tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21056651
30.12.2011
Vũ Bằng
Cười Đông cười Tây, cười kim cười cổ

Phần 1. Ý nghĩa và giá trị cái cười


Tại sao cười hơn khóc?


Trước đây, văn hào Nguyễn Văn Vĩnh có viết một câu đại khái như sau trong báo “An Nam Mới”:


“Cái sướng nhất đời của tôi là ngả đầu vào tay một người yêu phe phẩy cái quạt lá cho tôi rồi cả hai cùng cười những điều thiên hạ khóc và khóc những cái thiên hạ cười”.


Tôi nhớ mãi câu triết lý đó và phục cố văn hào hết sức. Về sau này, trong đời viết văn làm báo, nhiều lúc tôi vẫn hướng về triết lý đó mà nhìn cuộc đời chúng ta đang sống. Lấy thí dụ một truyện nhan đề là “Một bữa cỗ” tôi viết sau đó ít lâu trong báo “Tiểu Thuyết Thứ Bảy” của ông Vũ Đình Long. Một công chức, làm việc chín mười tiếng đồng hồ một ngày không đủ sống. Đến ngày Tết Trung Thu, anh ta đi “gạ” bạn hữu uống rượu, ăn ốc thật say sưa, đến nửa đêm mới về. Về thì thấy cửa đóng. Kêu mãi, chẳng ai thưa. Anh ta đạp cửa vào thì thấy vợ đã chết còng queo từ bao giờ rồi. Người vợ này ốm hậu sản đã lâu, đến chiều hôm đó mới được Trời giải thoát. Anh say rượu, tưởng đâu là vợ ngủ, xắn tay áo lên, định một hai sinh sự. Biết là vợ chết, anh ta đành thôi. Bên cạnh chị, sáu đứa con nhỏ ngủ lăn ngủ lóc. Anh ta đập trán, suy nghĩ. Thì bỗng nhớ ra rằng phàm trong nhà có người “nằm xuống” tồi ra cũng phải có bát cơm, quả trứng, nén nhang, cây nến.


Anh say rượu bèn khép cửa lại, ra hàng tạp hóa đầu đường, mua một thẻ nhang, bốn cây nến, đem về thắp ở trên đầu giường vợ. Vì nửa đêm không có trứng, anh vào chạn lấy một bát cơm nguội, thắp nhang lên. Rồi cũng làm như tất cả những người chết vợ, anh ta ôm mặt khóc hô hô lên ba tiếng. Anh thấy đời mình khổ mông mênh.


Khổ thì phải làm gì? Khổ thì uống rượu. Anh ta khép cửa lại, ra hàng tạp hóa ở đầu phố làm thêm “xị” nữa. Rồi chân nam đá chân chiêu, anh về.


Về đến nhà thì lũ con đã thức cả rồi. Thấy đèn nến trong nhà sáng trưng, chúng tưởng là nhà có cỗ. Nhưng tại sao mẹ chúng tại nằm im như khúc gỗ thế kia? Chúng cho là mẹ chơi hú tim với chúng. Chúng lay người mẹ. Người mẹ không trả lời. Chúng cho là mẹ chúng đùa dai, lay nữa, thì thấy người mẹ gục đầu xuống ngực, nhe răng ra cả đống. Chúng tưởng là mẹ chúng cười. Thế là chúng cười rộ cả lên.


Anh say rượu về nhà đúng lúc lũ con cười. Anh ta cũng muốn cười để cùng vui với chúng trong lúc ở nhà có chuyện buồn, nhưng rượu gặp gió ngấm hơn cả lúc nào, lại nữa đi đi về về mệt quá, anh không thể nào cười được. Anh ta bèn ngồi xuống ghế, dựa đầu vào cái tựa, nhắm mắt lại rồi ngủ lúc nào không biết, tiếng ngáy pho pho vang cả nhà.


Sau đó ít lâu, Nam Cao - bây giờ đã ra người thiên cổ - viết một truyện ngắn cũng đăng trên “Tiểu Thuyết Thứ Bảy”, nhan đề là “Cười với trăng”.


Truyện này là tôi đọc say mê hết sức.


