tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21056614
09.01.2012
Vũ Bằng
Cười Đông cười Tây, cười kim cười cổ (2)

Khóc và cáu kỉnh có hại gì? Trước khi nói đến sự ích lợi của tiếng cười, thiết tưởng nên biết buồn rầu hay khóc có hại như thế nào.


Một nhà nghiên cứu về cái cười, ông Ngọc Thuần, sau khi tham khảo nhiều sách vở, quả quyết rằng buồn rầu gắt gỏng có hại về nhiều phương diện: thực tế, sinh lý…


1- VỀ THỰC TẾ: Những “ông cụ non” cố điểm vẻ đạo mạo cho chóng già, tuy gặp điều chẳng đáng quan trọng cũng nhăn mặt lại để cho những nét lo âu in hằn trên trán, trên má. Ấy chỉ là những trò cười để cho thiên hạ giễu cợt:


Người đời có lắm hạng nhãi ranh,


Đạo mạo làm ra mặt lão thành!


Trước mắt long lanh đôi kính trắng,


Dưới cằm lún phún sợi râu xanh.


Đứng ngồi khệ nệ oai nghiêm giả,


Ăn nói màu mè đạo đức tuênh.


Động hé môi ra là thở hắt,


Than cho thế thái với nhân tình.


Tú Mỡ


(Dòng nước ngược)


Sao họ không nhớ lời của D.F: “Nỗi lo âu cũng ví như đứa trẻ mới đẻ, người ta có nuôi nấng nó thì nó mới lớn lên được”.(1)


Vì đời là một chuỗi lo âu, cực khổ nên phương ngôn ta mới có câu:


Gánh cực mà đổ lên non


Cong lưng mà chạy cực còn theo sau.


Tục ngữ cũng có câu:


Lo co đầu gối, lo rối lông…


Cho nên người trầm tĩnh đâm ra chán nản, buồn rầu, mà người nóng tính thì cau có, gắt gỏng. Buồn rầu, gắt gỏng đều rất có hại cho cả thể xác lẫn tinh thần. Vậy ta hãy quẳng gánh lo đi, theo đúng câu tục ngữ:


Lo gì mà lo, lo quanh lo quẩn, lo bò trắng răng, mua ba đồng thuốc nhuộm răng cho bò.


Lại còn câu phương ngôn:


Sự đời để mặc đời lo,


Nghiêng tai giả điếc, gật đầu làm ngơ.


Xanh Toma Đacanh (Saint Thomas d’Aquin) cũng chủ trương:


“Các đấng thánh nhân mà buồn rầu thì cũng chỉ là những thánh nhân tầm thường thôi”.(2)


Có nhiều người hay “đứng thở ngồi than” rất thiệt cho mình. Nhà bác học Phờrăngcờlanh (Franklin) khuyên nhủ: “Một tháng ngồi trách móc, sao bằng một giờ hoạt động. Giờ ấy làm cho lòng ta hể hả và túi ta nặng thêm tiền”.(3)


Phương ngôn ta lại có câu:


Trách thân chẳng dám giận trời


Trách thân lắm lắm, giận trời bao nhiêu!


Nhà văn hào Coócnây (P. Corneille) cũng nói:


“Vui vẻ có ích muôn vàn, còn buồn rầu thì thật là vô dụng”.(1)


Ta cũng có câu phương ngôn tương tự như thế:


Khi vui thì muốn sống dai,


Khi buồn thì muốn chết mai cho rồi.


Đến như thi sĩ Tản Đà lúc nào cũng mặt ủ mày chau, ít khi cười, nhiều khi khóc, mà cũng phải viết một câu:


“Vui vẻ là yếu tố để tạo thành tương lai cho tuổi trẻ, hạnh phúc cho trưởng thành và sự êm đềm cho tuổi già mai hậu”.


Ta cứ xem một cửa hàng mà bà chủ nét mặt lúc nào cũng buồn thỉu buồn thiu, gắt như mắm tôm thì buôn bán làm sao phát tài được bằng một người tươi cười, chào mời đon đả!


