tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21054375
06.01.2012
Hà Minh Đức
Nguyễn Đình Thi - Chim phượng bay từ núi (11)

PHẦN II. TRÒ CHUYỆN VÀ GHI CHÉP


VỀ NHÀ VĂN NGUYỄN ĐÌNH THI


 


NHỮNG MẨU CHUYỆN NHỎ VỀ TÁC PHẨM VỠ BỜ


7/1963.


Khi tác phẩm Vỡ bờ được xuất bản, bạn đọc muốn được gặp gỡ tác giả và hỏi về chuyện bếp núc của tác phẩm. Vỡ bờ là một trong những tiểu thuyết đầu tiên viết về đề tài trước Cách mạng. Đề tài này chỉ có điều kiện thực hiện khi cuộc chiến tranh chống Pháp kết thúc, hoà bình lập lại, văn xuôi mở ra nhiều hướng khai thác mới. Viết về đời sống xã hội thời kỳ trước Cách mạng thường người viết phải có vốn sống trực tiếp, phải có khoảng cách thời gian để nhìn lại và đánh giá cho chính xác, phải có khả năng khái quá hoá nếu muốn vẽ bức tranh xã hội rộng rãi. Nguyễn Đình Thi sinh năm 1924, ông có thời gian sống trong xã hội cũ nhưng không nhiều, có chăng cũng là ở tuổi sinh viên. Bù đắp lại tài năng phát triển sớm, viết sách triết học, tham gia hoạt động trong phong trào Việt Minh thời tiền khởi nghĩa. Chỗ mạnh của Nguyễn Đình Thi là ở năng lực tư duy và phân tích sắc sảo trên những vấn đề xã hội phức tạp của thời kỳ trước Cách mạng tuy ông không có nhiều trải nghiệm trực tiếp. Tôi cũng muốn được nghe những chuyện riêng của nhà văn về Vỡ bờ để viết một bài về tác phẩm đang gây nhiều dư luận sôi nổi này.


Nguyễn Đình Thi hẹn gặp tôi ở trụ sở Hội Nhà văn ở phố Nguyễn Du nơi ông và gia đình ở đây. Khoảng 8 giờ tối tôi đến và một lát sau có anh Lê Văn Hảo tiến sỹ dân tộc học cùng đến. Nguyễn Đình Thi nhiệt tình chào khách, thăm hỏi. Tôi là người quen, còn anh Lê Văn Hảo và Nguyễn Đình Thi cũng đã có dịp gặp gỡ. Anh Hảo tỏ ra dè dặt cẩn trọng trong câu chuyện, cười vui tiếp nhận nhiều hơn là nói chuyện trao đổi. Anh Nguyễn Đình Thi hỏi ý kiến tôi và anh Hảo về tác phẩm, ý kiến riêng của mỗi người và có thể dư luận chung. Nguyễn Đình Thi nói “Cái khó nhất của tôi là tạo dựng bức tranh chung của xã hội của phong trào cách mạng từ cuối thời kỳ Mặt trận dân chủ cho đến thời tiền khởi nghĩa. Mặc dù có lúc phong trào trải qua thời kỳ đen tối nhưng vẫn đi lên lúc âm thầm lúc mạnh mẽ cho đến Cách mạng tháng Tám. Động lực của sự phát triển là quần chúng cách mạng, là toàn dân. Cũng vì thế tôi phải chọn lựa phong trào tiêu biểu của công nhân, nông dân, trí thức ở những vùng đất, những môi trường tiêu biểu. Có thành thị, có nông thôn. Thành phố là môi trường của tri thức của văn nghệ sỹ, của các mối quan hệ xã hội phức tạp. Tôi chọn Hà Nội. Về phong trào thợ thuyền có cội nguồn, có lực lượng lớn, tôi chọn Hải Phòng. Hà Nội, Hải Phòng tôi khá thuộc nhưng còn nông thôn thì khó hơn. Phải có miền quê có thể mở rộng quan hệ với thành phố. Người làng quê khi rảnh việc có thể lên thành phố kiếm sống, làm thuê. Nông thôn cũng có thể là hậu phương cẩn mật của thành thị nơi nuôi dưỡng những giá trị truyền thống. Tôi gặp khó khăn khi chọn một vùng quê như thế. Làng quê ấy phải ở vào trung độ, giữa các thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng và tôi đã tưởng tượng ra vùng quê Hải Dương, làng Ghềnh, làng Chẩm hội tụ đầy đủ những đặc điểm mà người viết cần đến. Ở đấy có những gia đình truyền thống gương mẫu như gia đình cụ Tú với những đứa con nên người như Khắc rồi Quyên. Ở đấy có những nông dân chất phác, hiền lành nhưng cũng có cá tính và bản lĩnh riêng như Mầm, Côi, Xoan, Quế. Tôi cắt ngang lời tác giả “Anh vất vả nhiều về tổ chức kết cấu tác phẩm, một tiểu thuyết hiện đại nhiều tuyến, nhiều nhân vật hoạt động trên nhiều địa điểm. Anh có khai thác kinh nghiệm của các nhà tiểu thuyết nước ngoài như Pháp và Nga?”