Truyện tả chính tác giả. Tôi sở dĩ biết thế vì tôi là bạn của Nam Cao. Sinh thời, anh là một người “nghèo rớt mồng tơi”, có lẽ còn nghèo hơn cả Vũ Trọng Phụng. Anh sống trong một làng đồng chiêm, nghèo nhất vùng Nam Định. Tất cả gia sản, chỉ có một cái “xa” xe sợi, một giàn trầu và một khối óc để viết văn. Nhưng văn hồi đó rẻ có phần hơn bây giờ. Vắt óc viết ba, bốn truyện, đến cuối tháng chỉ được mười hai đồng bạc. Không hiểu các nhà tư tưởng duy tâm tìm thấy cái gì thần bí cao siêu trong cuộc đời khổ cực như thế nào tôi không biết, nhưng Nam Cao thì buồn lắm.


Nhưng điểm đặc biệt của anh là không hề thổ lộ nên lời buồn tủi. Trong truyện nào, anh cũng làm cho độc giả phải cười. Như trong truyện “Cười với trăng”, anh tả một văn sĩ đói, bịn rịn một đàn con nheo nhóc cãi nhau oe óe suốt ngày; đã thế lại gặp một bà vợ dữ, cãi nhau cả ngày với chồng vì chị là người thực tế, duy vật, không thể sống với những tư tưởng cao siêu mà đói bụng cùng với đàn con. Anh văn sĩ nghèo rát cổ bỏng họng giảng cho vợ nghe “sự quan trọng của tư tưởng con người” và “tương quan của ý thức với lý tưởng theo nhỡn quan nhà triết học”. Nhưng vợ anh cần gì cái triết lý cao siêu đó, cái tương quan, tương cà mắm muối đó! Chỉ cần ăn thôi. Chỉ cần sống thôi. Chị cũng như Somerset Maugham vậy: tiền, phải có tiền, vì tiền là giác quan thứ sáu, nếu không có giác quan ấy thì ngũ quan kia bị liệt, không thể hành động được.


Anh văn sĩ của ta nói bướng, nhưng thực ra nằm nhìn lên trần nhà suy nghĩ thì thấy vợ mình có lý, và có lý vào hạng nặng. Tuy nhiên, vì sĩ diện của giống đực, anh không thèm nói như thế cho vợ biết, mà lại làm ra mặt phớt tỉnh, nằm gối đầu tay nhìn thẳng lên trời.


Trời có trăng sáng. Anh ta ngắm trăng và suy nghĩ về mặt trăng, về vũ trụ, về đủ các khía cạnh, rồi nghĩ lan man đến đời sống của mình. Anh ta bật lên cười. Nhưng giận vợ giận con quá, anh ta biết cười với ai bây giờ? Anh ta cười với trăng, cười mãi, cười đứt cả hơi cả ruột, và cuối cùng cười đến nỗi chảy cả nước mắt ra.


***


Tôi vừa đơn cử hai thí dụ cười và khóc. Tại sao lại thế? Là vì sống vào thời buổi này, những tiếng khóc chen tiếng cười, tiếng cười chen tiếng khóc phát triển mạnh hơn cả bao giờ hết.


Nhiều lúc, tôi nghĩ có lẽ ta cứ hành động như một anh say rượu trong truyện “Một bữa cỗ” lại hơn, vì khóc “không đi tới đâu”. Cười như anh văn sĩ trong truyện “Cười với trăng” họa chăng còn có lãi, chớ cứ nghĩ lắm, suy tưởng lắm, chỉ hại óc mà thôi, có khi hỏng óc và phát điên là khác.


Chính trong những lúc bể dâu thay đổi, cái cười cần thiết có khi còn hơn cả món ăn. Đó là nói theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen, bởi vì ai cũng biết nhiều khi cười không mất tiền mua, chớ ăn như thời buổi này “mắc mỏ” không chê được: làm đầu tắt mặt tối cả ngày mà không đủ cơm ăn hai bữa.


Vì nghĩ như thế, tôi mới thử tìm hiểu cái cười tự cổ chí kim, từ Đông sang Tây, để xem có đúng như cổ nhân vẫn nói hay không: cái cười có thể làm cho ta no, cái cười có thể làm cho ta sống lâu, cái cười có thể cải tạo phong hóa được (Castigare ridendo mores).


