm lấy chân người kia, bốn tấm thân thẳng đừ quay chung quanh cái đu bằng sắt mạ kền lóng lánh mà nhào lộn ở trên không. Hàng vạn cặp mắt nhắm nghiền lại, đến khi mở choàng ra thì thấy bộ tư mặc toàn may ô trắng đang thong dong đánh đu ở đầu dây, cách mặt đất hai thước. Bộ tư Vâylăng vừa mới biểu diễn xong lối nhào lộn “tìm thần chết”.


Tiếng hoan hô đâu đấy nổi lên, tưởng chừng vỡ rạp. Nay đến lượt các chú hề ra sân khấu. Ban nhạc lại nổi điệu vui họa theo với công chúng.


Xúng xính trong bộ áo mặc trong nhà đã cũ, đầm mồ hôi, lại lốm đốm phấn trắng, bộ tư Vâylăng vội vàng chạy thụt vào trong màn, đến trước mặt Buốcvin mà hắn vẫn không biết. Buốcvin đứng đợi để đến lượt mình ra diễn đường với nét mặt xanh xám vì sợ.


Viên giám đốc gánh xiếc bảo:


- Ngày mai đến lượt các ông các bà diễn vào cuối chương trình đấy nhé.


Bộ tư Vâylăng mới nổi tiếng từ tối hôm trước. Tối hôm trước, đối với họ là một thành công lớn lao. Chỉ đi loanh quanh tỉnh nọ sang tỉnh kia thì tờ giao kèo sao mà có thể chắc chắn được! Ngày mai đây, họ sẽ được xếp vào hàng tài tử quốc tế. Những rạp hát xiếc lớn nhất Âu Mỹ sẽ tranh nhau đón mời. Họ đang âm thầm ấp ủ ở trong đáy lòng giây phút vinh quang ấy. Nhưng đối với cặp vợ chồng Raymông (Raymond) thì lại nuôi hy vọng đã từ hai chục năm nay rồi. Còn cặp vợ chồng trẻ (con gái và con rể) ăn mặc chỉnh tề, chạy ra hoan hô Buốcvin.


Họ sống trong cái nhà du mục, chiều chiều đưa họ đến thành công và tiền tài. Đó là lần đầu tiên họ mới cảm thấy được dự vào đại gia đình hát xiếc. Nào họ có ngờ đâu họ sinh ra để phụng sự cuộc đời nguy hiểm, phù hoa!


Hồi tưởng lại thời kỳ mười ba tuổi đầu, Raymông chỉ là một thằng nhỏ “lưu manh” ở Ba Lê. Hắn sống trong những phố xá tối mò. Hắn đang học dở nghề thợ mộc thì bỏ đi theo bọn leo dây, múa rối. Hắn say mê cuộc đời hư ảo nên coi thường mọi hiểm nghèo. Tối tối cuộc đời huyền ảo lại hiện ra dưới vòm trời xanh ngắt, có cái cột khổng lồ chống đỡ.


Raymông đi chu du thiên hạ, hết năm này qua năm khác. Trong thời gian ấy, cậu chủ thư học nghề leo dây, múa rối, sau lại học đánh đu.


Một buổi chiều kia, trong một buổi công diễn ở thành Pô (Pau), cậu gặp một cô gái quê kiều diễm: cô Pôn (Paule). Tài nghệ của Raymông làm cô này say mê: cô bỏ nhà đi theo, và sinh được một gái là Misơlin (Micheline). Khi Misơlin lên bốn tuổi, vợ chồng Raymông và con gái hợp thành một bộ ba lấy tên là Ramin (Ramill’s). Bộ ba này đi biểu diễn khắp nơi: Họ mặc may ô trắng. Người bố tung con gái từ ngọn dù này sang ngọn đòn kia để cho vợ chìa ra hứng lấy, rồi lại quăng trả, chồng lấy chân quặp vào. Cô bé kháu khỉnh được cha mẹ nâng niu hết sức. Họ biết là nghề của họ nguy hiểm cho nên người cha vẫn nói: “Nếu con tôi có mệnh hệ nào, tôi sẽ chết theo”.


