tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21267596
Những bài báo
30.12.2011
Ngô Minh
Chuyện "Một người yêu nước mình"


Mẹ tôi nuôi tôi mười mấy năm


không lấy chồng


thương tôi nên ở góa nuôi tôi


...mẹ thương con nên cách trở sông đò


hàng gánh nặng phải qua cầu xuống dốc


đêm nào mẹ cũng khóc


đêm nào mẹ cũng khấn thầm


mong con khôn lớn cất mặt với đời...


 


Bài thơ của một người yêu nước mình  của Trần Vàng Sao viết cho hoàn cảnh của riêng mình, song có lẽ đó cũng là hoàn cảnh riêng của nhiều người VN trong thời binh đao tao loạn. Ba tôi mất năm tôi mới 7 tuổi. Mẹ tôi mót khoai hà, đội nón mê đi ăn xin tôm cá dọc biển, rồi buôn thúng bán bưng nuôi năm đứa con khôn lớn nên người. Nên mỗi lần đọc lại Bài thơ của một người yêu nước mình tôi đều ứa nước mắt.


 


Tôi yêu đất nước này xót xa... tôi yêu đất nước này cay đắng... tôi yêu đất nước này áo rách... tôi yêu đất nước này rau cháo... tôi yêu đất nước này lầm than... tôi yêu đất nước này chân thật... Cái điệp khúc “tôi yêu đất nước này...” lúc cất lên như tiếng nấc, lúc chìm sâu như nỗi nghẹn ngào, khi nghe như tiếng vọng của tâm linh thăm thẳm. Hơn 30 năm nay ở Huế, nhiều lần tôi có dịp cùng nâng chén, chuyện trò với nhà thơ mà mình ngưỡng mộ.


 


Anh Nguyễn Đính (tên thật của nhà thơ Trần Vàng Sao) ở đường nhánh Tuy Lý Vương, vòng vèo sâu hút trong thôn Vỹ Dạ. Về thăm anh nhiều lần, lần nào tôi cũng đi sai đường, hỏi thăm: “Nhà anh Đính chỗ nào?” nhiều người không biết, nhưng hỏi “Nhà của nhà thơ Trần Vàng Sao ở đâu?” thì ai cũng biết, nhiệt tình dắt đến tận nơi.


 


Cái thôn Vỹ Dạ nổi tiếng trong thơ Hàn Mặc Tử cũng là nơi sinh trưởng nhiều nhà thơ, nhà văn, họa sĩ như Tuy Lý Vương, Bửu Chỉ, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Vàng Sao... Gia đình nhà thơ sống trong một ngôi nhà vườn cổ đã xuống cấp do ông nội anh để lại.


 


Ba của Nguyễn Đính tham gia Việt Minh thời chống Pháp bị Tây bắn chết ngay tại thôn Vỹ Dạ năm 1947, mẹ anh ở vậy tần tảo chạy chợ nuôi anh mười mấy năm ròng. Nên tuổi thơ anh buồn, cô độc, suốt ngày chơi với lá vú sữa, lá mít rụng trong vườn. Những đứa bà con hàng ngày chửi bới / chúng cho mẹ con tôi áo quần tiền bạc như cho một đứa hủi...


 


Ở xóm này mỗi lần lụt là nước ngập đến bụng, nên phải đắp nền nhà rất cao. Mỗi lần tôi đến chơi lại thấy nhà thơ tóc xoăn mặc bộ quần áo nâu sồng, ngồi rít thuốc lào, hoặc nhấp tí trà, tí rượu. Trong nhà treo đầy tranh Bồ đề Đạt Ma do chính anh vẽ; trên giá sách ngoài sách văn học bạn bè tặng, còn có bộ kinh Đại Bát Nhã 30 tập dày cộm.


 


Trên bàn là một chồng bản thảo thơ đầy vết gạch xóa viết trên loại giấy vở học trò xé ra. Gần 15 năm nay, anh vẫn viết hàng trăm bài thơ tự sự gan ruột và dài dằng dặc nhưng chẳng biết bao giờ mới in được. Tôi hỏi: sao không đưa in trên tạp chí Sông Hương? Anh trầm ngâm: “Thơ mình buồn lắm. In ra người đọc lại buồn lây, rồi lại hiểu nhầm...”. Nhưng khi tôi gợi đến chuyện ở trên chiến khu xưa thì nhà thơ như bừng tỉnh, kể chuyện rất sôi nổi.


 


Nguyễn Đính sinh năm 1941, đậu tú tài năm 1961 rồi vào Đại học Huế; tham gia hoạt động đấu tranh trong phong trào sinh viên cùng với thế hệ những Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Quang Long, Ngô Kha...


 


Năm 1963, anh tham gia tập san Nhận Thức (do Nguyễn Đắc Xuân làm chủ biên); viết giới thiệu bài thơ Hoa cô độc của Ngô Kha với bút danh Trần Sao. Lúc này anh đã tham gia tổ chức cách mạng, hoạt động bí mật như rải truyền đơn, vận động sinh viên xuống đường tranh đấu...


 


Tháng 6-1965, vì bị lộ nên tổ chức đưa anh “lên Xanh”, công tác tại Ban tuyên huấn Thành ủy Huế. Hồi đó, Thành ủy Huế lập một đài truyền thanh ở chiến khu A Lưới, phải đào sâu vào lòng núi để đặt điện đài. Nhưng chưa kịp phát buổi đầu tiên đã bị bom Mỹ đánh sập. Bom đạn chiến tranh ác liệt thế nhưng anh em ai cũng hăng say. Nguyễn Đính viết cho đài truyền thanh, cho báo Cờ Giải Phóng, ký nhiều tên như Nguyễn Thiết, Lê Văn Sắc, Trần Sao.


 


Có lần anh ngồi cả tháng, soạn Cương lĩnh diễn ca hàng trăm câu song thất lục bát để tuyên truyền đường lối của Mặt trận Dân tộc giải phóng, phục vụ công tác binh vận. Những lúc bom đạn ác liệt, đói cơm, thiếu muối, phải đi đào củ mài, củ chụp ăn, Nguyễn Đính vẫn làm ca dao hò vè động viên anh em: Hi sinh gian khổ sá chi/ Tự do độc lập có gì quý hơn.


 


Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường kể: “Mùa thu năm 1966, địch bắn pháo vào nơi đóng quân, Nguyễn Đính bị thương vào chân, phải vô nằm trạm xá. Thời đó đã là đối tượng Đảng rồi nhưng Nguyễn Đính ngang tính quá...”. Con người “ngang tính” ấy bảo: “Mình bị thương nhiều người biết, bây giờ trở trời vẫn đau nhức rất khó chịu ở vết thương cũ nơi đầu gối, nhưng hồi đó có biết chi mô mà khai cho có thẻ thương binh! Ngay cả ba mình là Việt Minh bị Tây bắn mà cũng chẳng biết khai báo, chạy vạy những đâu để được phong liệt sĩ...”.


 


Quên chuyện của mình nhưng nhà thơ lại rất nhớ những đồng đội đồng chí đã hi sinh: Mi về Đông Xuyên trước Tết / và thoát chết trong một trận càn / hầm ngập hết nước / mi ăn gạo sống chảy nổi ngoài cồn mả ba ngày ba đêm / mi gửi cho tau mấy viên thuốc dạ dày / và một xấp (thuốc lá) Phong Lai / bây giờ mi chết thật rồi sao...(Đồng chí). Cũng như điệp khúc tôi yêu đất nước này trong Bài thơ của một người yêu nước mình, điệp khúc bây giờ mi chết thật rồi sao trong Đồng chí là tiếng khóc của tình ruột thịt lay động tâm can.


 


Khi được hỏi vì sao anh lại lấy bút danh là Trần Vàng Sao, một cái tên rất dễ gây nguy hiểm cho bản thân khi về hoạt động trong lòng địch, Trần Vàng Sao sôi nổi kể: “Cuối năm 1967, mình bị sốt phải vô trạm xá chiến khu. Lúc đó Ban tuyên huấn Thành ủy Huế đang làm tập văn thơ Nổi lửa, chuẩn bị tuyên truyền cho cuộc tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân. Anh em vào trạm xá hỏi bài, mình viết ngay một mạch Bài thơ của một người yêu nước mình, kể toàn chuyện của đời mình. Bài thơ được in ronéo ở chiến khu, sau đó đưa về Huế phát hành vào tháng 12-1967 hàng ngàn bản cho lực lượng hoạt động nội đô. Không ngờ bài thơ cũng là tâm trạng chung của mọi người. Lúc đầu mình ký là Trần Sao nhưng sau đó sửa lại Trần Vàng Sao, vì lúc nghe tổng tấn công thì sướng quá! Nhưng cái tên ấy cũng khí khái, hợp tạng mình nên mình vẫn giữ đến bây giờ”.


 


Trần Vàng Sao là người thẳng thắn, trực cảm mạnh, thơ anh nhiều tầng nghĩa, nhưng lại là những hình ảnh thường ngày trong đời sống gia đình, bè bạn. Đó là một thứ thơ không dễ viết càng không dễ hay!


 


Những chuyện buồn đau, ngậm ngùi trong cuộc sống hằng ngày anh đều đưa vào thơ, như là một sự sẻ chia, an ủi. Kể chuyện cùng các con múa lân rằm Trung thu, anh viết: Cái trống loong mặt nilông và hai chiếc đũa tre tôi đánh / múa đi các con / này đây cái nón gãy vành làm đầu tiên cẩu / và sợi dây chuối treo ngọn lá làm tiền / múa đi các con / cái bụng ông địa to tròn giơ lỗ rún gài nút áo không được / ông địa chống tay vỗ bụng ngửa mặt lên trời cười ha ha / tôi vỗ tay hoan hô / và không biết mình có nhớ ra được cái mặt nạ ông địa không. (Người đàn ông 43 tuổi nói về mình).


 


Bài thơ này Trần Vàng Sao viết tháng 9-1984, nhân sinh nhật tuổi Tỵ của mình, khi anh được cho nghỉ hưu non. Nghỉ hưu sớm lương hưu rất ít, vợ không có nghề nghiệp, phải nuôi ba đứa con, nên thơ buồn là phải. Nhưng khốn thay, lại bị phê bình rằng “bài thơ u ám, bất lực, tuyệt vọng!”.


 


Thế là hồi đó nhà thơ bị báo đài tỉnh nhà “đánh” vì cho rằng bài thơ không có “lập trường” rõ ràng! Ôi, “một người yêu nước mình” đã từng thảng thốt: Tôi yêu đất nước này rau cháo/ Bốn nghìn năm cuốc bẫm cày sâu/ Áo đứt nút qua cầu gió bay... với cái bút danh thách đố kẻ thù là Trần Vàng Sao làm sao mà mất lập trường được!


 


Hình ảnh một người đàn ông 43 tuổi thường không có một đồng dính túi; một hai ba giờ sáng thức dậy ngồi vác mặt ngó trời nghe chó sủa... là hình ảnh buồn của một thời kỳ còn đầy rẫy khó khăn, nhưng sâu đậm chất người, chất nhân văn. Từ vụ Người đàn ông 43 tuổi... đó, tôi không thấy anh đăng thơ ở đâu nữa.


 


Trước đó, năm 1970 anh được đưa ra chữa bệnh và an dưỡng ở miền Bắc. Trong thời gian chữa bệnh anh có một cuốn sổ ghi nhật ký và những bài thơ mới viết của mình. Ai dè có người đọc được liền lấy cắp cuốn sổ báo cáo với cấp trên. Thế là “người yêu nước mình” bị kiểm điểm và đau nhất là mất luôn tất cả mấy chục bài thơ tâm huyết ở trong cuốn sổ đó!


 


Năm 1975, sau ngày Huế được giải phóng, Trần Vàng Sao là một trong những người đầu tiên đăng ký về xây dựng quê hương, nhưng sau đó lại bị gạt ra khỏi danh sách. Sốt ruột quá anh tự tìm về Huế, nhưng không được nhận công tác vì không có giấy chuyển, mãi sau mới được bố trí về làm liên lạc ở xã.


 


Sau được rút lên công tác tại Phòng Văn hóa thành phố Huế rồi lại được điều về làm liên lạc ở xã Hương Lưu cho đến khi nghỉ hưu. Lương hưu trí của anh sau khi đã tăng lên 10% vào tháng 10-2004 là 500.000 đồng, vừa đủ cơm rau qua ngày.


 


Nhiều buổi hai vợ chồng anh phải trốn vào sân Tự Do để bán thuốc lá cho người xem bóng đá. Trần Vàng Sao cũng đã từng balô cuốc thuổng đi đào vàng trên núi, nhưng mấy tháng ròng không kiếm được chỉ vàng nào cả.


 


Chị Hay, vợ nhà thơ, lúc thì chạy chợ, lúc đi bán bánh canh cá lóc. Hết vốn lại về chăm sóc vườn nhà, kiếm ngày dăm bảy ngàn tiền rau dưa. Có lần tôi tặng anh tập thơ mới in của mình, nhìn Trần Vàng Sao mở cuốn thơ hít hít: “Giấy thơm hè, thơm hè!” mà xốn xang trong lòng.


 


Bây giờ muốn in thơ thì phải có tiền mà anh lấy tiền đâu ra ngoài đồng lương hưu còm cõi! Mấy năm trước, bạn bè ở nước ngoài tập hợp in cho anh một tập, lấy tên sách là Bài thơ của một người yêu nước mình, có gửi về tặng anh một cuốn. Nhưng anh chưa được nhìn tận mặt tập thơ được in đầu tiên của mình thì có người đã “mượn” trước rồi chuyền đi đâu mất biến!


 


Có lần hai nhà thơ Nguyễn Hoa và Nguyễn Trọng Tạo từ Hà Nội vô Huế đến thăm anh. Nhà thơ Nguyễn Hoa gợi ý anh làm đơn vào Hội Nhà văn vì từ lâu rồi anh đã rất xứng đáng. Trần Vàng Sao vuốt tóc xoa tay cười thật thà: “Thật cám ơn sự chú ý của các anh nhưng tôi hưu rồi, vô hội làm được gì nữa”.


 


Thật ra Trần Vàng Sao vẫn làm thơ hằng ngày. Và thơ anh vẫn chan chứa những nỗi niềm! Chiều mát, anh lại đạp chiếc xe đạp cà tàng đi thăm bạn bè. Trong các cuộc rượu bầu bạn, anh lại kể miên man về những kỷ niệm thời chiến khu, rồi đọc thơ - những câu thơ có vị mặn như nước mắt... chuyện bông hoa mọc một mình trên đá / cứ hay cười mà không biết có người buồn...


 


Ngô Minh


tuoitre.vn

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn hóa ẩm thực: Phở - món đồ ăn bằng bánh thái nhỏ nấu với thịt bò - Trịnh Quang Dũng 11.12.2017
Văn hóa Ẩm thực: Phở Việt - Kỳ 3: Phở - Trịnh Quang Dũng 10.12.2017
Boris Pasternak Giải Nobel về văn học năm 1958 - Thân Trọng Sơn 09.12.2017
Bộ Tư lệnh Vùng 5 Hải quân - Tư liệu sưu tầm 02.12.2017
Pilates là gì? Lịch sử môn thể thao thời thượng Pilates - Triệu Thiên Hương 01.12.2017
Vĩnh biệt nhà văn Nguyễn Gia Nùng - Triệu Xuân 27.11.2017
Kỳ vọng cường quốc của Trung Quốc chỉ là 'lâu đài trên cát'? - Tư liệu 25.11.2017
Goncourt 2017 thuộc về nhà văn kiêm đạo diễn Eric Vuillard - Tư liệu 25.11.2017
Nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư - Người luôn ẩn mình sau những trang văn - Đỗ Ngọc Yên 24.11.2017
Thầy trò đời nay với thầy trò xưa - Phan Khôi 19.11.2017
xem thêm »