Khuyết danh có câu:


“Lòng thành, nét mặt đầm ấm, vui vẻ, lời nói dịu dàng thì thế nào cũng cảm hóa được người ta”.


Vậy, tính toán suy nghĩ trong lúc cau có, thi hành kế hoạch trong khi gắt gỏng thì việc đời dù nhỏ nhặt đến đâu cũng đều hỏng cả. Cho nên mới có câu:


“Xây dựng trong yêu đương, phá hoại trong phẫn nộ”.


Văn sĩ Đótlây (Dosley) căn dặn:


“Trong cơn tức giận đừng làm gì cả, nếu không thì chẳng khác gì giương buồm trong dông bão”.(2)


Phương ngôn có câu:


Chồng giận thì vợ bớt lời,


Chồng giận, vợ giận thì dùi nó quăng.


hay:


Cơm sôi cả lửa thì khê,


Việc đời hay hỏng là lề thế gian.


hoặc:


Chồng thẳng thì vợ phải chùng


Chồng thẳng, vợ thẳng thì cùng đứt dây.


hay:


Ngờ đâu quá giận mất khôn


Khi vui đã vậy, khi buồn làm sao?


Tục ngữ cũng có câu:


No mất ngon, giận mất khôn.


hoặc:


Vội giận mất khôn.


Trong mười bốn điều của văn sĩ Đờcôbơra (Dekobra) khuyên các bạn gái muốn được đàn ông yêu mến thì điều quan trọng nhất là:


Đừng nên cau có, gắt gỏng bao giờ. Lúc nào cũng phải tươi cười.


Mấy câu chuyện dưới đây chứng tỏ giận dữ làm hỏng việc lớn:


Cách đây hơn một trăm năm, nước Pháp có vay của nước Angiêri (Algérie) năm triệu đồng. Nước Pháp đến hạn chưa trả được, mới ủy cho viên lãnh sự Đơvan (Deval) thân hành đến khất quốc vương ngày 30-1-1827.


Chủ nợ nóng đòi, con nợ túng khất lần. Hai bên điều qua tiếng lại thành cuộc cãi lộn. Trong cơn nóng giận, sẵn quạt cầm trong tay, vua Huýtsanh (Hussein) giáng luôn cho viên lãnh sự mấy giá.


Cách đó không lâu, nước Pháp đem chiến thuyền tới đánh phá lung tung rồi chiếm luôn kinh đô Angiê (Alger). Chỉ vì mấy cái giá quạt của nhà vua nóng nảy trong khoảnh khắc mà khiến sáu bảy triệu dân phải lâm vào cảnh nô lệ trên hơn một thế kỷ.


Cho nên châm ngôn Trung Hoa có câu:


“Cái giận vì nóng tính không nên có”


(Huyết khí chi nộ năng bất hữu)


Tục ngữ Anh cũng có câu:


“Người nào không muốn giận là người khôn”.


Trong kỳ Thế chiến thứ nhì, các nhà chính trị quốc tế đều truyền môi nhau giai thoại sau đây, dưới hình thức hài hước:


Năm 1940, nhà lãnh tụ áo nâu Hítle (Hitler) đánh cuộc với thủ tướng Anh Sớcsin (Churchill) xem ai bắt được hết cá trong cái ao kia.


Vốn tính nóng nảy “Trương Phi”, muốn mang ngay túi kinh luân ra đàn áp đối thủ để đoạt giải, Hítle cởi vội bộ áo nâu quăng phắt trên bờ, xắn quần móng lợn, trợn mắt, khoa chân múa tay, nhảy tùm xuống ao làm cho nước bắn tung tóe. Ông rập tây, chụp đông, té nam, tát bắc ầm ĩ cả một góc trời.


Ông rượt con trắm, ne con cá chép, định dồn bắt cả đàn vào một mẻ. Ông tung tăng chạy, nhảy, hò, hét chẳng khác gì thiên lôi nhận được mệnh lệnh trên thiên đình xuống trần làm mưa, gió, sấm, sét.


Trong hơn một tiếng đồng hồ, dưới trận bão “thịnh nộ” của lão đánh cá Hítle, bao nhiêu chú cá lớn, cá bé chui cả vào hang, rúc cả vào lỗ, lẩn tránh ráo để trơ con người nóng nảy, hăng tiết vịt ở dưới ao, bùn, rong, bèo, bắn lung tung cả lên đầu. Rốt cuộc chỉ vớ được mấy con cá ranh.


Còn Sớcsin thì láu lỉnh hơn. Ông tủm tỉm mím môi để khỏi rơi điếu xì gà, đĩnh đạc bước xuống ao, mặc làn khói thuốc tỏa sực nức trên mặt nước. Ông rón rén cầm cái gầu, nhởn nha tát nước. Khi nước đã gần đến bùn, cá lớn cá bé tranh nhau chạy trốn, bắn tóe cả nước lên, ông cũng không thèm để ý. Ông vẫn điềm tĩnh chia ra làm nhiều khoảng, khoan thai lấy đăng, đó ngăn, quây không hề để hở qua lấy một lỗ hổng, rồi lại điềm tĩnh tát. Thỉnh thoảng điếu xì gà vẫn lóe sáng sau lượt tàn trắng xám chiếu xuống nước rung rinh, đưa lên những làn khói xanh nhởn nhơ theo chiều gió. Đoạn, hông đeo giỏ, tay cầm nơm, Sớcsin lững thững bước một, đi úp hết chỗ này đến chỗ khác. Cá càng to càng nằm phơi mình ra đấy, đợi những ngón tay chuối mắn của lão đánh cá điềm đạm đến tóm lấy mang. Cá đủ mọi loại, mọi cỡ đều chui vào thời, trăm con chẳng sai con nào.


Ông rửa chân tay sạch sẽ, đủng đỉnh leo lên bờ, dõng dạc bảo bạn đồng cuộc ngồi thừ mặt, phờ râu, vì thất bại, qua điếu xì gà ngậm trên môi: “Đó, vấn đề như thế đấy!” (That’s the question).


2- VỀ SINH LÝ: Về thực tế, buồn rầu gắt gỏng đã thất bại đau đớn rồi, còn đối với bản thân, buồn rầu cũng ví như cái cây sâu, nó đã không nảy nở ra được, lại còn chóng già, chóng cỗi đi nữa, vì sâu ở trong đục lần làm cho thân cây ruỗng nát ra mới thôi.


Ai ơi trẻ mãi du mà,


Càng lo lắng lắm càng già mất duyên.


và:


Nào khi lòng rượi rượi buồn


Quên ăn, biếng ngủ, kém giòn, mất xinh.


Muốn biết buồn rầu gieo tai, rắc họa cho con người ra sao thì ta chỉ cần liếc mắt đưa qua một đoạn văn ngắn do nhà chuyên khảo về thuyết trường sinh Huyphờlăng (Hufeland) viết dưới đây:


“Buồn rầu rất nguy hiểm cho cả thể chất lẫn tinh thần. Ta thử ngắm một người buồn xem thấy có gì? Kìa họ bắt đầu ngáp, ấy là triệu chứng làm ngăn máu không vận lên phổi được; vì thế quả tim cùng các mạch máu bị hại lây, huyết ứ từng chỗ. Bộ máy tiêu hóa yếu đi, rồi dần dần suy nhược. Trong người mệt mỏi nặng nề, bụng anh ách, tức tối nên lúc nào cũng cảm thấy ưu uất”(1)


Cho nên phương ngôn ta có câu:


Những người chép miệng thở dài,


Chỉ là sầu khổ, bằng ai bao giờ!


và:


Nực cười thầy bói soi gương,


Thầy tu chải lược, người thương bực mình.


Ít lâu sau đây, một số bác sĩ kiêm tâm lý học gia lại đề xướng lên thuyết: buồn rầu gây nên bệnh phát phì.