- Đúng thế, tôi dựa chủ yếu vào hai địa bàn nông thôn và thành thị và lấy Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng làm trục chính cho các nhân vật hoạt động. Có lẽ cái khó nhất là điều mình định nói phải tìm được nhân vật để thể hiện cho phù hợp, và các nhân vật lại phải có địa bàn hoạt động và quan hệ thích hợp, trong các mối quan hệ xã hội. Tôi tham khảo kết cấu của những tiểu thuyết lớn như Chiến tranh và hoà bình của Lev. Tolstoi rồi Sông Đông êm đềm của Solokhov. Phải có địa bàn thích hợp cho hàng trăm nhân vật hoạt động.


- Trong hàng mấy chục nhân vật của Vỡ bờ anh dựa trên nguyên mẫu nào.


- Vỡ bờ chủ yếu dựa vào hư cấu. Có thể chỗ mạnh của tôi cũng ở đấy mà chỗ yếu của tôi cũng ở đấy. Có lẽ chỉ có nhân vật Khắc bị đày lên ở nhà tù Sơn La là mang ít nhiều bóng dáng của anh Tô Hiệu. Còn lại tất cả đều do tưởng tượng hư cấu của tác giả tạo nên.


Theo anh thì chỗ mạnh của các nhân vật được hư cấu là gì so với những mẫu thật.


- Tôi không có thói quen viết theo dạng người thật việc thật. Dĩ nhiên đó là chất liệu đáng quý, nhưng so với hư cấu thì nhân vật hư cấu thể hiện sát đúng với tư tưởng tác giả, ít bị trùng lặp với người khác và nằm trong cấu trúc nhất quán hơn. Tuy nhiên khả năng hư cấu cũng rất có giới hạn nếu mình không có một vốn sống làm cơ sở.


- Xin anh nói cụ thể hơn ý tưởng trên trong Vỡ bờ.


Trong Vỡ bờ nói chung tôi thuộc thành thị hơn nông thôn nên phần viết về nông thôn khó khăn nhất là miêu tả sinh hoạt cụ thể, chuyện sản xuất, cày bừa, gặt lúa. Còn về con người nhất là lớp trẻ như Xoan, Quế, Mầm, Côi thì cũng có thể tưởng tượng thêm. Nhân vật Xoan tôi rất quý mến, ở cô quy tụ nét hiền lành, nết na của người con gái nông thôn. Miêu tả Xoan tôi cứ nhớ đến La Văn Cầu. Khuôn mặt Xoan có những nét giống La Văn Cầu. Anh cùng đi với tôi tham dự Hội nghị Thanh niên Thế giới ở Bá Linh nên có dịp gần gũi người thanh niên dân tộc Tày hiền lành và dũng cảm này. Những hoàn cảnh lịch sử mình không có điều kiện có mặt cũng khó viết như cảnh Nhật vào Đông Dương. Tôi xen ngang vào ý anh “Có phải anh định nói Nhật đánh Na Sầm và Đồng Đăng? ”Đúng thế. Dạo đó tôi còn nhỏ nhưng có mặt ở Na Sầm khi Nhật vào Đông Dương”. Anh Thi tỏ vẻ ngạc nhiên và hỏi “Anh có thể kể một số chuyện nếu anh biết? Tôi lúc đó khoảng bẩy tuổi, bố tôi là xếp ga Na Sầm. Ngay từ chiều đã có lệnh di tản vào trong cửa hang trước mặt cách nhà ga khoảng một vài cây số. Đêm ấy gia đình tôi ở trong nhà sàn của một bà con người dân tộc. Súng nổ suốt đêm. Nhà ga cũng là một địa điểm chúng bắn phá. Gần sáng theo dân kể lại thì nhiều xe ô tô nhà binh đã tiến về phía nhà ga và thị xã chiếm giữ. Song đồn Tây đóng trên đỉnh núi cao vẫn chống cự. Cuối cùng Nhật dùng máy bay ném bom xuống đồn và kết thúc cuộc chiến. Đến chiều chúng tôi lại trở về nhà ga. Lính Nhật đông đúc, chỗ thì nấu ăn, chỗ thì sắp xếp đồ đạc. Thích nhất là đứng xem lính Nhật tắm dưới vòi rồng nước của nhà ga. Khoảng hai ba chục đứa đóng khố, người béo, tầm thước, tranh nhau đứng gần vòi rồng nước, vừa tắm vừa đùa nghịch miệng hô vang: dô, dô... Sỹ quan Nhật đầu trọc, đội mũ dạng lưỡi trai sỹ quan có gươm dài đeo bên hông. Một đứa trông thấy tôi mũm mĩm nên dắt theo cho ăn bánh hạt sen bánh nén lại bằng bao diêm, mịn và thơm. Sau đó một anh lính dẫn tôi ra chỗ ăn cơm. Lính đứng ăn theo hai hàng, giữa là bàn để thức ăn. Tôi cũng được mời một bát, có cá thu kho, thịt lợn rán và bí ngô xào. Người lính dạy tôi nói một số tiếng Nhật, tôi chỉ nhớ được hai chữ joto (tốt) và arigato (cám ơn). Đã quá lâu rồi tôi chỉ nhớ một vài hình ảnh gần gũi”. Anh Nguyễn Đình Thi nói “Các chi tiết anh kể lại rất hay. Anh còn nhớ gì thêm không? Nghĩ một lúc rồi tôi lại kể tiếp một chuyện làm cho tôi sợ, đó là cảnh trong phòng chờ của nhà ga có khoảng một hai chục người Việt Nam chứng kiến một lính Nhật hành hạ một người Tây. Cũng không hiểu chuyện gì chỉ biết lính Nhật quát người Tây và sau đó thì túm lấy cái mũi khoằm kéo ra giữa phòng. Người Tây dáng cúi gập xuống và phải đi theo cái mũi của mình trông rất thảm hại. Những người đứng xung quanh, người cười, người thương hại, sau đó gia đình tôi không cho tôi đi chơi lang thang nữa nên cũng chẳng biết thêm chuyện gì. Nguyễn Đình Thi cười “Chuyện anh kể có không khí lắm”.


Trở lại với Vỡ bờ, nhà văn Nguyễn Đình Thi nhấn mạnh trong tiểu thuyết Vỡ bờ các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng đã trở thành quần chúng cách mạng. Động lực lớn nhất tạo thành sức mạnh là tinh thần dân tộc Đảng đã phát động được ý thức dân tộc của cộng đồng cũng như mỗi cá thể. Những người chiến sỹ cách mạng như Khắc, Lê là ở mũi nhọn. Nhưng rộng ra là cả phong trào. Tôi xây dựng gia đình cụ Tú như một mẫu mực của gia đình cách mạng từ người cha là nhà Nho yêu nước đến những đứa con cũng theo nếp gia đình như Khắc rồi Quyên. Ở thành thị lòng yêu nước nảy nở như một tình cảm tự nhiên như An, cô gái nghèo có ý thức bảo vệ cán bộ trước sự truy bắt của kẻ thù. Tôi chú ý đến những gương mặt phụ nữ và có thể nói họ là nhân vật chính của tác phẩm. Ở họ không chỉ có lòng yêu nước mà trong suy nghĩ, tình cảm, nếp sống đều mang những màu sắc riêng của người con gái của quê hương. Tôi muốn tác phẩm của mình có tính chất dân tộc, nhân vật là con người Việt Nam yêu nước và giàu tình cảm nhân ái.


- Xin hỏi anh, từ Vỡ bờ I đến Vỡ bờ II, chắc chắn anh đã chủ động hướng phát triển của tiểu thuyết qua những chặng đường. Có gì đột biến về cốt truyện nhân vật.


- Chắc chắn rồi, kết thúc Vỡ bờ II là niềm vui thắng lợi của dân tộc. Đường dài và có nhiều đổi thay. Có người trách tôi để Khắc chết sớm, nhân vật khác không thay thế được, rồi mối tình của đôi thanh niên nông thôn như Côi và Quế cũng kết thúc non yểu, nhân vật Phượng vật vã lên bờ xuống ruộng nhiều. Thực ra tôi đều suy nghĩ kỹ từng trường hợp. Thế hệ hoạt động thời kỳ Mặt trận dân chủ lại bị tù đày Côn Đảo, ốm yếu và bị bắt lại thường khó chịu đựng được những đợt tra tấn của kẻ thù. Khắc mất đi trong nỗi xót thương của bạn bè, thân hữu. Và riêng tôi cũng xúc động và buồn vì yêu thương nhân vật. Có những cái chết đến ngẫu nhiên trong cuộc đời cũng do nghèo đói, bệnh tật và hạnh phúc đang trong tầm tay. Cô Quế ở vào trường hợp ấy. Quy luật của cuộc sống là có mất mát và có tiếp nối. Khắc mất đi đã có Quyên và đồng chí bạn bè.


Tôi lại nói tiếp: dư luận bạn đọc nhận xét anh tả rất thành công về đời sống thành thị đặc biệt là lớp văn nghệ sỹ. Riêng với cô Phượng, nhân vật rất gây ấn tượng nhưng ý kiến đánh giá lại rất khác nhau. Nhà văn Nguyễn Đình Thi cười và nói “Tôi hiểu thành thị hơn nông thôn vì mình sống trong môi trường này. Riêng với anh em văn nghệ sỹ thì cuộc đời họ gần gũi và cũng là cuộc đời của chúng tôi nên thuộc hơn”.


Riêng về nhân vật, phần nào tôi chịu ảnh hưởng là nhân vật Thứ của Nam Cao. Nhân vật Hội có bóng dáng của Thứ. Phượng là nhân vật dễ gây ấn tượng, không chỉ là cô gái đẹp mà còn có cá tính, bản lĩnh. Phượng làm khổ một số người nhưng chính Phượng cũng là nạn nhân của cuộc đời. Phượng là người tốt. Mối tình học trò với hoạ sỹ Tư vốn được Phượng giữ gìn như những kỷ niệm đẹp. Phượng không thoả hiệp với cái xấu và trong tình thế bi kịch có thể tìm đến cái chết. Tôi không để cho Phượng chết vì còn cần đến nhân vật, và sinh mệnh của nhân vật trên trang sách chưa hết. Sau khi tự tử và được cứu sống Phượng ngồi may cờ Việt Minh hộ cho em gái hoạt động trong thời kỳ tiền khởi nghĩa là điều bình thường và khi cách mạng thành công, Phượng không thể là nhân vật chính nhưng Phượng cũng là thành viên của nhân dân. Trong ngày hội Phượng đứng ở xa hơn vẫy tay hoan nghênh đoàn biểu tình. Việc đó là hợp lý với người con gái đang hồi sinh trong cuộc đời mới. Có gì đáng chê trách? Tại sao lại hạn chế và đẩy nhân vật về phía bóng tối?


Những ý kiến các anh chị và báo chí về Vỡ bờ đã giúp ích tôi nhiều khi bắt tay vào viết tập II. Đêm đã khuya, chúng tôi xin cáo để ra về và cám ơn nhà văn Nguyễn Đình Thi về buổi nói chuyện thân tình và bổ ích.


 


 


“VÀO LỬA VÀ NHỮNG SUY NGHĨ CỦA TÔI VỀ CUỘC CHIẾN ĐẤU”


28/8/1966.


Câu chuyện hôm nay nhà văn Nguyễn Đình Thi dành nói cho tôi là tiểu thuyết Vào lửa. Tác phẩm có nhiều dư luận khen chê. Nguyễn Đình Thi muốn phát biểu những suy nghĩ của mình.


Gần đây Hội Nhà văn có một số thay đổi. Anh em nhà văn sẽ đi nhiều tham gia vào bộ đội, thanh niên xung phong, vào thực tế chiến, đấu sản xuất. Tôi hiện đang viết về không quân. Cuốn truyện này của tôi có thể bay bổng hơn, tế nhị hơn. Tôi sẽ đi vào khai thác kỹ hơn về những tình cảm riêng tư, mà tôi thấy cần thiết và đúng phương hướng. Tôi sẽ viết với một cốt truyện dường như không có cốt truyện để làm nổi lên cái cơ bản là vấn đề con người. Nhưng có lẽ những trang hấp dẫn được bạn đọc thích lại là những trang viết về chiến đấu, cảnh máy bay bay trên trời và chiến đấu với địch. Tôi sẽ viết những cuốn truyện kiểu như Vào lửa, nó vừa có truyện lại vừa phản ánh được nhanh chóng kịp thời hiện thực đang biến chuyển. Quan niệm về tiểu thuyết hiện nay là như thế. Bây giờ đã khác nhiều. Thế giới bây giờ người ta cũng viết khác trước. 60, 70 trang cũng là tiểu thuyết. Nguyễn Khải gần đây đang viết về Hoà Vang, bài viết trên báo Nhân dân nói chung tốt. Nguyễn Khải là một kiểu Thép Mới nhưng có hình ảnh và vốn sống hơn. Thép Mới là một nhà báo nên chất sống thực tế văn học yếu hơn.


Về cuốn Vào lửa nói chung dư luận có nhiều ý kiến chưa thống nhất. Có anh em cho là được, có anh em cho là còn vội, sơ lược. Nhưng nói chung buổi góp ý kiến cho tôi lần vừa rồi, anh em nặng về góp chung hơn là góp trường hợp Vào lửa.


Qua Vào lửa tôi muốn đặt một số vấn đề nêu lên một ít suy nghĩ về cuộc chiến đấu, về những vấn đề của con người trong chiến tranh, về tình yêu đất nước. Viết bây giờ rất khó. Có những vấn đề suy nghĩ nhưng viết ra lại là một chuyện khác. Viết chính là trích vào xã hội, vào những vấn đề của cuộc sống cho nên tất yếu là có sự phản ứng lại, có sự đồng tình và cũng có thể có ý kiến quan niệm khác. Ví dụ viết về những chiến sỹ hiện nay có một mảng lớn trong đời sống tinh thần là những suy nghĩ về quan hệ quốc tế. Viết về không quân tôi rất thích là trình độ của anh em rất cao nên có thể qua đó trình bày những suy nghĩ, đặt những vấn đề. Như những vấn đề về quan hệ quốc tế nhất định là anh em chiến sỹ không quân luôn có suy nghĩ đến.


Qua Vào lửa tôi muốn nêu lên những suy nghĩ của con người trong cuộc chiến đấu. Cuộc chiến đấu của nhân dân ta rất anh hùng, rất vĩ đại. Trong cuộc chiến đấu này tôi nghĩ rằng mọi người đều rất có ý thức, có ý thức về sự nghiệp của mình, về sự tham gia đóng góp cho đến hy sinh mình cho sự nghiệp chung. Vấn đề sống chết, cũng không phải là một vấn đề đơn giản. Chiến tranh là có hy sinh, có chết chóc, nhưng biết rằng có những hy sinh lớn đó nhưng không chùn lại, không sợ sệt mà dám đánh đổi, dám chiến đấu. Chúng ta rất khác, khác về cơ bản với chủ nghĩa xét lại, nhấn mạnh và sợ hãi sự hy sinh mất mát trong chiến đấu, chúng ta cũng không đơn giản hoá những vấn đề phức tạp này.


Trong tác phẩm Vào lửa có một số chỗ tôi có đặt một vài suy nghĩ. Ví dụ cái chết của anh Đương, chỉ nêu qua thôi cũng thấy xót xa bồi hồi. Nếu phải mất đi một nhịp cầu, một căn nhà, một đường phố đều có thể làm lại được, nhưng con người mất đi thì không thể sao làm sống lại được. Cái đoạn chị Lích khóc anh lính trẻ, có người bảo bạo quá, cái đoạn người vợ của Đức nhỏ những giọt nước mắt trên vết sẹo của người chồng, Kim Lân bảo ông dám viết thế sao? Tô Hoài đọc cho rằng cái chỗ anh lính ngồi trên ụ súng mân mê củ khoai đọc thấy nó ghê quá. Nhưng tôi nghĩ rằng nó là sự thật, và khi tác phẩm xuất bản người đọc cũng thấy nó lại là chuyện bình thường thôi. Trong Vào lửa có chỗ nói Xuân ngại cái chết dấm dớ khi nấp máy bay địch ở bến phà. Nhà xuất bản đề nghị tôi bỏ đi, nhưng tôi vẫn cứ để. Có phải lúc nào người ta cũng được chết trong tư thế chiến đấu đâu, trong chiến tranh có những cái chết rất vô nghĩa, mà có hàng ngàn cái chết đó. Nhưng mất mát của cuộc chiến đấu ngay từ chương đầu tôi đã nói đến, mấy đứa trẻ bơ vơ không nơi nương tựa về sau, nhưng với mình phải giải quyết ngay là mọi người góp sức vào giải quyết khó khăn. Ngay đời sống hàng ngày tiếp xúc có biết bao vấn đề đặt ra rất bình thường nhưng cũng rất phổ biến cho người dân, những người trực tiếp làm ra cuộc sống. Có ném bom chết chóc, người chết nhiều chắc không phải là những cán bộ cao cấp, chỉ huy mà lại là người lính, người dân thường, người trực tiếp nhất với cuộc chiến đấu với đời sống. Viết về người bình thường này lại là một vấn đề phức tạp, thế giới đang trao đổi tranh luận nhiều.


Qua Vào lửa một vấn đề lớn tôi muốn đặt ra là đối với lớp người lãnh đạo, mà ở đây là qua hình ảnh người chỉ huy. Lớp người có tuổi trưởng thành trong đấu tranh muốn đi hàng đầu trong cuộc sống phải đấu tranh vươn lên rất nhiều để tránh lạc hậu. Cuộc sống luôn đổi mới đặt những vấn đề hết sức mới không thể dùng tư tưởng cũ, cách suy nghĩ cũ mà giải quyết được. Cụ thể ở đây là chính uỷ Xuân, nhiều vấn đề đối với Xuân hết sức mới mẻ. Trên cương vị của mình Xuân phải nghiên cứu, thận trọng, tìm hiểu mới có thể làm tròn được trách nhiệm của mình. Vấn đề này đặt ra rất phức tạp, tôi không muốn dừng lại lâu, nhưng chỉ nêu thoáng qua song đọc vẫn thấy được rõ. Tất cả những chuyện trên không thể nào nhấn mạnh hay đặt trực diện mà nhiều khi phải thể hiện nó trong tổng hoà chung với tinh thần mức độ. Có khi không chỉ đưa vào nhân vật chính vì bị chối, khó chấp nhận ngay mà phải đưa dần dần hoặc gián tiếp. Như trong Vỡ bờ chuyện của cô Quế và cậu Côi là một chuyện đánh vào một quan niệm lớn. Quế là một cô gái mà cuộc tình duyên vượt khỏi nguyên tắc, đánh vào lễ giáo phong kiến, phong tục tập quán. Vâng chỉ có thể đặt vấn đề ở nhân vật Quế thế. Hay cái chết của Khắc cũng là một trường hợp. Không đơn giản mà đặt trực tiếp cái chết của Khắc... Vỡ bờ là một tiểu thuyết dài. Tập I đã ra và được dư luận chú ý. Tất nhiên có những mảng còn yếu. Tôi ít hiểu biết về nông thôn hơn so với những anh em khác. Mà làm sao có được một vốn sống hoàn chỉnh, được cái này dễ mất cái khác.


Về nhân vật Xuân trong Vào lửa mình phải lấy trực tiếp từ những suy nghĩ của mình, một phần từ sự chọn lựa khách quan. Phải quan niệm anh chính uỷ không phải là chiến đấu. Nhiệm vụ của nó là thế như nhân vật Xuân trong Vào lửa. Mối quan hệ cha con giữa Xuân và Mai nói chung nêu được tình cảm lành mạnh. Về nhân vật Mai có lẽ có dáng dấp và đầy đủ những nét cơ sở để thành một nhân vật. Có ý cho rằng nên khai thác sâu hơn, kỹ hơn những mối quan hệ của các nhân vật. Đọc thấy nó còn thòm thèm. Tôi cũng nghĩ thế nhưng để thòm thèm còn hơn vì người ta tin rằng tác giả còn có thể viết được nữa. Nếu viết ra chưa chắc tác giả đã đủ vốn sống và điều kiện để viết và có thể lại bị chán. Nhân vật Hồng Vinh tôi xem như một caricature biếm hoạ nên tôi cũng đồng ý với anh là nó có những chỗ không bình thường, những kẻ lợi dụng tình yêu tinh vi hơn, ở đây tôi nhấn mạnh cái xấu để được sự đồng tình ngay của người đọc để phê phán. Ngay bản thân cái tên Hồng Vinh đã là một sự mỉa mai rồi!


Trong lớp thanh niên trẻ của Vào lửa có lẽ Mai là nhân vật đứng được ít nhiều. Còn ngoài ra tôi cũng chưa tả được nổi hình ảnh của người chiến sỹ trẻ.


Trong Vào lửa tôi cũng muốn đặt thêm một vấn đề về đạo đức. Trong vấn đề đạo đức lại gắn bó với những quan hệ cụ thể trong cuộc sống, những tàn dư của xã hội cũ, cách giải quyết mạnh dạn và triệt để. Con người mới phải có đạo đức mới, mỗi nhân vật đều có những suy nghĩ riêng về mình, về cuộc đời và con đường đi riêng trong quan hệ với các nhân vật khác. Ví dụ ở hai chị phụ nữ, chị Lích, và bà vợ ông Viên. Ở chị Lích cũng có những cái ngang trái mà hiện nay có không ít, những loại chuyện đó chủ yếu lại do người phụ nữ tự giải quyết. Còn chị vợ ông Viên có những nét sắc sảo, và trong tình cảm vợ chồng cũng có những chuyện khi chồng quan niệm vợ như một cái máy đẻ. Với nhân vật Mai, người ta thích cái lý tưởng và đạo đức của chị, rất khoẻ và mới.


Ý định của anh định nghiên cứu vấn đề nông dân trong tiểu thuyết hiện đại là một chuyên đề rất hay, rất phù hợp với thực tế phát triển văn học. Có lẽ nên chú ý xem mỗi nhà văn phát hiện gì ở người nông dân, những điểm mới. Tôi thấy nông dân trong tiểu thuyết hiện đại nặng về mặt tiêu cực, khổ đau, con người nông dân trong văn học dân gian khá hơn, đấu tranh mạnh mẽ hơn người nông dân hiện đại. Nên điểm qua nông dân trong Tự lực văn đoàn – tuy không có gì đáng kể, nhưng chú ý nét phản diện của vấn đề. Trần Tiêu ít nhiều đứng được. Người nông dân của Nam Cao được khai thác nhiều màu sắc hơn nông dân của ông Tố. Có một lần trao đổi với ông Tô Hoài chúng tôi nhất trí là nhân vật Trạng Quỳnh chính là một anh nông dân, tập trung trí khôn của một anh nông dân. Vấn đề nông dân trong tiểu thuyết cải cách ruộng đất không để lại được gì trừ cuốn của ông Tưởng. Nhưng truyện của anh Tưởng chưa phải là nông dân mà mang nhiều màu sắc chủ quan của tác giả.