Nhưng họ cứ phải đeo đuổi nghề của họ để kiếm tiền mà cũng vì yêu nghề. Cô bé Misơlin cũng yêu nghề như bố mẹ. Cô càng lớn bao nhiêu thì tài nghệ lại càng nảy nở bấy nhiêu. Cô kết duyên với một tài tử leo dây, múa rối tên là Daniơly (Danielys).


Gánh xiếc Ramin và Daniơly hợp lại với nhau. Bộ tư Vâylăng nói ở đầu câu chuyện này chính là Raymông, vợ, con gái là Misơlin và chàng rể Daniơly. Gánh xiếc lấy tên mới là “Chớp Nhoáng”. Cuộc thành công vẻ vang đêm hôm công diễn đầu tiên không ngờ cũng lại là đêm cuối cùng.


Đêm sau, chủ nhật, tự nhiên Raymông cầm tay vợ để lên ngực mình.


- Anh làm sao thế? Mệt à?


- Anh sợ.


Lúc ấy các cây đu đã buông thõng, những ống sắt mạ kền xanh lấp loáng như sao.


Raymông hỏi luôn miệng:


- Con tôi đâu?


Misơlin đứng ở sau cửa, nói chuyện với chồng và mấy người bạn. Raymông hỏi:


- Con ơi, con không lạnh à?


Hai chú hề Bôbi (Boby) và Pờrốtpe (Prosper) bắt đầu pha trò. Bôbi dùng đạn pháo bắn, Pờrốtpe ngã lăn quay ra, giả làm người chết rồi nằm thẳng cẳng trên cáng. Bôbi đi theo cáng, khóc lên quang quác, theo sau là một đoàn người lùn kỳ quái, tức cười đi hộ vệ. Ban nhạc cử bài lãm khốc. Khán giả cười vỡ bụng. Nhưng Raymông rùng mình, ghê sợ vì đã đến lượt anh trình diễn với vợ, con gái và con rể. Khán giả vỗ tay hoan hô như sấm dậy. Bốn người dùng sức cánh tay leo lên ngọn đu.


Quay cuồng chán ở trên bậc đu mạ kền xanh bóng nhoáng, lại tung người lên không, rồi dùng một ngón tay hoặc một bàn tay bắt lấy đu một cách huyền ảo chẳng khác một bầy tiên đang múa ở trên chín tầng mây xanh. Chỉ còn ba phút nữa là xong nhiệm vụ. Đây là trò “tra chân vào đu” trước chặng chót “Nhảy chết thôi”. Chồng ném con gái cho vợ. Tay Raymông cầm một chân Misơlin, dốc ngược đầu xuống, quăng cho vợ. Cả ba người cùng dốc ngược đầu xuống đất, chân bám lấy đu bay trên trời. Trống đổ hồi. Cả rạp xiếc im lặng như tờ. Im lặng rùng rợn. Mọi người nghe thấy hỏi:


- Xong chưa?


- Rồi.


Hai tay người mẹ đang cầm lấy tay con gái thình lình buông ra rồi dang thẳng hai cánh tay ra hai bên như cây thánh giá. Có gì xảy ra chăng? Nghe như có tiếng vải rách. Công chúng la lên thất thanh. Hai cha con Raymông rơi tõm xuống diễn đường. Bà mẹ còn bám chân vào đu, nhưng như có linh tính bảo cho biết, òa lên khóc và kêu lên một tiếng kinh khủng. Tấm thảm kịch rùng rợn diễn ra vẻn vẹn có sáu tích tắc đồng hồ.


Tất cả nhân viên gánh xiếc chạy ra vực Raymông dậy. Thân hình anh nát nhừ, và nhũn ra như bún. Họ đỡ Misơlin dậy, nàng đổ máu ở mồm, ở mũi, nằm bất tỉnh. Người mẹ ở trên đu sắp rớt nốt thì may con rể chạy lại đỡ kịp rồi giao luôn cho người vực vào phía trong.


Tiếng kèn trống nổi lên inh ỏi. Khán giả ôm lấy mặt, không dám nhìn. Họ không thể tưởng tượng đó lại là chuyện thật.


Tiếng nhạc vẫn vang lừng. Buốcvin nhảy chồm ra giữa diễn đường. Hắn nghẹn ngào không nói được nên lời. Dáng điệu hắn ngộ nghĩnh đến nỗi tiếng cười đâu đấy đổ dồn từng hồi, giòn hơn cả những tràng pháo nổ.


Các trò trên diễn đường vẫn tiếp tục một cách điên cuồng, gần như vô nhân đạo, khiến cho công chúng quên khuấy mất rằng có một người vì mua vui cho họ bị chết oan, một người khác bị thương trầm trọng, mặc dầu lòng họ còn se lại, câu chuyện khôi hài trong rạp xiếc là cố ý nuốt chửng tấm thảm kịch cực kỳ bi đát kia đi để tiêu một cách ngốn ngấu trước những cặp mắt còn đẫm lệ của hàng vạn khán giả.


Trong khi bên ngoài, tiếng cười nổi lên cao ngất tới ngọn cột cái thì ở bên trong bức màn viền kim tuyến, một người đàn bà mặc may ô trắng gục xuống khóc chồng, khóc con.


Về sau này, cuộc điều tra cho biết là trong khi hai cha con Raymông bị rớt từ trên ngọn đu cao mười hai thước, Raymông đã đem hết sức bình sinh ra cố nâng con gái và đẩy cô ra xa đàng trước. Anh biết rằng nếu mình lao mình từ trên cao chót vót xuống con mình thì con mình sẽ tan xương nát thịt, mà chính mình cũng không thoát được tử thần nên cố đẩy con gái ra xa để cho cô ngã úp bụng xuống diễn đường, còn chính Raymông thì đâm bổ nhào một mạch thẳng tắp xuống đất cho tan xương, vỡ sọ.


Trong những giờ phút quá nghiêm trọng ấy, vai hề có nhiệm vụ vô cùng lớn lao là ra pha trò, làm cho hàng vạn thần trí đang bị rung động đến cực độ được giãn ra, các cơ thể trong người bị thiên lệch do đó được trả lại thăng bằng.


Vì thế Sáclô đã nói rất hữu ý:


“Tôi chỉ có một nghề đáng kính: nghề làm hề”.


Thế mà nước Anh là nơi sản xuất ra những tài ba như Sớcsin, Sáclô, người ta lại bạc đãi các chú hề hơn đâu hết. Người ta còn nhớ vào ngày 29 tháng Giêng năm 1953, một nhóm ba mươi chú hề danh tiếng ở rải rác trên đất Anh đã phải hội họp nhau lại để thảo luận, nghiên cứu và tìm phương pháp cách mạng nghề hát xiếc.


Một chú có cái biệt hiệu trăm phần trăm hề “Sọ Dừa” (Co Co) đứng trước hội đồng oang oang hô hào các bạn đồng nghiệp phải lập tức lập một bản quyết nghị minh định nhiệm vụ của vai hề để cứu vớt họ ra khỏi bầu không khí tắc thở. Toàn thể hội đồng cực lực phản đối việc bạc đãi vai hề, bắt hề phải trông nom bếp núc, giặt giũ, quét nhà và quét nhà tiêu. “Sọ Dừa” kết luận:


- Hề là một tài tử chớ không phải là đầy tớ!


Hình như người Tàu ngày xưa cũng khinh miệt các chú hề. Cứ xét đến nguồn gốc chữ “hề” thì hề của Tàu là đầy tớ thực. Thằng nhỏ đi hầu là hề đồng, chữ hề ở đây là “hề nô”. Sách “Lễ Ký” còn ghi:


“Người có tài thì gọi là hề, còn người không có tài thì gọi là nô”. (Hữu tài năng viết hề, vô tài năng viết nô).


Quan niệm một anh hề như thế thực là oan ức, vô lý. Cù nôn cho thiên hạ cười, không phải dễ, nếu nhỡ lời, hay pha trò không đúng chỗ, không những đã không gợi được tiếng cười của người nghe mà lại còn làm cho người nghe căm thù oán giận và ghét bỏ. Đó là trường hợp chú hề ở gánh hát Hămtông (Harmston) ngày trước, đã sang công diễn ở Việt Nam. Gánh hát xiếc này của người Anh, một dân tộc nổi tiếng về khôi hài trên thế giới, vậy mà không hiểu vì khinh miệt dân ta hay là vì vô tình lỡ lời ăn tiếng nói, chú hề của gánh ấy đã làm cho dân Hà Nội công phẫn vô cùng, khiến gánh xiếc vì đó bị tẩy chay, rồi tan rã, còn ông chủ gánh thì phải nhờ cây súng lục tự đền tội mình một cách ảo não ở trên đất Việt Nam.


Ngay tối đầu công diễn ở Hà Nội, họ đưa ra một lớp khôi hài hạ cấp.


Một chú hề ăn mặc tồi tàn, rách rưới, ra đứng sừng sững chán chê rồi ngồi lì ở diễn đường, chẳng nói chẳng rằng. Tiếp đến hai chú nữa, cầm trong tay mỗi người một thứ nhạc cụ. Họ xì xồ với nhau, ý chừng muốn mời chú “phỗng đá” kia rút lui mau lẹ để nhường chỗ cho họ hòa nhạc chi đây. Trước họ còn dùng những tiếng Tây phương để nói với chú ta: Anh, Đức, Ý, Hòa Lan, Bỉ, Thụy Sỹ, Y Pha Nho… nhưng chú “phỗng đá” vẫn ì ra, không hiểu hay không muốn hiểu. Sau, hai anh hề mang nhạc cụ dùng đến các thứ tiếng Á Đông: Tàu, Nhật, Thái Lan, Miên, Lào… nói chuyện nhưng, chú hề nọ vẫn cứ đực mặt ra. Cuối cùng, họ phải giở tiếng Pháp ra để hỏi, chú ta vẫn ngơ ngơ ngác ngác như vịt nghe sấm. Nói đến Pháp, họ liên tưởng đến Việt Nam, vì nước ta hồi ấy lệ thuộc Pháp.


- Có phải anh là người “An Nam” không?


Mấy chữ ấy có tác dụng của những cục nước đá lớn, lạnh buốt ném vào mặt các khán giả Việt Nam đông nghịt ở khán đài.


Chú hề lì bấy giờ mới khẽ gật đầu. Tức thì hai chú kia xông vào đấm đá túi bụi “người An Nam”, quăng ra khỏi diễn đường để lấy chỗ cho họ pha trò. Khán giả ngoại quốc cười rộ lên, làm rung cả những cái bụng bự đầy mỡ, còn người Việt Nam thì tê tái, ngơ ngác nhìn nhau, ruột tê như ngâm giấm ớt. Họ cảm thấy “mất tiền mua lấy cái dại”, chẳng ai bảo ai, lục tục kéo nhau ra về.


Sáng hôm sau, trên khắp các mặt báo Việt ngữ đều vang dậy tiếng phàn nàn phẫn uất. Trí thức, sinh viên phát động phong trào “tẩy chay” gánh xiếc Harmston. Biết không thể nào kiếm ăn được nữa và cũng biết rằng không có cách gì vớt lại được cái “hố” tày trời, ông chủ gánh đành lếch thếch dọn xuống thành phố Nam Định, nhưng tại đây, người dân hưởng ứng triệt để lời kêu gọi của anh em Hà Nội cũng tẩy chay luôn. Đến Thanh Hóa, gánh xiếc làn càng bị tẩy chay dữ hơn nữa. Gánh xiếc Harmston lủi thủi vào Nghệ An. Nơi đây chính là mồ chôn gánh xiếc ấy - mặc dầu ông chủ gánh xiếc hết lời thanh minh trên các báo Tây, Nam.


D- VỀ THỂ THAO: Đội bóng rổ “Lãng du Hoàn cầu” (Harlem Globe Trotters) của người da đen đem gieo rắc tiếng cười lần đầu tiên trên thao trường. Muốn biết lai lịch đội bóng này ta phải rõ tiểu sử người đã sinh ra nó.


Péctanh (Abe Sperstein) vốn sinh ở khu phố toàn người Do Thái ở, thuộc kinh đô nước Anh. Hồi sáu tuổi, cha mẹ anh rời sang Mỹ, tới Sicagô (Chicago) lập nghiệp. Làm bạn chí thân với quả bóng từ hồi bé, Péctanh trở thành một nhà chuyên môn bóng rổ. Một ngày kia, khách sạn Savoa (Savoy) mời Péctanh đến huấn luyện cho một đội năm người da đen tại một căn phòng nhảy đầm. Rồi họ chu du trên đất Mỹ, ra trận lần thứ nhất tại một làng hẻo lánh. Hội “Lãng du” toàn thắng. Trong sáu, bảy năm liên tiếp, khắp trên đất Mỹ tịnh không có qua lấy một đội bóng rổ nào gọi là tạm sánh được với họ. Một hôm, bầu Péctanh nghĩ ra cách đem tiếng cười vào làng thể thao, một là để mua vui cho khán giả, hai là đưa tài nghệ đến chỗ tuyệt vời. Vì “biết mình biết người”, ông bầu hạ lệnh cho anh em đồng đội vừa chơi bóng vừa pha trò.


Trong khi chuyền bóng thoăn thoắt, họ đùa giỡn với bóng như một đoàn năm con sư tử hí cầu. Họ giỡn với quả bóng như con mèo giỡn chuột, bắt quả bóng thế nào quả bóng phải làm đúng như thế. Hơn nữa, trong trận đấu tại đô thị Năngxy (Nancy) bên Pháp, trời lại mưa. Họ đội mũ, có người mặc áo tơi, có người một tay cầm dù, một tay bắt bóng làm cho non một vạn khán giả bò ra mà cười, không đếm xỉa đến gió mưa tầm tã.


Sau khi đi công du các nước trên thế giới, đấu những trận quái kiệt, hội “Lãng du Hoàn cầu” đã được Giáo hoàng vời các hội viên của hội vào yết kiến. Hội dâng lên ngài một quả bóng có chữ ký của các hội viên tự tay viết lấy.


Cao ủy Mỹ ở Tây Đức, Ô. Clôi (Mr Cloy) mời hội đến biểu diễn. Tức thì có bảy vạn rưởi người kéo tới chầu chực ở chỗ bán vé.


Trong một lá thư của ông ngoại trưởng Mỹ viết cho Péctanh, có đoạn như sau: “Hội Lãng du Hoàn cầu đã gây được sự hiểu biết thân mật giữa các dân tộc. Từ nay về sau, hễ có cuộc viễn du nào, Quý hội đừng ngần ngại gì, cứ việc nói với chúng tôi, chúng tôi xin tận tình giúp đỡ”.


(còn tiếp)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info







(1) Le rire et la bonne humeur sont les deux compagnons indispensabies de notre réussite.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nói có sách (2) - Vũ Bằng 29.05.2017
Nguồn gốc người Việt - người Mường: Nước Xích Quỷ - Tạ Đức 21.05.2017
Nói có sách (1) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (6) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (5) - Vũ Bằng 18.05.2017
OIJ chấm dứt hoạt động, sự nghiệp OIJ trường tồn - Phan Quang 17.05.2017
Ký ức tháng Tư - Trần Đăng Khoa 02.05.2017
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
xem thêm »