Muốn chứng minh điều đó, các thầy thuốc nói trên kêu gọi lòng sốt sắng của các bà phát phì (cellulite). Có rất nhiều bà nhiệt liệt hưởng ứng để cho công cuộc khảo sát kia chóng đạt tới kết quả. Các thầy thuốc kiêm tâm lý học gia chọn được hơn một trăm bà.


Sau nhiều cuộc tìm tòi, các thầy thuốc không quên đem so sánh các bà ấy với hơn một trăm phụ nữ bình thường khác, thì mọi người đều công nhận rằng sự phát phì kia bắt nguồn từ mối lo rầu mà ra cả. Muốn giải khuây, các bà ăn quà, ăn bánh bạt mạng, các bà béo ra; muốn hết béo, các bà lo nghĩ nhịn ăn, nhịn ngủ cho ốm, nhưng càng ăn uống thất thường và nhịn ngủ, càng mập hơn và chóng già.


Nguyễn Du, tác giả Kim Vân Kiều, mới ngoài ba mươi tuổi mà tóc đã bạc cũng là vì buồn rầu, suy tư nhiều. Ngũ Tử Tư lo mưu tìm kế để vượt qua cửa ải mà chỉ có một đêm, cả tóc và râu đều bạc.


Hoa Đà, một thầy lang nổi tiếng đời Tam Quốc, vì lo phương tìm kế cứu người, độ thế, mà mặt tuy rất trẻ, tóc bạc phơ cả đầu.


Lo bạc râu, sầu bạc tóc.


Tục ngữ Pháp có câu:


“Người điên vô tư lự thì không bạc đầu”.(1)


Tại tiểu bang Alabama (Mỹ), bác sĩ Hari (Harris) sau khi nghiên cứu kỹ càng đời sống của hai mươi cụ già một trăm tuổi, vừa đây tuyên bố như sau: Muốn sống lâu, cốt nhất phải theo mấy điều kiện sau đây:


a. Vui vẻ để cho tâm hồn thảnh thơi.


b. Ăn uống tiết độ.


c. Nghỉ ngơi cho đủ. Cố tránh sao cho tì đừng hệ, hoặc béo quá.


d. Đời sống cho đầy đủ và phải hoạt động.


Cho đến bây giờ, chưa ai dám quả quyết là có Người Tuyết hay không. Nhưng theo kết luận của một phái đoàn người Anh trèo lên thám hiểm Hy Mã Lạp Sơn năm 1950 thì quả có giống Người Tuyết thực. Vẫn theo phái đoàn ấy, ước độ một vạn người ở rải rác tận đỉnh núi cao, cách mặt đất hai ngàn rưởi thước. Trên đỉnh núi, lúc nào cũng có tuyết phủ trắng xóa. Vì thế khí trời lạnh thấu xương. Thế mà Người Tuyết tuyệt nhiên không có quần áo che thân. Trên mình họ, tuyết đóng nơm nơm, vì đó mới có tên “Người Tuyết”. Họ thường ngậm miệng mà thở hoàn toàn bằng mũi. Cho thế chưa được chắc chắn, họ lại lấy da thú quấn lấy cằm, mồm, quàng qua hai bên quai hàm. Tuyệt nhiên họ chẳng biết yếu đau bệnh tật là gì. Già yếu, tàn tật không thấy nảy nở trong cái xã hội trường sinh, bất lão ấy. Buồn bã, phiền muộn, sầu khổ, hằn học, oán hờn, thù ghét không dám bén mảng, khuấy đục cái không khí thanh cao ấy, chỉ biết kéo dài cuộc đời hồn nhiên, vui vẻ.


Trong các truyện thần tiên, ta cũng thấy các tiên cười chớ ít có ai khóc:


Biết chàng tiên cảnh bao điều sướng,


Hơn cả nhân gian lắm tiếng cười.(1)


(Nguyễn Văn Thọ dịch)


Còn một câu cũng nằm trong tinh thần ấy:


“Trần thế hãn phùng khai khẩu tiếu”.


Tạm dịch:


Ở dưới trần thế, ít gặp việc đáng hé miệng cười.