Chuyên đề về nông dân gắn với thực tế văn học. Tôi thấy gần đây lý luận nhiều lúc xa rời thực tế văn học, chẳng hạn thảo luận ký là gì? Thực ra không cầm bút người ta vẫn viết. Vấn đề là dựa trên ký đó của các tác giả mà suy nghĩ tìm tòi để đặt vấn đề giải quyết. Gần đây anh em nhà văn viết nhiều truyện. Sang năm có nhiều truyện hơn. Phải có truyện mới giải quyết được vấn đề. Anh Tô Hoài cũng vừa viết xong cuốn Miền Tây. Tôi chưa đọc hết nhưng thấy hay, nhất là chương I chương tả đoàn ngựa thồ, cho đến cảnh chợ. Tôi đề nghị anh Tô Hoài không nên trực tiếp đứng ra tả cảnh chợ mà có thể tả cảnh chợ qua cặp mắt của một em bé nhỏ. Anh Tô Hoài nói có đưa cho Uỷ ban Dân tộc xác minh một số chi tiết. Tôi thấy cần thiết, ngay cái chi tiết bỏ gián vào lỗ tai ngựa theo tôi cũng nên xem lại.


Còn truyện của Vào lửa hết sức đơn giản xoay quanh chuyến đi của anh chính uỷ Xuân. Cuộc chiến đấu ở một trận địa gặp khó khăn. Cách giải quyết của Xuân qua những công tác ở trận địa của mình rất linh hoạt và cụ thể.


Thằng địch trong Vào lửa rất hung bạo nhưng cũng xảo quyệt. Tôi cố ý tả thế, tôi không muốn tả theo kiểu đơn giản. Đánh nhau với thằng Mỹ không phải là đánh nhau với kẻ thù ngờ nghệch. Thằng Mỹ làm cho ta tổn thất. Ta đối phó lại, chuẩn bị lại tốt. Và ta thắng. Nhưng rồi người đọc cũng cụ thể biết là thằng Mỹ nó cũng chưa chịu hẳn, nó còn thay đổi, nó còn chưa thôi. Khi đưa cho anh Tố Hữu xem anh Tố Hữu bảo tôi là anh tả thằng Mỹ trong này nó ghê gớm quá. Nhưng vì thực tế gần đây ai cũng viết đánh được nó, bắn được máy bay của nó không phải là dễ, nó vào Hà Nội, rồi có thằng lại ra. Đánh được nó phải mưu trí, dũng cảm, linh hoạt.


Qua Vào lửa có những cái tôi chỉ gợi và đặt vấn đề mà chưa giải quyết hoặc không nhấn mạnh. Có nhiều chuyện lại không thể bỏ qua được. Suy nghĩ và đề cập như thế nào lại là một chuyện khác – nhưng nhất định phải đề cập được. Nên có thể cuốn sách của tôi sẽ dần dần được hiểu đầy đủ hơn. Khác với những tác phẩm của anh Bùi Hiển và Chế Lan Viên gây được sức thuyết phục ngay ở cuộc sống được phản ánh trong tác phẩm.


 


VỀ TÁC PHẨM MẶT TRẬN TRÊN CAO(1)CỦA NGUYỄN ĐÌNH THI


Tháng 6/1967.


Khi cuộc chiến tranh chống Mỹ khởi đầu được một thời gian thì nhiều tác phẩm văn xuôi xuất hiện kịp thời. Binh chủng đầu tiên là các thiên ký còn mang hơi lửa của chiến trường. Miền Bắc chống chiến tranh phá hoại trước hết là chiến trường gần, địch leo thang phá hoại từng ngày. Nhà văn Nguyễn Đình Thi lúc này ở tuổi ngoài 40 còn đang sung sức. Anh tạm dừng tác phẩm Vỡ bờ II để bắt tay vào viết những tác phẩm trực tiếp về kháng chiến chống Mỹ. Sau khi viết bài nhận xét về tác phẩm Vào lửa (1966) tôi muốn được gặp anh để hỏi chuyện về tác phẩm tiếp theo Mặt trận trên cao (1967). Anh Nguyễn Đình Thi vừa đi sân bay về chừng nửa tiếng và anh tiếp tôi. Anh bắt ngay vào trả lời câu hỏi của tôi về ý định, quá trình sáng tạo tác phẩm Mặt trận trên cao:


“Như anh biết đấy tôi không muốn viết người thật việc thật. Sự thật tuy hấp dẫn nhưng nhiều khi như vít chặt người viết vào dòng sự kiện, không thể tưởng tượng bay bổng theo chủ định của mình được. Cả Vào lửa và Mặt trận trên cao đều là những truyện vừa, những tiểu thuyết nhỏ linh hoạt về chiến tranh mà sự phân biệt cơ bản với truyện ký là có hư cấu nghệ thuật. Vả lại với Mặt trận trên cao tác phẩm viết về bộ đội không quân mà viết theo truyện ký thì tôi chỉ là người ghi lại lời kể của chiến sỹ lái máy bay thôi. Tôi không thể thụ động như thế mà muốn nói về một cái gì rộng hơn, sâu xa hơn.


Cái khó đầu tiên là phải có một cốt truyện cho dù là một cốt truyện đơn giản. Kẻ địch thì ở trên trời, đến trong giây lát, gây chết chóc rồi bay đi. Còn ở phía ta thì chịu đựng tổn thất, giải quyết hậu quả. Cốt truyện sẽ tạo nên như thế nào? Kể cả với Vào lửa cái khó của tôi cũng là cốt truyện. Thực ra cốt truyện Vào lửa trùng hợp với một chuyến đi kiểm tra, khảo sát của một cán bộ lãnh đạo quân đội vào chiến trường. Xong việc anh lại trở về chỗ cũ. Trong chuyến đi vội vàng này thời gian không đủ để tạo nên một quan hệ ổn định nào. Gặp một cô y tá tên là Lích nhưng chỉ có cảm tình và không thể hứa hẹn vội vã điều gì. Người cán bộ chỉ huy trở về. Thế là xong một cốt truyện. Dù sao cũng có những mối liên hệ rõ rệt hơn Mặt trận trên cao. Điểm sáng trong óc của tôi khi nghĩ ra quan hệ hai anh em Lương và Đào. Lương đi học không quân ở Nga và khi trở về đúng vào lúc cuộc chiến tranh chống Mỹ xảy ra. Anh vào cuộc với tuổi trẻ hăng say, nhiệt tình. Em gái học đại học đã ra trường, dạy học và nhà trường sơ tán ở vùng quê Sơn Tây. Như thế là cốt truyện đã hình thành xen lẫn giữa chiến tranh và hoà bình. Vào một ngày nghỉ Lương tìm gặp em, hai anh em bồi hồi xúc động chuyện trò khi gặp lại nhau. Sau đó Lương lại về đơn vị sinh hoạt tham gia chiến đấu. Cứ thế từng lớp cốt truyện mở ra. Tôi rất vui khi nghĩ được một cốt truyện giản dị mà hợp lý như thế”.


- Nhưng rồi anh sẽ kết thúc như thế nào?


- Kết thúc câu chuyện cũng chính là kết thúc mối quan hệ giữa các nhân vật. Lương sau khi gặp em gái về có thêm một người bạn gái mới do em gái giới thiệu, cô Tuyến ở cuối phố Lò Đúc. Hai người mới quen và cũng có chút cảm tình với nhau, và muốn đi tới kết quả gì thì phải có thời gian. Lương lại về đơn vị chiến đấu và thỉnh thoảng mới có dịp thăm lại cô gái mới quen biết. Hướng câu chuyện là mở còn kết quả là do tiến triển trong quan hệ giữa các nhân vật theo quy luật của cuộc đời. Mở nhưng chính đã khép lại. Cốt truyện trong tiểu thuyết hiện đại có thể theo đa tuyến nếu phạm vi miêu tả rộng, có thể là đơn tuyến. Vấn đề là làm chức năng cái sườn, đường dây cho nhân vật, cho tính cách phát triển.


- Sau Vào lửa, và Mặt trận trên cao anh có dự kiến viết tiếp tiểu thuyết về chiến tranh chống Mỹ?


- Người viết phải có trách nhiệm với thời cuộc với những đề tài thời sự. Tôi đã từng viết về chiến tranh qua Xung kích và một số truyện ngắn. Cuộc chiến tranh chống địch phá hoại bằng không quân là cuộc đọ sức mới. Kẻ địch có tiềm lực và xảo quyệt hơn. Tôi đã cố gắng tìm hiểu và đi vào mũi nhọn của công cuộc chống chiến tranh phá hoại của quân dân ta là các binh chủng cao xạ pháo và không quân. Nếu không có yêu cầu gì cấp bách tôi lại trở lại hoàn thành Vỡ bờ II. Người viết bây giờ phải có kế hoạch trước mắt và lâu dài. Cũng mong là công việc này không ảnh hưởng đến công việc kia.


- Xin cám ơn anh về những điều bổ ích hôm nay.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi. Chuyên luận, trò chuyện và ghi chép của Hà Minh Đức. NXB Văn học, 12-2011.


www.trieuxuan.info


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »