tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19376829
31.01.2012
Vũ Bằng
Cười Đông cười Tây, cười kim cười cổ (3)

Ích lợi của tiếng cười


Đã biết khóc lóc và cáu kỉnh có hại, ta cũng phải biết cười thì có ích lợi gì.


Ngày từ thời thượng cổ, người Á Đông đã hiểu rõ giá trị của tiếng cười. Người đàn ông dễ lấy vợ vì biết cười:


Chẳng tham nhà ngói rung rinh,


Tham về một nỗi anh xinh miệng cười.


Con gái dễ lấy chồng cũng vì cái cười:


Mình về mình nhớ ta chăng,


Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.


Miệng cười đáng giá mấy mươi,


Chân đi đáng nén, miếng cười đáng trăm.


Các cụ đã đánh giá một tiếng cười là một ngàn vàng (nhất tiếu thiên kim). Điều hành cho cái cười ngàn vàng, làm mất nước khuynh thành là cái cười của nàng Bao Tự đời Đông Chu.


U Vương lấy được nàng Thân Bao Tự, yêu chiều đủ các cách mà không bao giờ nàng được vui, không ai thấy nàng cười. Vua U Vương bèn truyền cho quần thần ai tìm được cách gì làm cho Thân Bao Tự cười thì có thưởng. Một người tìm hiểu, biết là Thân Bao Tự thích nghe tiếng xé lụa. Nguyên có một hôm nàng cung phi ấy xé tan hai tấm lụa của Hoàng hậu ban cho người đưa tin Hoàng tử vì nàng mà bị vua cha đày đi nơi xa. U Vương bèn cho cung nữ thay phiên nhau xé mỗi ngày một trăm tấm lụa, bấy giờ Thân Bao Tự mới hơi tươi nét mặt lên. Một gian thần khác nghĩ một kế khác để làm cho Bao Tự cười. U Vương và Bao Tự ngự lên đỉnh Ly Sơn bày tiệc rượu ăn uống vui vẻ. Đến nửa đêm, U Vương truyền đốt lửa sáng rực trời; đồng thời chiêng trống nổi lên ầm vang một góc trời. Các nước chư hầu ở gần đấy thấy hiệu lửa và chiêng trống tưởng là có giặc, bèn lập tức theo lời cam kết đem quân đến cứu.


Nhưng đến nơi chẳng có gì cả. Mặt người nào người nấy đớ ra, làm cho Bao Tự cười như nắc nẻ. Vua U Vương thấy thế, sướng quá, ban khen kẻ bày mưu và thưởng cho một ngàn lạng vàng. Nhưng cũng vì câu chuyện cười này mà sau đó các chư hầu không còn tin tưởng ở U Vương nữa và do đó U Vương mất nước.


***


Cũng trong truyện Tàu, có ghi một cổ tích như sau: Ngày xưa có một cô gái con quan rất xinh đẹp, nhưng nghiêm nghị không bao giờ cười. Hàng ngày, cô ta cưỡi ngựa đi vào rừng thưởng hoa. Các văn nhân sĩ tử buông lời chọc ghẹo nhưng cô gái cứ trơ như đá vững như đồng. Sau rốt, bọn văn nhân sĩ tử bèn đố nhau ai làm cho cô gái cười thì sẽ được thưởng rất trọng hậu.


Không ai giựt được giải. Sau cùng, có một chàng cam đoan làm cho cô gái cười. Anh ta đứng giữa con đường cô gái vẫn thường cưỡi ngựa đi qua, chờ đúng lúc ngựa sắp tới thì lấy dây thừng quấn vào cổ và siết chặt lại. Mặt anh ta đỏ lên, lưỡi lè ra, hai mắt trợn ngược, chỉ còn tròng trắng. Thấy thế, cô gái bật cười.


Nhưng đến lúc ngựa cô ta đi khỏi, anh em xúm lại để hoan hô người thắng cuộc và trao tặng thưởng thì… anh ta hết thở từ bao giờ rồi!


***


Rabơle (Fançois Rabelais) một nhà tu về dòng thánh Bơnoa (Benoil), chuyên viên mổ xẻ, kiêm văn sĩ, mục sư, vì hiểu biết hơn ai giá trị của tiếng cười nên chủ trương “dùng cái cười để trị bênh”. Ông cho rằng phàm người bệnh mà vui luôn, đừng nghĩ ngợi về bệnh tật của mình, đừng sầu khổ thì bệnh chóng lành.


“Tiếng cười trị bệnh” ấy, sau này, được người ta kêu là tiếng cười “rabelaisien”. Ngoài ra, ông còn phát minh ra một cách cười cợt suồng sã để “xả hơi” sau những giờ làm việc mệt mỏi trí óc, kêu là “rabelaiscrie”.


***


Bác sĩ Nhật, Nhĩ Mộc Khiêm Tam, đồng ý với các bác sĩ Âu Mỹ cho rằng “muốn sống lâu lúc nào người ta cũng phải tươi cười vui vẻ”. Cho nên trong thơ văn, tự cổ chí kim, ai cũng hoan nghênh, cổ vũ cái cười, mà một thí dụ gần đây nhất là bài thơ “Cười đi thôi” của Tú Mỡ:


Đời người mấy chốc chị em ơi!


Ủ rũ làm chi! Sống cũng hoài!


Đang dẩu chau mày đừng vội mếu,


Chết dù đến cổ vẫn nên tươi,


Khóc than vô ích, can chi khóc,


Cười ngất làm vui, cứ việc cười!


Muốn cuộc sinh tồn hăng hái mạnh,


Cười lên ha hả! Cười đi thôi!


Trở lên trên là ích lợi của cái cười trong sử sách. Còn ích lợi của cái cười trên thực tế thì sao? Trong tất cả các nhà văn khảo cứu về cái cười từ trước đến nay, riêng nói về phía ích lợi của cái cười, tôi thấy nhà văn Thu An họ Vũ là người sưu tầm được nhiều tài liệu nhất.


Theo nhà văn họ Vũ, người Hàng Bạc (Hà Nội), thì cười có ích lợi về sinh lý, về thực tế, về vệ sinh, về xã giao, về thương mại, về y học, về nghề nghiệp, về tâm lý, về tôn giáo…


Dưới đây, xin ghi lại những nhận xét của ông Vũ Thu An về mấy khía cạnh nói trên:


A- VỀ SINH LÝ: Người nào rất mực sung sướng, rất mực lọc lõi, như ông già, bà cả chẳng hạn thì chỉ mỉm cười hơn là cười. Nếu bước được lên cõi ấy thì có lẽ chúng ta cũng không cần cười nữa. Nhưng phần nhiều chúng ta cần phải hài hước, để mỉm cười, để cười ngất, để cười thầm cho thần trí được giãn ra một cách có hiệu quả.


Có lẽ cười là một cách độc nhất, phóng thích tự nhiên trong những lúc thần kinh con người bị căng thẳng. Bởi vậy, người ta chỉ buồn ngủ vào những lúc trạng thái căng thẳng đã qua đi rồi. Trạng thái căng thẳng về vật chất cũng như về tinh thần bao giờ cũng đi đôi với trạng thái căng thẳng của các bắp thịt, nhất là những bắp thịt ở bụng, ở ngực, kèm theo cả cái thở hổn hển nữa.


Thở ra nhiều là triệu chứng làm cho thần kinh được phóng thích rất mau chóng. Cười làm giãn lần lần hoành cách mô nằm ngang mình ta, ngăn bụng và ngực ra làm đôi. Trong khi người ta thở mạnh, bắp thịt to lớn ấy mới không bị kiềm chế mảy may gì nữa. Mà chỉ có hoành cách mô được giãn ra như thế, hợp với sự hô hấp rất mạnh, mới có thể làm cho trạng thái căng thẳng trong người biến đi từ gốc. Sự hô hấp lấy lại được tiết điệu, vừa điềm tĩnh vừa sâu xa. Lúc bấy giờ dưỡng khí mới được vận chuyển trong khắp thân thể người ta một cách nhẹ nhàng hơn trước.


Nụ cười có phép màu nhiệm biến đổi thái độ tức giận, hung hăng thành ra ôn hòa, nhân đạo. Văn hào Vonte (Voltaire) chế giễu thuyết lạc quan bao nhiêu thì Lépnít (Leibniz) cực lực phản đối lại bấy nhiêu. Sau Vonte phải thú nhận:


“Tôi phải gượng vui cười vì người ta nói vui vẻ có ích lợi cho sức khỏe”.


Nếu đang cơn tức giận, ta cố mỉm cười tức thì mặt mày tươi tỉnh lại, các bắp thịt giãn ra, cổ thông thoáng, hô hấp nhẹ nhàng, tống các chất độc ra ngoài, làm cho máu lưu thông, chứa đầy sinh khí, lục phủ ngũ tạng trở lại thăng bằng, trí óc minh mẫn.


Như khi thấy con trai Víchtôriô (Victorio) kiêu hãnh rởm, cố thủ tướng Muýtsôlini (Mussolini) nổi trận lôi đình, nghiến răng ken két, thình lình phá lên cười, vang dậy cả một gian phòng.


B- VỀ THỰC TẾ: Kể các sinh vật ở đời, duy chỉ có con người mới tự cảm thấy mình là thừa, là bị thất vọng. Cũng bởi con người sanh ra để chịu thất vọng, nên mới thành ra hài hước.


1. Cười rèn luyện con người chịu đựng bền bỉ hơn trước những điều ngăn cấm, áp chế trong cái xã hội điêu toa này.


2. Cười gọt giũa con người, gây lấy lòng tự tin. Vì người ta cảm thấy mình thấp kém nên mới sinh ra buồn tủi. Trong khi ấy, nếu người ta bật lên được tiếng cười thì mọi nỗi hậm hực, tấm tức chất chứa trong lòng sẽ tiêu tan hết.


3. Cười đưa con người đến chỗ biết nhìn sự vật bằng cặp mắt khinh khỉnh.


4. Cũng có người cười để thỏa lòng oán hận, mà họ không thể bộc lộ ra bằng cách khác được.


5. Cười giúp con người tự cảm thấy am hiểu sâu xa cuộc đời.


6. Nhiều kẻ anh chị, chuyên chơi “cửa cha” thù ghét, oán giận mọi người. Họ luôn luôn dùng tiếng cười mai mỉa để trút bớt nỗi độc ác, oán hờn nặng trĩu trong lòng. Họ ghét cay ghét đắng sự hài hước đâm gan, chọc tiết.


7. Người bị thiệt thòi dùng tiếng cười để đối phó lại với tự ty mặc cảm.


“Bật lên được một tiếng cười thì trời đất cũng coi như không - Nhất tiếu thiên, địa không”.


Dầu cách gì đi nữa thì cười cũng là một cách phóng thích trạng thái căng thẳng ở trong người ra ngoài, mà cũng là cách giúp đỡ người ta chịu đựng những nỗi khó khăn hàng ngày:


“Cười là một chiến thắng đột ngột”.(1)


vì:


“Cười là sự phóng thích lý tưởng”.


Chẳng thế văn sĩ Anh kiêm chính trị gia Sếttơphin (Comte Chesterfield) khuyên bảo con trai:


“Không có gì mất dạy hơn là cái cười xỏ xiên lộ liễu”.(2)


vì:


“Một cái cười thầm cũng ví như hơi nước ở trong người bốc ra ngoài là tốt lắm rồi”.(3)


Nhà bác học Bécsơn (Bergson) cũng phải nhận:


“Còn gì làm cho người ta nguôi giận bằng tiếng cười nữa”.(4)


Phương ngôn ta cũng có câu:


Chồng giận thì vợ làm lành


Miệng cười hớn hở rằng anh giận gì?


Thế kỷ mười lăm, thi sĩ Vilông (Villon) đã sống một cuộc đời bấp bênh, tù tội.


Thi sĩ ăn mặc rách rưới quá tên ăn mày. Trong các cuộc du ngoạn, vì bộ cánh, thi sĩ đến đâu cũng bị xua đuổi.


Một buổi chiều mùa đông kia, tuyết xuống trắng xóa cánh đồng và mặt đất. Thi sĩ đi suốt ngày mệt lử, lại đói và rét nữa, bèn vào một làng hẻo lánh nọ để xin trú tạm một đêm. Dân làng, thấy bóng thi sĩ tiều tụy quá, hò nhau đánh đuổi.


Một người hét lớn:


- Mi khôn hồn thì bước đi ngay, kẻo không chúng ta thả chó ra cắn chết mi.


Tức thì Vilông ngồi xuống đất nhặt đá ném chó, nhưng vì tuyết xuống đóng thành băng nên không thể nào cậy được một hòn sạn, một cục đá.


Buồn rầu, thi sĩ Vilông nói:


- Cái làng này thật quái ác. Chó thì thả, đá thì giam lại.


Nghe thấy thế, dân làng cả cười, cho thi sĩ là người kỳ cục, bèn hỏi nguyên do. Biết Vilông là thi sĩ nghèo, họ quên cả giận, mời thi sĩ vào làng, mời ăn cơm uống rượu và cho một cái giường êm ấm để nghỉ ngơi.


C- VỀ VỆ SINH: Về phương diện vệ sinh, cười giữ một vai trò quan trọng.


Tiếng cười là một vị thuốc thần tiên, truyền một luồng điện vào thân thể, làm cho người lười biếng bỗng hoạt động lên, tâm hồn ủy mị sáng suốt ra, linh lợi hơn, xua đuổi những nỗi lo phiền cùng những ý nghĩ vẩn vơ.


Nhiều người muốn cho thân hình được cân đối, ngày ngày ra công luyện tập thể dục và hô hấp, nhưng ít ai chịu lưu ý tới ảnh hưởng vật chất do tiếng cười gây nên. Các thầy thuốc nghiệm rằng trong khi cười, không khí mát mẻ lùa vào lau chùi sạch hai lỗ mũi, nên người nào cười nhiều thì ít bị cảm mạo phong hàn.


Trong khi cười, các cử động đều hoàn toàn vô trật tự, không ăn khớp với nhau, nhưng một khi nó đến bất thình lình thì tiếng cười là một thứ kích thích vô cùng công hiệu, là một chất nổ cực tốt có cái mãnh lực làm nổ tung, bất cứ lúc nào, các sinh lực tiềm tàng ở trong con người.


Có lẽ cũng vì kinh nghiệm bản thân thấy thế nên văn hào Huygô (Victor Hugo) đã viết:


“Khi nào cười thì tôi mới độ hai mươi nhăm tuổi, nhưng lúc buồn rầu thì không khác gì ông lão lụ khụ sáu mươi”.(1)


Mặt khác, các nhà y học lại cho cười là một thứ bệnh truyền nhiễm rất cần cho nhân loại, không những cười cho mình, lại cười cho người để gieo rắc cái vui ra khắp chung quanh.


Đã có một văn sĩ ví tiếng cười như một số tiền đặt lãi, nghĩa là cười cũng giá trị như đồng tiền:


“Tiếng cười ở trong người thì chửa, ra khỏi cửa miệng thì đẻ”.


Sách sử thuật rằng chính phủ Đức, có thời khuyên nhân dân nên lập nhiều hội cười.


Người Nhật gặp sự đau đớn thì cười cho người chung quanh không phải vì mình mà giảm mất thú sinh hoạt. Bởi thế, họ có cái cười lễ phép. Cái cười ấy là nước men tráng ngoài để che đậy mọi nỗi buồn rầu, thất bại, khinh bỉ, mê hoặc, bối rối, đau đớn. Cái cười ấy tuy không bao hàm cái ý thân thiện thực, nhưng ta cũng không nên vội gán cho nó cái danh hiệu giả dối, vì nó không có ý gì là kình địch cả. Nó chỉ là biểu hiện chế ngự tâm tình để giữ lòng tự tôn, tự đại. Muốn cho dịu vết thương lòng thì lúc vắng vẻ họ mới phó mặc tấm thân cho “dòng lệ, lời than”.


Lý Bạch đời Đường há chẳng đã viết: “Mắt với mày đẹp như trăng, khi mỉm nụ cười, khắp cả thành đều vui” (Mi, mục điểm hiệu nguyệt, nhất tiếu khuynh thành hoan).


Khi nào sợ hãi, hoặc tức thở, hoặc toan tính một việc gì ám muội, ta nên cười vang và cười tràn trề thì mọi vật sẽ biến ngay ra hơi, trước khi thoát khỏi cửa miệng; tức thì những tư tưởng đen tối sẽ bốc ra ngoài hết.


D- VỀ GIAO TẾ: “Mới gặp nhau lần đầu, chỉ một nụ cười cũng có thể làm vừa lòng người ta được”. Đó là câu nói của Cácnêgi (Dale Carnegie).


Có lẽ tổng thống Rusơven (Roosevelt) đã thực hành thuyết ấy nên có tiếng là “người Mỹ có nhiều bạn nhất”. Chính thân phụ ông là Théodore Roosevelt cũng đã nức danh một thời là “người có tài thu phục nhân tâm”. Các cụ ta cũng khuyên nên lấy cái cười làm đầu sự xã giao nên viết: “Nhân thế tao phùng khai khẩu tiếu”, nghĩa là:


“Người đời gặp nhau là nhoẻn miệng cười”.


Cũng trong tinh thần ấy, bác sĩ Pôxê (Victor Pauchet) đã viết:


“Anh hãy mỉm cười với đời trước đi, rồi đời sẽ cười lại với anh”.(1)


Người Nhật lúc nào cũng có vẻ mặt tươi cười, cử chỉ nhã nhặn, nên rất được cảm tình với các dân tộc khác.


Thật đúng với câu của Pôxê:


“Đời là một tấm gương phản chiếu hình dáng anh. Nếu anh tươi cười thì nó cũng hớn hở, nếu anh nhăn nhó thì nó cũng cau có lại với anh”.(2)


Chúng ta đã từng đụng chạm nhau nhiều trên đường sinh kế. Nếu không có nụ cười làm cái đệm rất êm dịu bằng không khí để chống đỡ sự xô xát hàng ngày thì đời chỉ là một vòng chuỗi xúc xích tết bằng những vòng cãi nhau, đánh nhau, giết nhau liên miên. Có lẽ vì nghĩ như thế nên Banzắc (Honoré de Balzac) đã có lần viết:


“Đau khổ không bờ bến, nhưng vui sướng thì có giới hạn”.(3)


Đ- VỀ Y HỌC: Cười không những tránh cho ta các bệnh hiểm nghèo như trên đã biết, lại còn sức huyền bí chữa được bệnh nữa. Một danh y Thái Tây đã nói:


“Nếu ai cũng hiểu tiếng cười là một vị thuốc thiên nhiên có thể chữa được rất nhiều thứ bệnh thì một số đông thầy thuốc phải giải nghệ”.


Một bằng chứng: tiếng cười đã chữa được bệnh thần kinh cho nhà bác học Bécsơn (Bergson). Vì bóp trán, đào óc nhiều quá, thần kinh hệ của ông bị suy nhược, lắm khi tê liệt hẳn đi, đầu óc do đó sinh ra choáng váng. Thầy thuốc bắt ông phải gác những điều thắc mắc ra ngoài cõi lòng. Theo lời căn dặn của các thầy thuốc, tối nào ông cũng lần đến các rạp hát xem kịch vui cười cùng các điệu nhảy múa. Không bao lâu, tiếng cười có sức mãnh liệt nhổ hết căn rễ bệnh ông.


Ở nước Anh, máy phóng thanh đọc oang oang chương trình hàng tuần cho những người ốm nằm ở các bệnh viện, dưới những đầu đề như: “Các bạn hãy tạo lấy nụ cười” hay “Các bạn cười đi!”.


Các công việc ấy không những chỉ giúp suông cho những người ốm nằm liệt giường được nhiều phương tiện khoan khoái về thể xác, nhưng còn đưa lại cho tâm hồn họ nguồn hy vọng: chữa khỏi bệnh nữa.


Bởi vì ngoài việc các bác sĩ và nữ khán hộ trông nom chu đáo cùng thuốc men đầy đủ ra, họ còn phải cần đến cả thứ linh đan tiếp tế và làm tròn công việc của y tế nữa: lạc quan, tiếng cười.


Một người bệnh mà cười là người bệnh yêu đời và sắp sửa khỏi. Một người bệnh kiên nhẫn, cương quyết huy động tất cả những tiềm lực ở trong người ra chống lại những chứng bệnh hiểm nghèo đang giày vò xác thịt họ thì người ấy có thể đổi chết ra sống được.


Lại cũng có trường hợp: một người đau nặng, lúc hấp hối bỗng bật lên cười, rồi bông đùa làm cho cha, mẹ, vợ, con, bè bạn… xúm xít chung quanh với nét mặt “đưa đám” thình lình trở lên tươi tắn, chứa chan hy vọng. Làm như thế, họ đánh thức được tất cả những sinh lực còn sót lại ở trong mọi cơ thể. Người ta đã được chứng kiến nhiều cuộc cải tử hồi sinh huyền ảo như thế. Nói về các cuộc hồi sinh như thế, người Pháp có câu: “Tinh thần của y cứu sống y” (Son moral l’a-sauvé).


Tuy nhiên ở đời cái gì thái quá cũng đều có hại. Riêng về cái cười cũng vậy. Cười nhiều quá cũng có thể làm cho người ta ngạt hơi, tắc thở, chết không kịp ngáp. Cái chết nhanh chóng của một vị khai quốc công thần đời Đường, Trình Giảo Kim, là một bằng cớ chứng tỏ cười quá nhiều cũng có hại. Chắc các bạn đọc “Thuyết Đường”, “Chinh Đông Chinh Tây”, “Tàn Đường”, hãy còn nhớ câu chuyện ấy:


Trình Giảo Kim, sau khi dẹp đông phạt bắc xong rồi, một hôm kia ngồi vuốt hàm râu bạc, kể lại cho con cháu nghe chuyện ngày xưa.


Tự phụ là trong tất cả anh em chỉ còn có một mình sống đến ngày nay, sống lâu hơn cả vua Đường Thái Tôn cùng các bạn đồng liêu như Từ Mậu Công, Ngụy Trưng, Tấn Thúc Bảo… ông đắc ý cười rũ rượi, đến nỗi sặc hơi, lăn ra chết.


Một chuyện gần đây hơn:


Về đời Tống, có một viên hổ tướng nhảy xuống sông bắt được một viên tướng nhà Kim tên là Ngột Truật. Viên tướng nhà Tống ôm chặt Ngột Truật vào trong tay, làm cho Truật không cựa quậy được, bèn cười khanh khách đến nỗi chết lúc nào không biết. Tương truyền tướng ấy là Ngưu Cao.


Dưới đây là mấy chuyện phương Tây:


Vua nước Ba Tư là Xêxéc (Xercès) và thi sĩ Hy Lạp Philêmôn (Philémon) chết vì cười quá độ, chết ngay tức thì vì được dân chúng hoan nghênh dữ quá.


Nghe tin ba con trai toàn thắng trong thế vận hội, thi sĩ Hy Lạp Diagôra (Diagoras) tưởng chừng mình bay lên bảy tầng mây, mừng quá, chết ngay đứ đừ.


Mẹ nhà hiền triết Lépnít (Leibnitz) tìm thấy số tiền sáu mươi vạn quan ở đầu giường ông chủ vừa qua đời, sướng quá, cười sặc sụa mà chết.


Những chuyện như thế rải rác rất nhiều trong lịch sử.


Gần đây hơn nữa ở Hung Gia Lợi có một hội cười lập tại thành Đờbơrôdui (Debreeziu). Hàng tuần, các hội viên họp nhau lại thảo luận và mỗi hội viên bắt buộc phải tìm một truyện kể cho các đồng chí nghe. Họ cười như phá, chung quanh hàng xóm không chịu được, phải nhờ nhà chức trách can thiệp. Nhưng không có luật nào cấm người ta cười nên các hội viên hội cười kia lại càng được thể làm già. Căn cứ vào lời phê của thầy thuốc “cười nhiều có hại cho sức khỏe”, nhà nước giải tán hội cười nói trên.


Lại một chuyện nữa mới xảy ra hồi 1951:


Tại thành phố Mi Lăng (Milan) nước Ý có một bà vạm vỡ, sức lực quá cỡ. Bà to béo đến nỗi bề ngang so với bề cao không chênh lệch nhau mấy tí. Bà ngắn ngủn chẳng khác cái bồ sứt cạp. Bà đang ì ạch cố phóng nước đại cái xe đạp chắc chắn nhất trên con đường nhựa. Đôi bánh cao su ngoại hạng đang rên xiết dưới sức đè nén của hơn ba trăm ký thịt, thì bỗng xe mất thăng bằng, bà ngã đánh “oách” một cái xuống đất như trời giáng, giơ bốn vó lên trời. Bà ta nặng quá cỡ, loay hoay mãi cũng không sao ngồi dậy được.


Đồng thời, một chiếc xe đạp khác vào hạng nhẹ đang bon bon tới, vấp phải “chướng ngại vật” đổ lăn chiêng ra, hất tung người đàn ông ngồi trên xe lộn ngược lên trời thành một vòng bán nguyệt rồi mới lao xuống nằm gọn thon lỏn vào trong váy bà kia. Ông ta hì hục, lúng túng mãi ở trong “bốn bức màn buông” có hai cột thịt căng ra, gió thổi phập phồng.


Chỉ riêng không may cho bác phó Văngđê (Vandei Lupini) vừa tới đấy, được mục kích tấn hài kịch có một không hai ở đời. Văngđê khoái quá, phá lên một trận cười rũ rượi, bò lê bò càng ra vỉa hè đến nỗi nín hơi, tắc thở mới thôi.


E- VỀ TÂM LÝ: Ngày xưa, ở bên Pháp, kịch sĩ lừng danh Môlie (Molière) vì không chịu nổi những cái lố lăng, sa đọa của đồng bào, đã gom góp những thói dở, nết hư trông thấy hàng ngày viết thành những tác phẩm bất hủ rồi đưa lên sân khấu chế giễu trước hàng vạn triệu con mắt tò mò. Suốt đời gặp toàn những thất bại, đau khổ, chua chát, lại thêm tấm thân nay đau, mai yếu, vai hề lừng danh ấy đã làm cho nhân loại phải cười ngặt ngoẽo.


Ông đang diễn tuồng “Bệnh tưởng” lần thứ tư ở trên sân khấu, bỗng gục xuống rồi thổ huyết mà ngất đi giữa những chuỗi cười tưởng chừng như vỡ rạp của khán giả hoan hô nhiệt liệt ông. Người ta vực ông về được đến nhà thì ông tắt thở. Người đọc truyện đến đây không khỏi nhớ lại một câu Kiều:


Nói cười trước mặt, rơi châu vắng người.


Tác giả cuốn truyện trẻ con, Suýt (Swift), là một trong những đại biểu rất lỗi lạc cho phái nhà văn trào phúng nước Anh.


Toanh (Twain) là một nhà văn khôi hài nổi tiếng của Mỹ trong thế kỷ hai mươi.


Trong văn giới nước nào cũng vậy, số nhà văn hoạt kê, phúng thế rất nhiều. Trong các nhà văn có hạng của Pháp, ta phải kể Boalô (Boileau), Vôten (Vautel), Đờ Laphuxađie (De Lafouchardière) và những nhà văn mới như Buđơlanh (Buzelin), Bêna (Pierre Bénard) và Trênô (Tréno) trong báo “Con vịt buộc” (Canard enchainé).


Ở Á Đông, về đời Hán Vũ Đế bên Tàu, Đông Phương Sóc là thủy tổ văn khôi hài châm biếm, phá phách. Ngày nay, điển hình Đông Phương Sóc, người Tàu thường vẽ một ông già đầu râu tóc bạc ngậm một cành có ba trái đào, mắt lúng la lúng liếng, còn một tay thì xỏ giày (áng chừng vừa mới trèo tường ra). Tản Đà đã có câu:


Ăn trộm đào, toan học thói người xưa.


Ra cái ý Đông Phương Sóc vui nhộn, không sợ ai cả, dám trèo cả vào công viên của trời hái trái cây ăn và coi chư tiên là “nơ pa”. Theo sách sử, Đông Phương Sóc đã dùng tài hoạt kê để can gián các vua chúa chuyên chế.


Theo sách Sử Ký, ông đã dùng cái cười mà sửa chữa được lòng mê tín nơi tướng thuật cho nhà vua thời đó.


Một hôm, nhà vua bảo quần thần rằng: “Ta xem trong các sách tướng, có đoạn nói người nào nhân trung dài một tấc thì thọ được một trăm tuổi”.


Đứng bên, Đông Phương Sóc bật cười ồm ồm lên.


Các quan cho thế là phạm tội với thiên tử, xin vua nghiêm trị để răn kẻ khác.


Nhà hài hước họ Đông vui lòng trút mũ ra để chịu tội và tâu:


- Muôn tâu thánh thượng, kẻ hạ thần đâu dám vô lễ với Bệ hạ. Hạ thần sở dĩ cười là cười cái mặt ông Bành Tổ đó thôi.


- Ủa, sao lại cười cái mặt ông Bành Tổ?


- Tại vì nó dài quá, dài quá cỡ.


- Tại sao biết?


- Sao lại không! Muôn tâu thánh thượng, tục truyền ông Bành Tổ thọ tám trăm tuổi. Nếu đem câu sách tướng mà Bệ hạ vừa mới đưa ra thì nhân trung ông Bành Tổ phải dài tám tấc. Vậy muốn cho cân đối thì cái mặt kia phải dài tới một trượng, nghĩa là cao từ mặt đất tới mái nhà này mới đúng!


Vua nghe câu khôi hài có lý, cũng bật cười mà tha tội cho ông.


Đây là một chuyện cười cũng thuộc xứ Tàu:


Một hôm, vua Tề Cảnh Công cùng mấy vị cận thần ngự chơi đỉnh Ngưu Sơn. Vua đứng trên một thành cao, nhìn ra một dải non sông gấm vóc, nhà cửa san sát, dân cư đông đúc, bỗng chảy nước mắt xuống ròng ròng. Ngài phán:


- Tạo hóa đa đoan chi mấy! Sao nỡ tâm bắt người ta phải già nua, tuổi tác để một ngày kia lìa bỏ giang sơn tốt đẹp nhường này!


Lữ Sử Không cùng Lương Khưu Cứ đứng bên thấy thế cũng khóc theo.


Riêng Án Tử thản nhiên cười khanh khách.


Vua gạt nước mắt, gạn hỏi duyên do. Án Tử tâu:


- Nếu lấy toàn người tài, người mạnh mà giữ mãi đất nước này thì đâu có đến lượt Bệ hạ được. Có lẽ giờ đây Bệ hạ đang khoác áo tơi, đội nón lá, đi theo trâu cày ruộng, chớ có đâu được rảnh rang như thế này mà lo đến cái chết được. Tạo hóa xoay vần, hết thịnh đến suy, hết suy lại thịnh. Thế mới gọi là bể dâu được chứ. Vì vậy mới đến lượt Bệ hạ. Được thế mà lại chưa lấy làm mãn nguyện, lại còn tham quyền, cố vị thì chẳng hóa ra bất nhân lắm sao? Vua đã bất nhân, lại thêm bầy tôi xiểm nịnh, thì cơ nghiệp lâu dài sao được? Tôi há nín cười được ru?


Vua lấy làm xấu hổ, tự tay rót một chén rượu đầy để tự mình phạt mình rồi lại phạt luôn cả hai viên cận thần a dua nữa.


(còn tiếp)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








(1) La rire est une gloire soudaine.




(2) Rien n’est plus mal élevé qu’un rire perceptible.




(3) Un petit rire sous cape est comme la transpiration, une bonne chose.




(4) Rien ne désarme comme le rire.




(1) Lorque je ris, j’e 25 ans, mais triste, j’e ai 60.




(1) Souriez le premier à la vie, elle vous sourira.




(2) Le monde est un miroir dans lequel vous refléchissez vous - même. Si vous souriez, il vous sourit, si vous lai montrez un visage désaqréable, il vous fait grise mine.




(3) La douleur est infinie, la joie a ses limites.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nói có sách (2) - Vũ Bằng 29.05.2017
Nguồn gốc người Việt - người Mường: Nước Xích Quỷ - Tạ Đức 21.05.2017
Nói có sách (1) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (6) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (5) - Vũ Bằng 18.05.2017
OIJ chấm dứt hoạt động, sự nghiệp OIJ trường tồn - Phan Quang 17.05.2017
Ký ức tháng Tư - Trần Đăng Khoa 02.05.2017
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
xem thêm »