Phần nhiều các danh nhân trên thế giới ít bước lên được cõi thọ một trăm. Nhà triết học Phôngtơnen (Fontenelle), ăn thượng thọ một trăm, cho biết:


“Tính vui vẻ và cà phê giữ cho tôi tráng kiện luôn luôn”.


Lão thủ tướng Anh Sớcsin tuy đã ngót tám mươi tuổi mà vẫn giữ được đặc tính vui vẻ, trẻ trung của thời niên thiếu.


Nhà bác học Anhxtanh (Einstein), tuy đã bảy mươi nhăm tuổi rồi, mà vẫn còn thích bông đùa với chúng bạn. Lúc nào nhà bác học cũng tươi cười. Cả những khi tranh luận về lý học, giọng nói ông cũng đượm vẻ hài hước làm cho các cuộc hội họp vui như Tết.


Nhân câu chuyện vui vẻ sống lâu, cũng xin kể một câu chuyện nữa ra đây. Có một nhà bác học muốn mở một cuộc điều tra xem tại sao người ta sống lâu. Phóng viên nhà báo chia nhau đi phỏng vấn.


Phóng viên gặp một ông cụ thứ nhất:


- Thưa cụ, năm nay cụ bao nhiêu?


- 103 tuổi.


- Cụ có thể cho chúng cháu biết cái bí quyết sống lâu?


- Không khó gì: tôi không uống rượu, hút thuốc, tôi không đam mê trai gái.


Phóng viên lại hỏi ông cụ thứ hai:


- Cụ năm nay bao nhiêu?


- 110 tuổi.


- Bí quyết sống lâu của cụ?


- Ăn ngủ đúng giờ, lúc nào cũng vui vẻ, không trác táng, không cáu giận.


Ông cụ thứ ba già hơn hai ông cụ trên một chút.


- Bí quyết sống lâu của cụ ra sao?


- Tôi chẳng kiêng khem gì hết: thuốc, rượu, trai gái, cờ bạc, tôi đều chơi tuốt. Không có tiền, tôi chửi đời om lên, bạ ai tôi cũng gắt gỏng sinh sự.


- Thưa cụ, năm nay cụ được bao nhiêu tuổi?


- Tôi ba mươi tuổi!!!


Ta trở lại vấn đề buồn rầu, cau có có hại cho người ta về sinh lý.


Mỗi khi tức giận thì mặt mày cau có, da mặt nhăn nheo vì bị co kéo nhiều nên chóng thành nếp nhăn trước khi tới tuổi già:


Giận chồng mà chẳng bế con


Cha mày làm mất cái giòn của tao!


Nếu giận quá thì thân thể bị co dúm, cổ nghẽn, mặt đỏ bừng hay tái mét, các cơ thể bị xáo trộn, lệch lạc, tim đập mạnh, máu căng lên hay dẹp xuống mà tiết ra một chất độc tàn phá sức khỏe người ta. Cho nên trong lối chơi chữ của Pháp có câu:


“Ne vros enportez pas, vous vous en porterez mieux”.


Tạm dịch:


Đừng cáu chẳng khỏe hơn à?


Tục ngữ ta cũng có câu mà ý nghĩa cũng tương tự thế:


Giận con rận, đốt cái áo


Nộ khí ấy quật mạnh vào mớ dây thần kinh ở trước ngực (plexus cardiaque) làm cho quả tim như thắt lại, hay đập vào mớ dây thần kinh ở bụng (plexus solaire) khiến ruột như đứt ra. Vì thế có câu buồn đứt ruột. Tức giận vô tình đã gây nên bệnh đau tim, đau phổi và đau bao tử.


Trong người ta có ba của báu thiên nhiên là tinh, khí và thần. Mỗi khi cơn giận, buồn nổi lên, nó làm cho tinh hao mòn, khí sụt xuống và thần bạt đi. Vì thế trong đạo Khổng có tám điều then chốt để làm người:


1- Chính tâm: Chữ ở trong sách Đại học, nghĩa là trau dồi, sửa trị cái tâm mình khiến cho đúng vào mức trung chính.


2- Tu thân: Sửa mình theo đạo đức.


3- Thành ý: Tâm ý phải thành thực.


4- Thận độc: Cẩn thận khi vắng vẻ có một mình.


5- Trí ngôn: Nghe điều nói mà hiểu.


6- Trung: Trung thực, thẳng thắn.


7- Thứ: Tha thứ, rộng rãi, khoan dung đối với kẻ khác.


8- Dưỡng khí: Nuôi lấy chính khí của trời phú cho.


Thì ra từ ngàn xưa, người Á Đông đã biết nuôi chính khí là gốc sự sống lâu rồi vậy. Thảo nào các cụ nhà ta ngày trước hầu hết đều có phong độ nhã nhặn, ung dung, tâm hồn lúc nào cũng an vui, thư thái.


Nếu nộ khí ấy xông lên đến cực điểm thì máu chạy quá mạnh đến nỗi mạch máu không chứa nổi, phải bể ra, làm cho người ta có thể chết trong khoảnh khắc. Đó là một vài trường hợp cao áp huyết làm cho người ta chết. Đó cũng là trường hợp của Đô đốc Đông Ngô, Chu Du, bị Khổng Minh chọc tức.


Ông Ngọc Thuận kể thêm một chuyện xảy ra ở nước ta hồi đầu thế kỷ hai mươi.


Tục truyền khi còn ít tuổi, Hồ Xuân Hương mở một hàng nước cho tiện việc tiếp xúc với văn chương trong nước để kén người bạn trăm năm. Nhưng ngán thay, bọn mày râu khi mới bước chân tới cửa quán thì mặt mày vênh váo, nhưng đến lúc ra thì thảy đều lủi thủi như mèo bị cắt tai.


Ông phủ Vĩnh Tường, khi mới lĩnh mũ áo thủ khoa xong, ngất ngưởng cùng em trai tới nộp đơn dự thi. Một tên ở gái từ nhà trong ra, cầm một cái đĩa con đựng mảnh giấy trong chỉ có ba chữ:


Thạch tiên thiên.


Ông phủ Vĩnh Tường xem rồi ngẩn mặt ra, hết cất ngọn bút lông lên môi nhấm lại dằn xuống nghiên. Mãi ông mới viết được mấy chữ:


Thiên thạch nguyên lai…


Thấy ngồi đã lâu mà thí sinh “bết” quá, Xuân Hương bất đắc dĩ phải cho thị tì ra đuổi mát:


- Nếu quan không làm được thì xin mời lại nhà cho khỏi uổng công chờ đợi.


Văn chương chữ nghĩa bề bề,


Thần… ám ảnh cũng mê mẩn người.


Ông phủ Vĩnh Tường thẹn quá, uất khí đưa lên cổ làm nghẹt thở, ngã ra bất tỉnh. Người em trai vội vàng chạy lại cấp cứu và khuyên giải hết lời. Sau người em làm nốt vào bốn chữ trên thành hai câu:


Thiên thạch nguyên lai bản thậm huyền


Nhất chiêu vân, vũ thạch tiên thiên.


Đại ý:


Gốc những hòn đá trên trời sinh ra vốn huyền bí lắm.


Một sớm kia, những hòn đá ấy trải qua mây mưa thì sắc nó sẽ lẫn với da trời, trông như liền nhau vậy.


Đó là liều thuốc tiên làm tiêu tan mọi nỗi uất ức trong lòng ông tân khoa sau này là tri phủ Vĩnh Tường. Ngài hớn hở hơn lúc đại đăng khoa vì hy vọng cái tiểu đăng khoa sẽ kèm theo sau. Ngài vội vàng lấy bút thảo một bài thơ để nộp và đến lúc chấm quyển, Xuân Hương phê cho nhất.


***


Về thế kỷ 15 có một chàng thanh niên quý phái Y Pha Nho tên là Đông Kiriđô (Don Quirido). Một hôm, chàng thất vọng vì tình, sinh ra buồn rầu, chán nản, có ý muốn quyên sinh. Nhưng may có một người bạn thân biết ý luôn ở bên cạnh can ngăn và khuyên anh đi tu.


Chàng bèn tìm một nhà tu hẻo lánh để mau vo tròn quả phúc. Được ít lâu, tâm hồn thanh thản lại, dầu sao nét mặt vẫn còn đượm vẻ buồn, vì chung quanh chàng, từ các thầy tu, người làm, cho đến cảnh vật, đều nhuộm một màu khắc khổ.


Một đêm, chàng buồn rầu đến thất vọng. Bỗng có một vị thần hiện lên trong khi chàng chợp mắt, bảo rằng:


- Ngươi cứ bình tĩnh thì sẽ tìm thấy ý nghĩa cuộc đời dội đến Thiên đàng rất rõ. Ta ban cho ngươi thứ bảo vật này. Trong sáu tháng, ngươi phải theo đúng lời ta dặn thì sẽ thấy kết quả.


Nói xong, vị thần trao cho chàng một cái gương mà bảo thêm:


- Vật này phản chiếu bộ mặt thực của đời. Sáng dậy, ngươi nhìn vào đấy mà cười và cố giữ nụ cười luôn trên môi để cho kẻ khác noi theo.


Ngoan ngoãn nghe lời, chàng ngủ rất ngon lành và đã từ lâu chàng không được ngủ ngon như thế bao giờ. Mở mắt dậy, thấy chim chóc nhảy nhót, ca hát ríu rít trên cành, chàng cười, hát theo, làm náo động cả bầu không khí âm thầm, lạnh lẽo của nhà tu.


Thầy bề trên gọi chàng vào bắt phải tuân theo kỷ luật nghiêm khắc trong tu viện. Chàng nói:


- Thưa cha, đấng Thượng đế đã gieo rắc những mầm vui tươi tận đáy lòng con. Hạt vui tươi ươm từ lâu đâm chồi, nảy lộc tốt tươi. Nay cành lá rườm rà, lại khai hoa kết quả rực rỡ. Vì Người đã ban cho con cái sống vui vẻ ở đời thì lẽ tự nhiên con phải ngắt bông hoa “cười” và hái quả “ca hát” để dâng đấng tối cao.


Từ đó, chàng được tận hưởng cái báu Trời cho, làm cho cả nhà tu, trong vòng một tháng, thành một cõi thiên đàng. Chỉ riêng có thầy bề trên đã nghiêm nghị lại càng nghiêm nghị hơn, vì còn phải lo phương kế tống cổ anh thầy tu trẻ tuổi kia ra khỏi tu viện. Sau cùng, ngài đầy anh ta đến một tu viện mà kỷ luật nghiêm khắc hơn gấp bội. Nhưng trái lại, chàng lại vui cười hơn trước. Chàng không ngờ đã lập được một… đảng “thầy tu cách mạng”.


Bị khép vào tội “vi phạm kỷ luật”, chàng bị kết vào tội “thiêu thân”. Đến khi thầy lên giàn hỏa, nhiều thầy tu khác lăn xả vào cứu đến nỗi mười một đồng chí chết theo.


Đứng trước tình trạng ấy, viên quan tòa kết tội, uất hận quá cũng lăn ra chết nốt.


***


Tại Mỹ quốc, và nhiều nơi khác, người ta coi đời quá quan trọng, chỉ biết vùi đầu vào việc làm tiền. Bởi vậy ít người được hưởng cái thú cười nôn ruột. Gặp điều gì vui vẻ lắm, họ chỉ hơi nhếch mép cười khảy. Cho nên có thi sĩ đã viết:


Có ngàn vàng khôn chuốc lấy nụ cười,


Giàu chung đỉnh không vui thì cũng thiệt…


Chẳng thế các nhà y học vẫn thường nói:


“Kẻ yếm thế là kẻ bị đầu độc cả về thể chất lẫn tinh thần”.(1)


Y học ngày nay khám phá ra rằng: Tức giận làm cho mắt chóng hư. Không những thế nó lại còn làm hỏng lây sang mắt người khác nữa.


Một thí dụ: Cô thư ký nọ làm việc dưới quyền một ông chủ quạu cọ thường thường lại “lên cơn”. Được ít lâu, cô ta đau mắt rồi dần dần trông vào sách thấy lóa hết cả,không phân biệt được chữ gì nữa, bao nhiêu bác sĩ chuyên môn chữa trị cho cô đều chịu thua. Cô đành phải xin nghỉ việc. Dưỡng bệnh trong ít lâu, cô lại trông được rõ ràng như trước.


Lại xin mượn lời của Huyphờlăng để kết luận tạm chương này:“Trong các thú ảnh hưởng rút ngắn đời người ta lại thì có một vài trạng thái và tập quán tinh thần chiếm một địa vị quan trọng: buồn rầu”.(1)


Không muốn nổi khùng, phát cáu, ta nên thản nhiên bình tĩnh mà nhận định mọi việc cho sáng suốt. Ta đừng cho đời một tầm quan trọng quá mức độ của nó.


Đường, Ngu nhường nhịn ba be rượu,


Thang, Vũ nhung nhăng một cuộc cờ.


Trong “Mai hiên bút ký” có dẫn:


Ngày xưa, tại chùa Tô Châu có sư tổ là Viên Thủ Trung cho đóng một cái quan tài nhỏ xíu bằng gỗ bạch đàn, bày ở trên bàn ngồi chơi. Hễ thấy việc gì xảy ra thì sư tổ chỉ nhìn vào “cái kết quả cuộc đời” ấy là mọi việc đều tiêu tan hết.


Bảo Huấn khuyên:


“Người ta sống ở đời, nếu gặp kẻ nào cư xử ngang ngược với mình thì ta chỉ nên coi như ta đi trong bụi rậm, quần áo vướng phải gai. Vậy ta nên dừng lại, từ từ gỡ gai ra. Những cái gai kia có biết gì mà đáng giận”.


Cổ nhân cũng dạy:


“Ta nên coi những điều ngang ngược phạm đến ta như cái thuyền không lỡ va chạm phải ta, như cơn gió dữ lỡ tạt vào ta. Vậy ta nghĩ cho cùng thì có gì mà đáng giận”.


Ngày xưa, có một người hay nổi giận. Hơi việc gì trái ý một tí cũng làm cho y lên cơn được. Một hôm có một vị tiên hiện xuống, ban cho hắn một cái chén ngọc mà rằng: “Khi nào sắp nổi nóng thì ngươi cầm cái chén này đi múc đầy nước mà uống ực đi là hết cơn ngay lập tức”.


Quả nhiên cái chén ấy chữa cho y khỏi hẳn được bệnh.


- Hơi đâu mà giận người dưng,


Bắt sao được cái chim rừng nó bay!


 


- Cơm ăn một bữa một lưng,


Hơi đâu mà giận người dưng thêm phiền!


 


(còn tiếp)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


______




(1) Les inquiétudes sont comme les nouveaux nés, elles ne se développent que si on les nourrit.




(2) Les saints tristes sont des tristes saints.




(3) Une heure d’activité met plus de baume au coeur et d’angent dans la poche qu’un mois de récréminations.




(1) La joie est bonne à mille choses, mais le chajrin n’est bon à rien.




(2) Ne fais rien dans la colère; mettras-tu la voile dans une tempête.




(1) L’ennui est très dangereux tant au physique qu’au mocal. Que constations - nous chez l’homme qui s’ennuie? Il commence à bailler, c’est l’indice d’un frainage de la circulation du sang dans les poumons, la puissance du coeur et la force des vaisseaux en pâtissent; des stases locales du sang apparaissent. Les organes de la digestion affaiblissent et se flêttrissent, Il apparait une fatigue, uhe loureur, une irritation du ventre, une disposition hypocondriaque.




(1) Tête de fou ne blanchit pas.




(1)  Thần tiên lạc sư quân tri phủ


Chi tỉ nhân gian đa tiếu thanh.




(1) Le pessimiste est un intoxiqué physique et moral.




(1) Parmi les influences qui écourtent la vie humaine, certains états et habitudes mentales occypent une place propondérante: la tristesse.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »