tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20006127
02.02.2012
Tư liệu
Victor Hugo ở Việt Nam

   Cuộc gặp gỡ giữa Hồ Biểu Chánh và Victor Hugo


Victor Hugo có mặt tại Việt Nam đã hàng trăm năm nay. Vào những năm đầu thế kỷ XX, cả một thế hệ học trò trường Tây đã say sưa đọc tác phẩm của Hugo trực tiếp bằng tiếng Pháp. Trong bức thư đầu tiên viết cho nhà văn André Gide năm 1928, Đỗ Đình, một độc giả yêu mến văn chương Pháp đã kể cho nhà văn Pháp như sau: “Không phải là chuyện hiếm hoi khi nghe thấy có những người nói về Victor Hugo hoặc Lamartine một cách trân trọng và chính xác” (Il n’est pas rare d’entendre des personnes parler de Victor Hugo ou Lamartine avec beaucoup de sérieux et d’exactitude). Trong thực tế, những người quan tâm đến Hugo không chỉ có những độc giả đọc trực tiếp bằng tiếng Pháp, bởi vào những năm đầu thế kỷ XX đã xuất hiện những bản dịch tác phẩm của Hugo ra tiếng Việt. Về văn xuôi có Những kẻ khốn nạn (do Nguyễn Văn Vĩnh dịch), Giết mẹ (nguyên văn: Lucrèce Borgia, do Vũ Trọng Phụng dịch), Hernani (do Nguyễn Giang dịch). Về thơ, chúng ta thấy nhiều bài của Hugo được dịch đăng rải rác trên các báo và tạp chí: Nam phong (Vent du Sud), Phong hoá (Les Moeurs), Phụ nữ tân văn (Nouvelles de la Femme), Thực nghiệp dân báo (Revue des Métiers), Tân thanh tạp chí (La voix nouvelle), Trung lập (L’Indépendant), Sài gòn( Saigon), Văn học tuần san (Bimensuel littéraire).


 


Dù đọc tác phẩm của Hugo bằng tiếng Pháp hay qua bản dịch tiếng Việt, các độc giả Việt Nam cũng có chung một điểm gặp gỡ, đó là lòng yêu mến, ngưỡng mộ nhà văn giàu lòng nhân ái, vị tha. Ông thực sự là người bạn lớn của “những người khốn khổ”, người đã dũng cảm đứng lên bảo vệ lẽ phải, bảo vệ những điều cao đẹp nhất trên đời.


 


Hồ Biểu Chánh thuộc thế hệ độc giả đọc văn học Pháp trực tiếp bằng tiếng Pháp. Học chữ nho từ nhỏ ở trường làng, đến năm 11 tuổi (1869) Hồ Biểu Chánh mới học chữ quốc ngữ và chữ Pháp. Đậu hạng nhì kỳ thi lấy bằng Thành Chung vào tuổi 20 (1905), vì vậy vốn văn học Pháp của ông khá phong phú. Mặt khác, ngay từ những năm tháng bắt đầu lập nghiệp, ông đã thấy rằng, muốn giỏi tiếng Việt, phải biết tiếng Hán. Và thế là, cần mẫn trong ba năm để học các sách Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử, ông thử sức mình trong lĩnh vực dịch thuật. Chính vốn học vấn ấy là bước chuẩn bị quan trọng cho quãng đời sáng tác mấy chục năm về sau này. Điều đó sẽ dẫn đến một sự kế thừa và nâng cao, sự phát triển và hoàn thiện những gì đã có.


 


Những năm đầu của thế kỷ XX, văn học Việt Nam bước vào giai đoạn giao thời với những bước chuyển mình mạnh mẽ. Nhiều nhà văn đã trưởng thành qua việc tiếp thu văn học nước ngoài (chủ yếu là qua văn học Pháp và qua tiếng Pháp), trên cơ sở vốn văn chương dân tộc đã có bề dày từ ngàn năm trước, Hồ Biểu Chánh là một người trong số các nhà văn tích cực khai thác vốn văn học Pháp từ việc mô phỏng các tiểu thuyết Pháp. Bản thân ông đã từng công nhận: “Đọc tiểu thuyết hay tuồng hát Pháp văn, hễ tôi cảm thì tôi lấy chỗ tôi cảm đó mà làm đề, rồi phỏng theo ít nhiều hoặc tách riêng ra mà sáng tác một tác phẩm hoàn toàn Việt Nam (...) Tuy tôi nói phỏng theo, song kỳ thiệt tôi lấy đại ý mà thôi, mà có khi tôi lật ngược tới đại ý, làm cho cốt truyện trái hẳn, tâm lý khác xa với truyện Pháp”. Ông khẳng định rõ tên các tác phẩm đã gợi ý hoặc làm mẫu cho ông trong quá trình sáng tác:


 


Chúa tàu Kim Quy


 


Le Comte de Monte Cristo (A. Dumas)


 


Cay đắng mùi đời


 


Sans Famille (Hertor Malot)


 


Chút phận linh đinh


 


En Famille (Hertor Malot)


 


Thầy thông ngôn


 


Les Amours d’Estève (A. Theuriet)


 


Ngọn cỏ gió đùa


 


Les Mirérables (Victor Hugo)


 


Kẻ làm người chịu


 


Les deux gosses (P. Decourcelle)


 


Vì nghĩa vì tình


 


Fanfan et Claudinet (P. Decourcelle)


 


Cha con nghĩa nặng


 


Le Calvaire


 


Ở theo thời


 


Topaze (Marcel Pagnol) v.v.


 


Sau khi đỗ bằng Thành chung, Hồ Biểu Chánh trở thành công chức ăn lương của chính phủ Pháp. Thời gian bận rộn để làm tròn phận sự công chức không thể ngăn cản ông trên con đường sáng tác. Ông đã thử sức mình trên nhiều lĩnh vực: báo chí, dịch thuật, biên khảo, tuồng hát, thơ, truyện ngắn, nhưng nổi bật nhất là tiểu thuyết với 64 đầu sách, một con số không nhỏ.


 


Học chữ quốc ngữ và chữ Pháp cùng lúc, trong 10 năm học theo chế độ trường thuộc địa, Hồ Biểu Chánh cũng như nhiều người cùng thế hệ ông đã từng thuộc lòng thơ của Hugo, bản thân ông cũng đã từng dịch thơ Hugo. Nhưng đặc biệt ông say mê bộ tiểu thuyết Những người khốn khổ, “cảm” nó để sáng tạo ra tác phẩm của mình.


 


Trong số 64 tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, Ngọn cỏ gió đùa là một trong những tác phẩm có giá trị nhất. Nếu hiểu cốt truyện theo nghĩa như cái “lõi”, “sườn”, “bộ xương”, chúng ta sẽ thấy cốt truyện của Ngọn cỏ gió đùa là được lấy từ tiểu thuyết Những người khốn khổ như chính nhà văn đã thừa nhận. Mặc dù, để bố cục, sắp xếp lại theo kiểu của mình, Hồ Biểu Chánh đã dùng đến 5 năm để gia công thiết kế, sau đó ông chỉ viết trong hai tháng để hoàn thành tác phẩm. Để tiện theo dõi, chúng tôi xin nêu ra đây những sự kiện chính đã làm nên cốt truyện của hai tác phẩm.


 


Những người khốn khổ


 


Ngọn cỏ gió đùa


 


Jean Valjean nghèo khổ, ăn cắp bánh mì để cho cháu, bị kết án tù 5 năm khổ sai


 


Lê Văn Đó nghèo khổ, ăn cắp nồi cám lợn cho mẹ già và cháu, bị kết án tù 5 năm


 


Jean Valjean gặp Giám mục Myriel, lấy trộm bộ đồ bạc, rồi được thả


 


Lê Văn Đó gặp Hoà thượng Chánh Tâm, lấy trộm bộ ấm chén bằng ngọc lựu, rồi được thả


 


Jean Valjean trở thành thị trưởng Madeleine giàu có và làm việc thiện


 


Lê Văn Đó thành Trần Chánh Tâm giàu có và làm việc thiện


 


Jean Valjean cứu Fantine không được đã tìm cách cứu Cosette về nuôi


 


Lê Văn Đó cứu ánh Nguyệt không thành,đã đón con gái của ánh Nguyệt là Thu Vân về nuôi


 


Jean Valjean cứu Marius trên chiến luỹ, rồi gả Cosette cho Marius và chết thanh thản


 


Lê Văn Đó cứu Thể Phụng, cho Thu Vân lấy Thể Phụng và chết thanh thản


 


Nếu chỉ xét những sự kiện mô phỏng vay mượn trên đây thì dường như chẳng có gì đáng nói. Vấn đề ở đây là Hồ Biểu Chánh đã thực sự làm việc trên cái khung vay mượn đó. Trước hết là vấn đề dung lượng của tác phẩm. Nếu như bộ Những người khốn khổ dày hơn hai nghìn trang (bản tiếng Việt) thì cuốn Ngọn cỏ gió đùa chỉ có 422 trang (tính theo bản in năm 1988 của Nxb Tiền Giang). Với số trang như vậy, Hồ Biểu Chánh phải sắp xếp sao cho hợp lý. Trong thực tế ông đã dành năm năm cho việc sắp xếp bố cục. Có một lý do có thể giải thích cho sự rút ngắn ấy. Những năm đầu thế kỷ XX, một loại công chúng bạn đọc mới ra đời. Họ được thưởng thức một trong những “món ăn” lạ, đó là tiểu thuyết. Họ đòi hỏi và thúc giục tác giả. Và nhà văn phải làm việc trong sự thôi thúc đó. Nhà văn khó có thể tìm được thời gian để chau truốt, để đầu tư dài hơi cho tác phẩm. Ngọn cỏ gió đùa được viết trong hai tháng, cách dựng truyện và xây dựng nhân vật là theo kiểu tiểu thuyết Pháp, nhưng nội dung lại hoàn toàn Việt Nam.


 


Tác phẩm của ông trong nhiều năm thuộc loại “ăn khách”. Một trong những lý do chính là bởi ông đáp ứng được yêu cầu của độc giả, muốn được nghe kể chuyện “xứ mình”. Và Hồ Biểu Chánh đã sáng tạo ra một câu chuyện hoàn toàn của xứ Việt, cụ thể hơn nữa, của vùng quê Nam Bộ trên cơ sở một “bộ xương” vay mượn. Chúng ta hãy đọc câu đầu tiên trong cuốn tiểu thuyết: “Năm Mậu Thìn 1808, nhằm Gia Long thất niên, tại huyện Tân Hoà, bây giờ là tỉnh Gò Công, trời hạn luôn trong hai tháng, là tháng bảy với tháng tám, không nhiễu một giọt mưa.” Liên tục trong truyện, tên các niên đại như năm Mậu Tí (1828), năm Mậu Ngọ (1846), năm Mậu Thân (1848), năm Minh Mạng cửu niên, năm Nhâm Tuất Gia Long v.v.được nêu rải rác trong truyện để hướng người đọc vào các sự kiện xảy ra từ thế kỷ trước. Tên các địa điểm như Gia Định, Cần Giờ, Cần Đước, huyện Bình Dương, huyện Tân Hoà tỉnh Gò Công,... núi Thuỳ Vân, cánh đồng Rạch Kiến, rạch Vĩnh Tường...dẫn người đọc vào các vùng quê cụ thể. Càng theo dõi chuyện, người đọc càng bị cuốn theo các sự kiện cũng như không khí của một câu chuyện xảy ra ở Việt Nam, hoàn toàn mang tính chất Việt Nam. Ngọn cỏ gió đùa có sức sống của riêng nó với hình ảnh làng quê Nam Bộ cùng với những con người sống lam lũ vất vả nhưng đầy lòng vị tha và hào hiệp. Sắc thái Nam Bộ với những địa danh, phong cảnh, con người, lời ăn tiếng nói đặc trưng đã tạo nên giá trị của tác phẩm.


 


Cuộc gặp gỡ giữa Hồ Biểu Chánh và Hugo chỉ là một cuộc “không hẹn mà gặp”. Sáng tác của nhà văn Pháp vĩ đại không chỉ gợi ý cho Hồ Biểu Chánh những sự kiện chính của cốt truyện, mà còn cuốn hút nhà văn nước Việt bởi tinh thần nhân đạo cao cả, bởi mối quan tâm ưu ái đặc biệt đến những người cùng khổ. Ngoài ra, Hồ Biểu Chánh còn học được ở nhà văn Pháp cách tái hiện lại cuộc sống, cách sử dụng ngôn ngữ đời thường vào tác phẩm.


 


        Victor Hugo - Ngọn hải đăng ở đại dương văn học


 


1. Người ta thường gọi Hugo là “con người đại dương”. Bởi sự vĩ đại của tư tưởng và sự mệnh mông của tình cảm của ông đối với nhân dân và nhân loại, bởi sự nghiệp đồ sộ của ông bao hàm mọi thể loại văn học và phi văn học; bởi sự đa dạng của những tài năng của ông in dấu ấn trong mọi lĩnh vực hơn hai thế kỷ qua trong nền văn học và văn hóa Pháp. Đến độ có nhà nghiên cứu cho rằng: Tất cả những vấn đề lớn của nhân loại đều hàm chứa trong các tác phẩm của Hugo như “tất cả được lồng vào tất cả”.


 


Hugo đã bộc bạch: “Tôi ưa thích đôi điều ở tất cả mọi sự, hơn là tất cả mọi sự ở đôi điều” (Truyền kỳ các thế kỷ, đoạn viết năm 1860). Ý của ông muốn diễn tả qua cách phương thức tương phản và chơi chữ ở đây là sự quan tâm có tính chất bách khoa của ông, sự chú tâm hiếu kỳ của ông đối với tất cả mọi lĩnh vực cuộc sống, vũ trụ, con người hơn là chỉ đào sâu đến cùng tận, đến tất cả một vài điều. Hoặc ông còn viết: “Tâm hồn pha lê của tôi được Chúa đặt giữa lòng vạn vật, nó là tiếng dội vang của mọi sự” (Mặc Tưởng), hay “Thơ phải đi hẳn vào đáy sâu của cuộc sống, cộng tác với nó, lấy ở nó động lực và sự tồn tại”. Thơ hay nói rộng ra văn chương phải thể hiện “khuôn mặt đơn nhất và muôn hình, u ám và rực rỡ, định mệnh và thiêng liêng: đó là Con Người”, “Sự hiện hữu của con người, khởi nguồn từ sự bí ẩn của nôi ru đến sự bí ẩn của quan tài, đó là tâm linh đang bước đi”.


 


2. Tuy nhiên sự vĩ đại đó còn ở chỗ cảm quan nghệ thuật về con người của ông gắn chặt với sự tiến bộ và nhân dân. “Tiến bộ là sợi chỉ... Sợi chỉ lớn lao, bí ẩn xuyên suốt đường đi lắt léo như mê cung của nhân loại”, (Truyền kỳ các thế kỷ) “Nghệ thuật là ánh sáng đất trời rạng ngời trên vầng trán nhân dân, như ngàn sao lấp lánh trên trán Người, Thượng đế”, (...) “Nghệ thuật, người biến nhân dân nô lệ thành tự do, người biến nhân dân tự do thành vĩ đại” (Nghệ thuật với nhân dân, 7-11-1851),” Những ai suy tưởng là kẻ chiến đấu”... Nhà thơ là người chiến đấu chống bất công, áp bức “Ta sẽ đến, ngời ngời ánh sáng, với công lý trong lòng, roi ở trong tay, quất tung những lời thơ uất hận”.


 


Dostoievski là người hiểu tư tưởng nghệ thuật của Hugo một cách sâu sắc khi ông viết: “Tư tưởng của Victor Hugo là tư tưởng cơ bản của toàn bộ nghệ thuật thế kỷ XIX và ông là người đầu tiên phát ngôn cho tư tưởng đó... định thức của tư tưởng đó là: phục sinh con người đã chết, đã bị đè bẹp hết sức bất công dưới ách áp bức của hoàn cảnh xã hội, của tình trạng trì trệ bao thế kỷ và những định kiến xã hội. Tư tưởng đó là: Sự biện bộ cho những người bị chà đạp và những kẻ khốn cùng bị xã hội ruồng bỏ...Victor Hugo hầu như người phát ngôn chủ yếu, đầu tiên của tư tưởng phục sinh đó trong văn chương của thế kỷ chúng ta. Ít nhất ông là người đầu tiên tuyên bố nó với sức mạnh nghệ thuật trong tác phẩm (Dostoievski toàn tập, nxb khoa học, 1972-1976, trang 525-526, bản tiếng Nga).


 


3. Quan điểm nghệ thuật tiến bộ đó được bộc lộ một cách độc đáo: “Lĩnh vực thơ ca không có bờ bến. Phải, phía trên thế giới thực, còn có một thế giới lý tưởng rực sang dưới mắt những ai nhờ suy tưởng mà nhìn thấy trong sự vật một cái gì cao hơn chính sự vật” (Hugo,lời tựa Đoản Thi và Thơ ca khác, 1822)


 


Sự độc đáo đó còn nhờ trí tưởng tượng và liên tưởng kỳ lạ phú bẩm của Hugo, như một nhà nghiên cứu khác đã viết: “Hugo hình như thấy một cách rõ ràng với những đường nét chính xác và những màu sắc thực cái mà ông tưởng tượng nên. Và hình ảnh đó nhập làm một, hữu cơ với những ý niệm, tâm trạng mà ông muốn biểu hiện... (...) ông hòa nhập sự liên tưởng qua từ ngữ và âm vận vào những liên tưởng dựa trên cấu trúc diễn luận (...) một năng khiếu hình dung mạnh đến mức không hề có một sự rời rạc nào...”


 


Trên hết, còn nhờ tài năng sử dụng ngôn ngữ điêu luyện đến mức như là nhà phù thủy của ngôn từ, như nhà thơ Baudelaire đã ngợi ca rất hay: “Tôi thấy trong Kinh Thánh có một nhà dự ngôn mà Chúa đã ra lệnh ăn một cuốn sách. Tôi không rõ, trước đây, ở thế giới nào, Hugo đã ăn được một cuốn tự điển về cái ngôn ngữ mà ông phải nói lúc chào đời, nhưng tôi thấy ngôn từ Pháp khi ra khỏi miệng ông đã biến thành một thế giới, một vũ trụ đầy màu sắc, du dương và sống động” hay nói như Eli Faure, một nhà viết lịch sử nghệ thuật Pháp “ Toàn bộ bề mặt nứt ra, nhung nhúc và cựa quậy trong thơ Hugo”. Hugo thường biểu hiện những tình cảm phổ biến của con người bình thường với những từ ngữ của cuộc sống hằng ngày (...). Bên cạnh yếu tố hằng ngày, chất văn xuôi bình dị bao giờ cũng có một chất trữ tình bay bỗng, một liên tưởng sâu xa tới cái gì còn bí mật, u uẩn của đời sống, có khi còn vượt xa hẳn cuộc sống(Đặng Thị Hạnh).


 


4. “Đại dương“ không chỉ là sự rộng lớn, mênh mông, kỳ vĩ mà nó còn là sự bí ẩn chưa có thể dò tới. Sáng tác của Hugo gợi mở những chân trời vô tận ở bình diện xã hội - lịch sử, cũng như bình diện “cái bên kia” “Phía mà con người linh giác rùng mình, ghê sợ và kinh hãi trước những thực tại và điều bí ẩn của vũ trụ (Jean Massin, lời tựa toàn tập Victor Hugo)


 


Georges Piroué nhận xét: “V.Hugo không bằng lòng với việc sử dụng tiểu thuyết để soi sáng một thời điểm lịch sử mà còn để vượt lên bên trên nó... nối kết với lãnh vực truyền thuyết của kinh nghiệm nhân sinh (...) tạo nên một huyền thoại siêu hình và đạo đức, tính chất của một niềm tin(...) Tiểu thuyết của ông mở ra một cuộc du hành vào cái vô tận lớn, với kích thước khổng lồ của kính viễn vọng”.


 


... Nhân vật của tiểu thuyết Hugo thường mang dáng dấp một bán thần hoặc các vị thần trong một phút đột biến nào đó. Chúng được biểu hiện bằng phương thức anh hùng ca:... Cái thiện có gương mặt xấu xí ở đó và cái dễ ưa bên ngoài lại mang mùi thối rữa. Những kẻ lớn là bé ở đó và chiến công thành ra bại trận. Những tương phản thu hút nhau ở đó và nếu chúng kết hợp, thì chúng chỉ có thể là một lưỡng thể nghịch lý (...) Ở đây, bình diện hữu hình kết hợp với bình diện siêu hình, cái có thể thấy được kết hợp với cái không thể biết được ở trong nhân vật, cái ở dưới thấp mời gọi cái bên kia (Victor Hugo, Nhà viết tiểu thuyết hay những cõi bên trên của cái chưa biết, Nhà xuất bản Denoel, 1985). Còn Pierre Albouy cho rằng “Tâm lý học của Hugo có tính chất vũ trụ và huyền thoại”, “Mỹ học chi phối việc xây dựng các nhân vật là mỹ học của sự tương phản và đảo nghịch”, các nhân vật được phân bố theo liều lượng giữa ánh sáng và bóng tối, ở “đáy tối tăm” và “đỉnh ánh sáng” (Tập san Europe, số 3-4, năm 1962).


 


5. Hugo để lại một di sản đồ sộ, gần 18 tập, nhà xuất bản Câu lạc bộ sách Pháp, 1967-1970, và 15 tập, nhà xuất bản Robert Laffont, Coll, Bouquins, gần 17.500 trang khổ lớn, xuất bản năm 1985-1990, tái bản năm 2002, do 2 nhà chuyên gia Jacques Seebacher và Guy Rosa chú giải. Bộ này gồm 4 tập lớn về thơ với hơn 5000 trang, bao gồm hơn 20 tác phẩm thơ, gần 154.000 câu thơ, trong đó bộ anh hùng ca huyền thoại “Truyền kỳ các thế kỷ” hơn 1000 trang, 3 tập lớn về tiểu thuyết với 9 tác phẩm, 4500 trang, 2 tập lớn về kịch trên 2500 trang, gồm hơn 12 vở kịch, 1 tập các bài viết về chính trị 1500 trang, một tập về các bút ký về lịch sử: 1500 trang, 1 tập về phê bình, trên 1000 trang, một tập viết về “du hành” trên 1000 trang, một tập bút ký về biển, đại dương trên 1000 trang, một tập viết các đề tài khác nhau như: giáo dục, tôn giáo, triết học trên 1000 trang... Toàn bộ các tác phẩm này được xem như một bản anh hùng ca Ôđítxê kỳ lạ, khác thường, mời gọi thám hiểm một thế giới kỳ vĩ thực, mộng, linh giác thấu trị, tiên tri hòa lẫn vào nhau. Đó là chưa kể hàng ngàn bức thư Hugo viết cho Juliette Drouet, người tình vĩnh cửu và như là người vợ thứ hai của ông trong vòng 50 năm mà nhà xuất bản Fayard ấn hành năm nay.


 


6. Sự nghiệp Hugo đồ sộ như vậy, bởi theo Jean-Marc Hovasse - nhà viết tiểu sử mới nhất năm 2002 về Hugo: “Hugo có tham vọng chiếm vị trí hàng đầu trong mọi thể loại và mọi lĩnh vực. Bằng nghị lực phi thường và sự lao động miệt mài, thường xuyên, ông đã hầu như đạt được mục đích mà ông đã đặt ra. Sức mạnh làm việc của ông thật đáng kể, nhưng cường độ làm việc đều đặn mỗi ngày thật khó tin. Ông có khả năng hoàn thành một vở kịch trong vòng 15 đến 20 ngày, với một hệ thống khá kỳ diệu: ngày hôm nay viết gấp đôi ngày hôm qua; khởi đầu một tác phẩm, ông viết 5 câu thơ, hôm sau 10 câu, hôm sau nữa 20 câu, rồi 40 câu, 80 câu, 160 câu, và 300 câu thơ mỗi ngày vào cuối tuần. Ông như chìm sâu trong một trạng thái thứ hai khi viết kịch. Tiểu thuyết “Nhà thờ Đức Bà Paris” được viết cùng tốc độ, nhưng sự thúc bách của nhà xuất bản”.


 


Trong cuộc đời sáng tác của ông, có nhiều năm ông cho xuất bản 2 hoặc ba tác phẩm với các thể loại khác nhau như năm 1826 (1 tiểu thuyết, 1 tập thơ), 1827 (1 vở kịch, 1 tập thơ), năm 1829 (1 tập thơ, 1 tập kịch, 1 tiểu thuyết), năm 1831 (Tiểu thuyết Nhà thờ Đức Bà Paris và 1 tập thơ...).


 


7. Hugo còn xem sứ mệnh của nhà thơ là cầm bó đuốc sáng dẫn đường cho nhân loại từ cõi tối tăm đến ngày mai xán lạn”. Thơ, văn, bút ký, diễn văn của ông đầy chất tiên tri.


 


Và ngày nay, những lời tiên tri của ông đã được chứng nghiệm sự đúng đắn và sự chính xác kỳ lạ (Pierre-Marc de Biasi).


 


Ngay từ thế kỷ XIX, văn hào vĩ đại Nga Lev Tolstoi đã nhận xét: Hugo là một nhà tiểu thuyết đứng trên thế kỷ của mình như mẫu mực của ý thức nghệ thuật và ý thức đạo đức hết sức cao cả (Tolstoi toàn tập, bản tiếng Anh, tập XXIII, trang 299-300, 1904).


 


Hugo vừa chú trọng đến những vấn đề trọng đại của thời đại mình vừa hướng đến tương lai như ý kiến của Claude Duchet, sử gia lịch sử văn hóa Pháp: “Ngay cả khi tự nguyện sẽ phóng chiếu mình vượt qua khỏi thế kỷ XIX, Hugo đã đảm trách toàn bộ thế kỷ của ông, bao hàm cả cách mạng, cũng như chân lý, lương tri và lẽ phải của Lịch sử” (Tạp chí Lire, tháng 1/2002).


 


Còn nhà nghiên cứu M.Pierre-Marc de Biasi, người phụ trách số kỷ niệm về V.Hugo của Nguyệt san văn học Lire của Pháp thì cho rằng “Hugo là sứ giả của tương lai chúng ta, ông hướng dẫn nó”. Và cụm bài viết của tạp chí Lire này tập trung khảo sát di sản Hugo trong chiều hướng đó, với hàng loạt vấn đề: nền Cộng hòa, tính thế giới phổ quát, kỹ thuật, ký ức, nhà trường, sự tiến bộ, những Anh sáng, quyền các dân tộc, tuổi thơ... rồi năng lượng sức mạnh của cách viết đảo lộn mọi thể loại của Hugo, tuổi thanh xuân chói lòa và vĩnh cửu của tác phẩm của ông, hàng trăm bức họa đầy tài năng của ông.


 


Hugo mãi mãi là ngọn hải đăng chói lòa nhất và là một trong những khuôn mặt kỳ vĩ nhất của văn học Pháp và văn học thế giới.


 


        Victor Hugo - Nghệ Thuật Làm Ông


 


Ai cũng biết Victor Hugo là một nhà văn lớn của nước Pháp và của cả thế giới. Nhưng bên cạnh tài năng văn học, chính trị, người ta còn nhận thấy nơi ông một tấm lòng yêu thương lớn lao đối với con trẻ. Cuốn "Nghệ Thuật Làm Ông" là một tác phẩm gây xúc động sâu xa và được đón nhận nồng nhiệt không kém các cuốn tiểu thuyết khác, được ông viết từ những ứng xử thực tế giữa ông và những cháu bé trong gia đình, lúc nhà văn đã ngoài 70 tuổi. Mẩu truyện nhỏ sau đây là một ví dụ về "Nghệ Thuật Làm Ông" của Victor Hugo.


 


Một hôm cả nhà đi vắng hết chỉ còn lại ông ngoại Victor Hugo và đứa cháu bé mới hai tuổi. Mọi khi, con bé khá ngoan, chỉ cần cho bú một bình sữa là ngủ ngay, hoặc muốn chơi thì cũng đi lẫm chẫm quanh nhà dưới sự dìu dắt của ông ngoại.


 


Nhưng hôm ấy, con bé dở chứng khóc inh ỏi. Victor lần lượt ấn vào bàn tay cháu mọi thứ đồ chơi nhưng nó đều hất tung ra. Ông nghĩ: "Có lẽ con bé thích nhạc, rất thường khi nghe tiếng nhạc nó sẽ nín khóc ngay." Nghĩ thế, Victor ngồi vào đàn piano và nhấn các ngón tay trên phím. Con bé chỉ ngừng khóc trong vài giây, nhưng sau đó nhận ra đây cũng chỉ là một trò dụ dỗ của người lớn, nó lại khóc lớn hơn.


 


Victor lúc lắc mái đầu bạc. Ông lục tìm những cuốn sách có tranh vẽ vui mắt, lật ra từng trang và thủ thỉ kể cho đứa cháu nghe. Với cách diễn tả tài tình, ông khiến cả chú mèo con đứng gần đó vẫy đuôi, vểnh tai, như thể nó nghe và hiểu được những gì ông đang kể. Thế mà đứa cháu bé thì vẫn chẳng mảy may xúc động. Nó trợn mắt nhìn con mèo, và đột ngột giựt lấy cuốn sách ném vào chú mèo. Chú mèo hoảng sợ, kêu "meo" một cái rồi phóng đi. Cô bé lại tiếp tục khóc nhè.


 


Suy nghĩ hồi lâu, Victor bèn quyết định làm một việc rất khó coi đối với danh giá của ông: đó là qùy xụp xuống nền nhà làm con beo, con bò hay con ngựa gì đó, mời đứa cháu cỡi lên. Nhưng đứa bé vẫn không đồng ý và ngoảnh mặt đi phía khác... Victor dường như bất lực, ông xuôi tay nhìn đứa cháu bằng một cái nhìn van nài. Và rồi, bất chợt từ đôi mắt già lão của ông, những giọt nước mắt từ từ chảy ra. Ban đầu ông ngượng ngùng, cố gắng kiềm chế, song trước tiếng khóc nhoi nhói kia, nước mắt ông cơ hồ không cầm được. Cứ thế, nước mắt Victor Hugo tuôn trào không thể cầm lại được. Ông khóc như muốn "so tài" với tiếng khóc của đứa cháu ngọai.


 


Lạ chưa, con bé bỗng dưng nín khóc, và nhẹ nhàng bò lại phía ông, chăm chú nhìn ông ngoại khóc. Thấy vậy, ông làm bộ càng khóc lớn hơn. Con bé vùng đứng dậy, chạy vào căn phòng bên cạnh rồi trở ra với chiếc khăn bé tí xíu, cẩn thận lau nước mắt cho ông ngoại, tay vừa lau miệng vừa ậm ừ dỗ dành, y hệt mẹ nó thường dỗ nó. Rất sung sướng nhưng Victor cũng cố khóc thêm một chập nữa xem sao. Cháu bé thấy vậy càng hoảng hốt, nó muốn kéo đầu ông ngoại sát vào người nó như một điểm tựa cho ông...


 


Khi Victor ngưng khóc, con bé đẩy ông ra, nhìn ông nhoẻn miệng cười một cách hài lòng, như thể nó vừa hoàn thành một công việc hết sức khó khăn. Từ lúc đó, cả hai ông cháu vui đùa với nhau cho đến lúc mọi người trở về. Trong lúc chơi, con bé lại thỉnh thoảng liếc nhìn ông như dò chừng: hẳn nó sợ ông ngoại lại "nhè" nữa.


 


        Victor Hugo và người Việt Nam gặp nhau ở tâm hồn đồng điệu


 


“Không có cách nào để tách mình ra ngoài sự tiến bộ, nó là bình minh của một ngày mới... Kể cả những ai đó thấy rằng tương lai là không được, thì chỉ cần họ quay đầu nhìn lại, họ sẽ thấy quá khứ càng không được. Chỉ có thế thôi; phải tiến bộ, phải học, phải tự cải tiến, phải suy nghĩ, phải yêu thương, phải sống”. (Trích Di chúc để lại cho lịch sử của Victor Hugo)


 


Victor Hugo là một đỉnh cao trong văn chương Pháp. Một tấm tranh minh họa đã vẽ Victor Hugo, một chân đặt trên tháp Eiffel, một chân đặt trên chồng tác phẩm cao ngất của mình. Như vậy đủ hiểu sự nghiệp văn chương của Victor Hugo lớn lao, phong phú biết chừng nào!


 


Chúng ta từng biết tứ trụ của văn chương lãng mạn Pháp là Lamartine, Alfred de Vigny, Alfred de Musset và Victor Hugo. Victor Hugo là cây bút đa tài nhất. Bốn thi phẩm Le Lac của Lamartine, Nuit de Mai của Musset, La Maison du Berger của Vigny và La Tristesse d’ Olympio của Hugo, là bốn cách nhìn nghệ thuật về quan hệ giữa con người và thiên nhiên...


 


Đã có những buổi diễn giảng về văn hào Victor Hugo của nhà nghiên cứu phê bình Bertrand hồi xưa là giám đốc học vụ toàn Đông Dương. Người đến nghe chen nhau ngồi chật cả giảng đường đại học (đường Lê Thánh Tông bây giờ), ngồi trên ghế, ngồi dưới sàn, ngồi ngoài hành lang, ngồi trên các tầng lầu lan can, đông đảo hơn khán giả Nhà hát TP. Khi diễn giả trình bày bài thơ Khi cháu nhỏ xuất hiện... (Lorsque l’enfant parait...). Rồi bài Nói với cô dâu trẻ (À une jeune mariée) thì những tràng pháo tay nổ vang không dứt...


 


Những buổi diễn giảng ấy quả là những ngày hội văn chương. Đối với các thế hệ đi học trường Pháp - Việt ngày ấy thì sự hâm mộ văn hào Victor Hugo là đương nhiên.


 


Điều đáng chú ý là đối với lớp người bình dân ít học, hoặc chưa từng cắp sách đến trường họ cũng biết, cũng ái mộ, cũng khâm phục văn hào Victor Hugo. Ấy là vì các nhà trí thức, các nhà văn bằng dịch thuật, bằng phóng tác, bằng chuyển thể thành vở diễn sân khấu... đã đưa các tác phẩm đặc sắc của Victor Hugo đến với họ và họ gặp ở Victor Hugo những ý tưởng, tình cảm, số phận rất gần gũi với họ, những người Việt Nam.


 


Lý do dễ hiểu: Người Việt Nam rất coi trọng gia đình, những tình cảm gia đình có một vị trí rất quan trọng trong lòng người Việt Nam, lấy vợ, gả chồng, sinh con... là những niềm vui của gia đình Việt Nam. Với những tình cảm ấy, người Việt Nam gặp ở Victor Hugo một tâm hồn đồng điệu.


 


Nhưng có lẽ đáng nói nhất là cuốn tiểu thuyết Les Misérables. Cuốn Lịch sử văn chương châu Âu (Nhà Xuất bản Hachette 1992) viết: Ngày 31 tháng 5 năm 1885 hai triệu người dân Pháp và trong số đó có các đoàn đại biểu công nhân của cả nước Pháp tiễn đưa tác giả Les Misérables đến nơi yên nghỉ cuối cùng: Điện Panthéon.


 


Chỉ một câu ấy thôi đã chứng minh đầy đủ và hùng hồn giá trị của tiểu thuyết Les Misérables đối với công nhân lao động nói riêng và nhân dân nói chung.


 


Tiểu thuyết Les Misérables được dịch ra khá sớm ở Việt Nam với cái tựa đề Những kẻ khốn nạn, dịch giả là Nguyễn Văn Vĩnh. Tiếp xúc với tác phẩm thì các độc giả Việt Nam vốn giàu lòng trắc ẩn thương người như thể thương thân, lập tức động mối thương tâm. Vì những Jean Valjean chỉ vì nghèo túng mà trở thành đạo tặc, tội phạm, xã hội Việt Nam cũng có. Và những Fantine hiền lương bị mắc hợm sở khanh rồi thành gái điếm bán thân xác lấy tiền nuôi con, những Cosette mồ côi tuổi còn thơ dại, đã phải làm tôi đòi, để cho người bóc lột ngược đãi, những Gavroche không cha mẹ, không nhà cửa phải cầu bơ cầu bất lang thang só chợ đầu đường... những thân phận đáng thương ấy cũng không thiếu trong xã hội Việt Nam. Thực là “Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”.


 


Riêng với quân đội Việt Nam vào những ngày tham gia rào làng lập chiến khu chống phát xít Nhật đầu năm 1945, những ngày dựng chiến lũy trên đường phố Hà Nội ngăn cản chiến xa Pháp cuối năm 1946 và những ngày chống càn trong thời kỳ kháng chiến, luôn luôn tái hiện trong ký ức chương tiểu thuyết Les Misérables có nhan đề Bản anh hùng ca Phố Saint Denis, hình ảnh của Enforas và các đồng chí, tái hiện lại những câu thơ của Jean Prouvaire:


Nhớ không em quãng đời êm đềm của chúng ta/ Khi chúng ta cả hai đứa còn rất trẻ/ Và trong lòng không có ước vọng gì khác/ Chỉ là được có quần áo lịch sự và được yêu đương.


Nguồn: Internet

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những nhà tù “ế ẩm” - Tư liệu 13.07.2017
Nhà thờ Chánh tòa nguy nga nhất Italia: Duomo ở Milan - Tư liệu sưu tầm 13.07.2017
Vành đai và Con đường dưới góc nhìn địa chiến lược - Joseph S. Nye 12.07.2017
30/11/1917: Đức chúc mừng Cách mạng Tháng Mười Nga - Tư liệu sưu tầm 08.07.2017
Ngày 08/07/1918: Ernest Hemingway bị thương trên Mặt trận Ý - Tư liệu sưu tầm 08.07.2017
Nỗi đau của chàng Vecte (Werther) & Faust - Johann Wolfgang von Goethe 07.07.2017
Văn hóa Ẩm thực: 18 địa chỉ ăn ngon, sạch nhất Sài Gòn và vùng phụ cận - Triệu Xuân 07.07.2017
Thần thoại Hy Lạp (14) - Nguyễn Văn Khỏa 07.07.2017
Thần thoại Hy Lạp (13) - Nguyễn Văn Khỏa 07.07.2017
18/12/1972: Nixon tuyên bố ‘Đánh bom Giáng Sinh’ Bắc Việt Nam - Tư liệu sưu tầm 30.06.2017
xem thêm »