Cứ như bây giờ, đi đâu cũng thấy những nét mặt buồn xo vì chiến tranh, vì túng thiếu, vì kiệm ước, vì khắc khổ, vì các bi kịch do đồng tiền gây ra, tôi e người ta khó mà sống lâu được, đời sống khó mà vui tươi được.


Đời mà không có mùa xuân, mùa xuân mà không có tiếng cười, tiếng hát thì sống làm gì? Mà tiến bộ, tự do, dân chủ chúng ta đem xương máu ra tranh đấu, thử hỏi để cho ai hưởng - nếu chúng ta chết cả vì buồn?


Làm thế nào cho người ta cười?


Ở đời, người ta vui thì cười, ít khi buồn mà cười được. Nhưng làm thế nào cho vui? Ngày xưa, ông Lão Lai đã già rồi, muốn làm vui cha mẹ, giả bộ như mình còn là con trẻ, đùa nghịch ở sân rồi ngã lăn đùng ra. Cha mẹ ông thấy thế cười rộ. Bây giờ, muốn cho những đứa trẻ nhỏ nhất trong nhà vui cười, các đứa lớn méo mồm, trợn mắt làm trò và nhiều khi cũng làm được cho đứa bé cười hô hố.


Có khi, muốn làm cho người khác cười, người ta cù vào chân, vào nách, vào bụng. Kết quả có khi thành công, nhưng nếu gặp phải người đương bực dọc thì hành động như thế có khi trái hẳn với ý định của ta: thay vì làm cho người ta cười lại làm cho người ta tức giận, bực bội, có khi cáu kỉnh.


Thông thường, muốn làm cho người khác cười thì người ta pha trò. Tôi muốn nói đến những truyện cười. Nhưng nếu bây giờ nói đến cái cười mà nói bao quát cả thơ văn thì mông mênh lắm. Ở đây, tôi chỉ muốn thu hẹp phạm vi cái cười vào những truyện cười ngắn, những hài đàm, tiếu lâm.


Thực ra, từ Đông sang Tây, tự cổ chí kim, bao giờ cũng có những chuyện cười để cho người ta nghe đến phải bật cười, nhưng không phải bất cứ chuyện cười nào cũng làm cho người ta cười được. Bên cạnh những chuyện làm cho người ta cười mỉm, cười xòa, cười thầm, cười ha hả, cười nôn ruột, còn có những chuyện cười nhạt, những chuyện cười vừa kể vừa cù vào nách (thọc lét) cũng không thể làm cho ai cười. Đơn cử những truyện cười trong mục Hài đàm của Hif Dinhf Nguyễn Văn Tôi (tức là cụ Nguyễn Đỗ Mục) và của Sơn Phong đăng trên báo “Trung Bắc Tân Văn” hồi mồ ma ông Nguyễn Văn Vĩnh. Lại cũng có những truyện cười quá ư thâm thúy, phải nghĩ nát óc ra mới hiểu để mà cười.


Vậy thì cái gì trong những truyện cười khả dĩ làm cho người ta cười được? Max Eatsman, tác giả cuốn sách “Cái thú được cười”, đã viết một thiên cảo luận về cái cười và tìm hiểu nghệ thuật làm cho người ta cười mà không phải cù vào nách.


Theo ông thì một câu chuyện cười tựu trung chỉ là một trò lỡm người ta, một vố bịp bợm trí khôn của người nghe chuyện. Thoạt đầu tiên, người ta đưa người nghe chuyện đến một kết luận khả phủ, nghe có lý lắm, rồi đột nhiên ngăn chặn đường lại làm cho người nghe chưng hửng.


Hai anh chị nọ yêu nhau quá đỗi, nhưng chưa lấy nhau. Tối nào cũng dắt nhau đi chơi. Một đêm kia trời mưa, anh chị đứng nói chuyện quên về. Mưa đều đều. Anh chị đứng đụt mưa ở dưới mái một căn nhà nọ.


Chừng mười hai giờ khuya, có một người đàn ông đi qua, suýt đâm sầm vào họ; người đàn ông xin lỗi, lảng ra chỗ khác. Nhưng rồi anh ta lại trở lại, đi đi lại lại, rồi thỉnh thoảng lại liếc trông vào cặp nhân tình. Chàng trai cho là chướng, không chịu nổi. Cô ả ngờ là “cô bồi” sắp cướp giựt bóp tiền. Người lạ mặt lại đi từ từ đến trước mặt họ rồi lại lảng đi chỗ khác. Nhưng anh ta không đi hẳn, cứ vẩn vẩn vơ vơ trước mặt cặp nhân tình.


Chàng trai tức không chịu được. Chàng nhất định phải làm cho tên lạ mặt kia một mẻ ê chề. Chàng tiến nhanh đến trước mặt người khách lạ, quát lên:


- Ông là người bất lịch sự! Cớ gì ông cứ dòm ngó chúng tôi? Hay ông muốn làm trò gì thì bảo!


Người lạ mặt, lễ phép, cúi đầu:


- Thưa ông, tôi xin lỗi. Tôi không định làm trò gì cả. Tôi chỉ định về nhà tôi. Mà ông bà đứng án ngữ như thế, tôi thấy cứ vào đại thì không tiện!


Hoặc một truyện rất mới sau đây:


Ở một nước thi hành chính sách khắc khổ, thắt lưng buộc bụng, một ông đến thăm viên y sĩ chính trong một nhà thương điên. Ở hành lang, ông ta gặp một người đàn ông bận áo “bờ lu” trắng, tay cầm cái chổi. Người đàn ông cầm chổi nhìn ông khách rất trịnh trọng, rồi nói:


- Ông đi tắc xi không? Mời ông lên xe đi!


Ông khách biết là mình trúng phải một người điên rồi đành phải ngoan ngoãn bước lên cái chổi. Ông mặc bờ lu kéo đi vài bước rồi ngưng lại:


- Đến nơi rồi. Xin ông bảy mươi đồng.


Ông khách trả tiền rồi đi vào trong phòng giấy ông y sĩ chính.


Ông phàn nàn:


- Bác để các bệnh nhân điên rồ của bác đi tự do ở hành lang như vậy à?


- Không, y có phải là bệnh nhân đâu. Y không điên, y là phụ tá của tôi đấy. Lương ở đây chết đói. Y phải làm như thế để kiếm thêm.


Có khi câu chuyện bắt đầu rất bình thường, nhưng đến giữa chuyện thì người kể chuyện chuyển hướng đột ngột, bất ngờ để đưa người nghe chuyện đi đến một kết luận hoàn toàn khác hẳn cái kết luận mà người nghe dự tưởng:


- Thưa ông, có phải hình như chúng ta đã gặp nhau mùa hè rồi ở Đà Lạt phải không?


- Rất tiếc, không thể có chuyện như thế được. Tôi chưa hề đi Đà Lạt bao giờ.


- Thì tôi cũng vậy, tôi chưa hề đi Đà Lạt bao giờ cả. Thế thì chắc hẳn là hai người khác gặp nhau ở đó, chớ không phải chúng ta.


Một chuyện khác:


- Tại sao ở nước ông không có thịt?


- Là vì bò phải sống để làm việc, còn những con cừu thì cai trị người ta.


Hoặc một chuyện sau đây cũng xảy ra ở Nga Xô:


Ba can nhân bị giam trong một xà lim. Họ không nói gì với nhau cả tháng. Họ nuốt hận vào lòng. Một hôm, có một người nói:


- Tôi bị giam vì năm 1947 tôi đã chửi Béria(1).


Người thứ hai:


- Còn tôi, tôi bị tù vì năm 1950, tôi đã quá ca tụng Béria.


Hai người cùng nhìn người thứ ba. Anh này lắc đầu, rầu rĩ:


- Còn tôi, tôi là Béria!


Nói mãi chính trị buồn, xin kể một câu chuyện thường để đổi không khí đi một chút:


Ở trại. Một thanh niên hớt hơ hớt hải gọi cổng một cái trại kế bên. Một cô gái đẹp ra mở cửa.


- Thưa cô, con bò cái trắng của tôi có chạy sang bên này không?


- Không, không có con bò cái trắng nào chạy sang trại tôi hết. Nhưng tại sao ông lại biết nó chạy sang trại tôi?


- Ấy, tôi cứ nói bừa như thế. Bởi vì nếu không như vậy thì tôi có cách gì làm quen được với cô?!


Bây giờ ta thử suy nghĩ thêm một chút và theo dõi diễn tiến của truyện cười. Ta sẽ thấy hai đặc điểm:


1- Ta đi thoăn thoắt trên một con đường để đi đến một hướng đã định.


2- Ta bị chưng hửng y như một người dự một chuyến khởi hành của một toa tàu tư tưởng rồi đột nhiên bị trật đường ray.


Ông nọ đến thăm một bác sĩ chuyên chữa bệnh thần kinh lần đầu tiên.


- Thưa bác sĩ, tôi ở một biệt thự đẹp nhất ở Sài Gòn, tôi có một xe hơi Mercedès, có tài xế, nhà tôi có bể bơi, máy lạnh, năm người làm. Riêng tiền ăn nhà hàng của tôi cũng từ ba mươi đến bốn mươi ngàn đồng.


Nhà thần kinh học hỏi:


- Như thế là phởn rồi. Tôi không hiểu làm sao ông lại băn khoăn tìm đến tôi?


- Có gì đâu, tôi đến bác sĩ là vì tôi chưa kiếm được năm ngàn đồng một tháng.


Cũng thuộc vào loại này, trong tiếu lâm ta cũng có nhiều chuyện tương tự. Nhân đây, chúng tôi tưởng cũng nên nói đến “lịch sử tiếu lâm” của ta một chút trước khi bước sang địa hạt so sánh Tiếu lâm ta và Tiếu lâm Tây.


Truyện tiếu lâm của ta phổ biến trong dân gian đã lâu nhưng người nào đã nghĩ đến chuyện sưu tập các chuyện cười đó lại? Sưu tập ca dao, tục ngữ là Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, nhưng người đầu tiên sưu tập chuyện tiếu lâm ta là ai? Có nhiều người không biết. Vì nghề nghiệp, tôi được biết người ấy là ai: Đó là cụ Phạm Duy Tốn, ký biệt hiệu là Thọ An, tác giả ba tập “Tiếu lâm quảng ký”. Lúc ấy cha mẹ tôi làm nhà xuất bản “Quảng Thịnh” ở Hàng Gai. Do nhà Ích Ký ở phố Hàng Giấy để lại, cha tôi mua được bản quyền ba cuốn “Tiếu lâm quảng ký” của cụ Phạm Duy Tốn. Có lẽ chính thạc sĩ Phạm Duy Khiêm và các anh Phạm Duy Nhượng, Phạm Duy Cẩn đến giờ cũng chưa biết cái tài hoa của cụ Tốn lại đa diện đến như thế.


Truyện “Tiếu lâm quảng ký” là một cuốn sưu tầm chuyện cười chắc chắn trước đây và sau này không thể có ai làm hơn được. Tôi còn nhớ mở đầu, trong tập thứ nhất, là một truyện như sau:


Có anh kia sợ vợ có tiếng, phải phơi váy cho vợ. Đã thế ông láng giềng lại sợ vợ hơn. Một hôm, ông láng giềng phơi váy cho vợ thế nào quên khuấy mất, bị trời mưa mà không cất.


Vợ mắng cho tàn tệ. Anh bên này cáu quá, mắng vốn sang:


- Đồ hèn ở đâu! Phải tay ông thì…


Bất ngờ vợ ông này nghe tiếng, sấn sổ hỏi chồng:


- Phải tay ông thì ông làm gì?


Người chồng đáp:


- Phải tay ông thì ông cất váy ngay cho vợ từ trước khi trời mưa, chứ còn làm sao!


Những truyện do cụ Phạm Duy Tốn ghi lại trong “Tiếu lâm quảng ký” viết rất có duyên, có nhiều truyện tục không chê được. Vì bây giờ, tiếp xúc với ngoại bang nhiều, người mình đạo đức hơn ngày xưa, bảo vệ thuần phong mỹ tục hơn cả bao giờ hết, nên tôi không dám thuật lại một số truyện mặn mà hết sức như “Úm ba la ba ta cùng khỏi”, “Ông thầy chữa mắt”, “Mày ỉa ra đấy ông cũng chịu” mà chỉ thuật lại mấy truyện rất thường:


Một bọn sợ vợ, một hôm, bàn luận với nhau uất quá, rủ nhau lập một hội kêu là hội sợ vợ.


Hội chọn một ngày tế thần, rồi quyết định cắt máu ăn thề với nhau, không thèm sợ vợ nữa, ai vi phạm nội quy của hội thì chết một đời cha, ba đời con.


Bất ngờ lúc ông chủ tịch đang quỳ xuống đọc văn tế thần phù hộ cho hết sợ vợ thì có một bà đi qua đấy, biết chuyện về kêu các bà khác ra làm to chuyện. Các ông sợ quá, chạy tán loạn cả lên. Mãi về sau, nghe yên ổn rồi, mới dám về để xem trộm tình hình thì thấy ông chủ tịch vẫn cứ quỳ, tay cầm nguyên tờ văn tế.


Mấy người xì xào:


- Mình chọn được ông chủ tịch thực là xứng đáng. Bọn mẹ ranh đến làm dữ mà nhất định không thèm chạy.


Bèn kéo đến để hoan nghênh thì lại gần té ra ông chủ tịch, sợ quá, đã chết cứng từ bao giờ rồi!


Một chuyện khác:


Một ông đồ đến dạy học ở nhà kia gặp phải bà chủ góa chồng.


Đêm đến, ông mò đến giường bà chủ, chẳng may người nhà lại thấy ông, đúng giữa lúc ông trốn ở dưới gầm giường. Người nhà lôi ông ra vặn hỏi:


- Chớ đêm hôm khuya khoắt, ông không ngủ, mò đến đây để toan làm chuyện bậy bạ phải không?


Bí quá, ông đồ nói:


- Bậy nào, tôi đau bụng ra đây đi ỉa.


- Ỉa thì cứt đâu?


- Cứt ông ăn rồi!


Người phương Tây cũng có những chuyện tương tự thế, nhưng làm cho người nghe tưng hửng một cách khác (nhưng cũng phi đạo đức hơn một chút):


Một ông kia đi vắng mấy hôm về nhà. Con ông - một thằng nhỏ lên năm tuổi, chạy ra méc:


- Ba ơi ba, trong buồng có ma!


- Con nói gì lạ! Làm gì có ma?


- Có, nhất định có ma. Con ma nó trốn ở trong tủ áo đó. Ba cứ vào mà coi.


Nghe con nói, bán tín bán nghi, người bố lên gác, mở tủ áo của vợ ra. Thì quả trong tủ áo có một người đàn ông ngồi xổm, đầu tóc rối bù, quần áo nhàu nát. Người ấy chính là bạn thân nhất của ông ta tên là Sơn.


Ông ta bèn la lên:


-            Ối Sơn ơi, tôi không ngờ anh lại nỡ cư xử với tôi như thế. Hồi Nhật, nó bắt anh, tôi cứu, đến khi Pháp trở lại, anh bị tù, tôi lại cứu anh. Vậy mà anh cảm ơn tôi thế à? Anh nỡ lòng nào như vậy? Anh trốn vào trong tủ áo để cho con tôi nó tưởng là ma, nó hoảng cả lên!


Tại sao trẻ con cười? Tại sao người lớn cười?


Qua mấy thí dụ điển hình trên đây, các bạn đã thấy chuyện cười Đông cũng như Tây, cổ cũng như kim, có một điểm này gần giống nhau: mặc dầu các nhân vật trong các câu chuyện đó ra sao đi nữa thì chính các bạn - những người nghe chuyện, cũng bị lỡm trước tiên. Thoạt nghe câu chuyện bạn tưởng thế này, bạn đoán thế kia, có khi bạn lại tưởng là một chuyện trang nghiêm lắm, nhưng rút cuộc trật hết. Người kể chuyện cho bạn “trật đường ray”, chính bạn muốn cười mà thành ra lại bị cười:


Giáo sư hỏi học sinh cắt nghĩa Kangourou(1) là gì. Học sinh nói: “Kangourou là một con vật có một cái túi ở bụng và nó trốn vào trong cái túi ấy mỗi khi gặp chuyện nguy hiểm”.


Mấy truyện sau đây thoạt nghe cũng trang nghiêm:


Có hai can nhân nói chuyện với nhau trong một trại giam.


Thằng thứ nhất hỏi:


- Tại sao mày bị bắt?


- Tao ăn cắp hàng hóa ở trong hãng tao làm việc. Còn mày, tại sao mày bị bắt?


- Tao bị bắt là vì tao lười biếng.


Trong một phiên chợ ở một xứ kia, có hai anh ngồi bán những cái ghế đẩu bằng cây.


Anh thứ nhất bảo anh thứ hai:


- Tôi lấy làm lạ sao anh có thể bán mỗi cái ghế có ba đồng bạc. Chính tôi, tôi đóng ghế bằng cây ăn cắp được mà vốn cũng đã tới bốn đồng rồi!


- Có khó gì! Anh nên bắt chước tôi. Tôi ăn cắp ghế đã đóng sẵn cho nên bán rẻ mạt!


Có một du khách đến thăm xứ Ba Lan. Ông ta thấy một nhà máy gạch rất lớn, bèn nói với người bạn Ba Lan cùng đi:


- Nước ông sản xuất nhiều gạch lắm. Chắc xây cất nhà cửa nhiều.


- Không. Bởi vì gạch này chúng tôi gửi đi Tiệp Khắc.


- Thế người Tiệp trao đổi cho các ông máy móc?


- Không, bởi vì người Tiệp gửi máy móc sang cho nước Bảo.


- Thế thì hẳn nước Bảo gửi rau cải sang đây cho các ông?


- Không, bởi vì Bảo gửi rau cỏ cho xứ Cuba.


- Hẳn là Cuba gửi đường cho các ông?


- Không, vì Cuba gửi đường cho Nga Xô.


- Thế thì Nga Xô gửi tất cả đồ cần thiết cho các ông chứ gì?


- Cũng không nốt. Bởi vì Nga Xô gửi đất thó sang cho nước tôi làm gạch!!!


Có một nhà tâm lý học nghiên cứu về cái cười đã đưa mười lăm đứa trẻ chưa tới một tuổi ra thí nghiệm để tìm hiểu tại sao chúng lại cười, cái gì làm cho chúng cười. Đùa lối này làm cho trẻ con thích nhất: người thí nghiệm ẵm đứa bé làm ra bộ tung nó vào tay mẹ nó, nhưng chính lúc đứa trẻ yên trí rơi vào tay mẹ nó thì nhà tâm lý học đột nhiên thụt lùi nó lại đằng sau, đứa bé cười lên khanh khách, thích thú không tả được. Chính “nạn nhân” của trò đùa bịp bợm lại thích thú trò đó và cười.


Đây, các bạn nghe câu chuyện sau đây của nhà văn hoạt kê bậc nhất người Mỹ kể cho độc giả nghe câu chuyện nói về một “vố” tương tự vố tôi vừa nói:


Người khách đến thăm ông, một hôm thấy trên bàn ông một tấm hình. Người khách hỏi:


- Chắc đây là hình của anh hoặc em ông. Trông giống ông hết sức.


- Chính vậy… Nghe ông hỏi, tôi lại nhớ đến y. Y chính là anh em với tôi. Bố mẹ tôi đặt tên y là Bin. Tội nghiệp thằng Bin!


- Trời, Bin đã chết rồi sao?


- Tôi đoán chừng như thế. Thực ra chúng tôi chưa bao giờ biết rành mạch được vụ này, bởi vì có một cái bí mật lạ lùng bao phủ lên vụ này.


- Nghe buồn quá. Thế câu chuyện đầu đuôi xảy ra như thế nào, hở ông? Hay là người anh em của ông mất tích?


- Lời ông vừa nói chỉ đúng một phần nào thôi… Gia đình tôi đã chôn y rồi!


- Chôn rồi! Gia đình ông chôn mà không biết là y chết hay còn sống?


- Đâu có chuyện ấy. Ông khéo tưởng tượng thế thôi. Y chết thực rồi.


- Ồ, tôi chẳng hiểu ra sao hết. Nếu gia đình ông chôn y thì quả biết là y đã chết rồi.


- Không! Không! Chúng tôi đoán chừng như thế mà thôi.


- À thôi, tôi hiểu rồi. Chôn y rồi, y lại sống lại chứ gì!


- Tôi cam đoan với ông không phải thế.


- Ông nói giỡn hay sao? Người anh em ông đã chết và người nhà ông đã đem chôn… Thế thì có cái gì là bí mật? Bí mật ở chỗ nào?


- Ấy vậy mà thưa ông, câu chuyện đúng như thế đó. Nghĩa là thế này: Tôi với Bin là anh em đẻ sanh đôi mà người chết là tôi. Vậy một hôm kia - lúc đó chúng tôi mới sanh được nửa tháng - chị vú tắm cho chúng tôi và lầm, không biết đứa nào vào đứa nào. Một trong hai đứa chúng tôi chìm trong bồn tắm. Đứa nào chết? Không ai biết. Có người bảo đứa chết là Bin. Có người cho là tôi chết.


- À, thế thì tôi hiểu rồi. Vậy ý ông ra thế nào?


- Đây, tôi xin tiết lộ với ông một điều bí mật mà từ trước tới nay tôi chưa hề nói với ai bao giờ. Trong hai anh em chúng tôi, có một thằng có mụt ruồi trên bàn tay mặt, chính tôi đã có mụt ruồi đó. Và người nhà tôi đã chôn chính thằng nhỏ ấy.


Trên kia đã nói tại sao trẻ con cười, bây giờ cũng nên tìm hiểu tại sao người lớn cười. Phong dao ta có câu:


Làm người có miệng có môi,


Khi buồn thì khóc khi vui thì cười.


Nghe như thế, thường lắm. Các nhà tâm lý học, nghiên cứu học đi sâu vào cái cười của con người ta hơn. Có người sưu tầm nguyên nhân cái cười, có đoạn viết như sau trong “Văn Hóa Nguyệt San” (1953):


Hy vọng cái gì, làm xong một công việc gì, hay gặp điều gì thích chí thì trong người khoan khoái, sung sướng, vui vẻ. Cái sung sướng ấy phát lộ ra ngoài làm cho mặt mày hớn hở, mép nhếch, mỗi cử động là nụ cười. Lại thêm mồm há, răng lộ, đưa ra một làn hơi thốt tự đáy lòng, vang động thành tiếng, ấy là tiếng cười.


Rơi châu lúc thấy đời nên khóc,


Nhoẻn miệng khi hay chuyện nực cười.


(Ư lưu lệ xứ hoàn lưu lệ, cập giải di thời tiện giải di)


Trước kia người ta công nhận rằng:


Muôn loài trên trái đất đều không biết cười. Chỉ riêng con người là biết cười và được nếm cái hương vị quý giá vô ngần ấy thôi. Đúng như lời Rabơle (Rabelais) đã nói:


“Cười là đặc điểm riêng biệt của người ta”.


(Le rire est le propre de l’homme)


Thực ra, nào ai đã được trông thấy hoặc nghe thấy loài vật cười bao giờ đâu! Có chăng chỉ thấy ở trong những pho truyện thần tiên hay những tác phẩm của Dichnê (Walt Disney):


“Trên rừng vượn hót, dưới khe cá cười”.


Chuột Míchkê (Mickey mouse) và vịt Đônan (Donald duck), dưới hình thức thú vật, đã được hưởng ba đặc ân mà tạo hóa chỉ ban riêng cho loài người từ trước tới nay: lý luận, nói và cười. Ngoài ra, ta chưa thấy một con vật nào nuôi ở trong nhà, hoặc sống ở nơi hoang dã, có thể nói cười để giãi bày nỗi vui mừng hay lòng mãn nguyện được. Những tiếng “chẹt, chẹt”, “hú hu” chẳng hạn chẳng qua chỉ dùng để bộc lộ nỗi bất mãn hoặc tính háo hức gần như điên cuồng của loài khỉ.


Những người canh cổng ở sở thú công nhận rằng những con vượn nhỏ ở Phi châu không được ăn no thì mặt nhăn như mặt khỉ.


Nhiều nhà bác học lại quả quyết rằng loài khỉ cũng biết cười. Nhưng thực ra cái cười ấy chỉ là một sự nhếch mép vị tất đã biểu lộ được lòng vui thích. Họ viện cớ rằng theo các nhà nhân chủng học thì khỉ là thủy tổ loài người, vậy cái cười của loài khỉ tất nhiên là cái cười sơ thủy của loài người vậy. Nhưng đó vẫn chỉ là giả thuyết mà thôi.


(còn tiếp)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.







(1) Giám đốc Công an Nga.




(1) Kangourou là một giống vật bốn chân ở Úc châu (chuột túi).



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »