tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21075322
Tiểu thuyết
29.12.2011
Henry Fielding
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1

CHƯƠNG IV


Gồm một cuộc chiến vô cùng đẫm máu hoặc đúng hơn một cuộc đọ gươm, chưa từng thấy trong lịch sử các gia đình.


 


Vì những lý do đã dẫn ra trong chương trên, và do một vài sự nhượng bộ nào đó trong gia đình mà đa số các ông chồng thừa biết, những sự nhượng bộ giống như những bí mật của Hội Tam điểm, không thể tiết lộ cho ai không phải là hội viên của tổ chức đáng kính kia - bác Pact'rigiơ gái đã hoàn toàn hài lòng mà công nhận rằng mình đã vô cớ buộc tội chồng; để đền bù vì nỗi nghi oan, bác gái ra sức chiều chuộng chồng. Quả thật, tình cảm của bác bao giờ cũng mãnh liệt không kể hướng về phía nào, vì bác có thể giận dữ rất ghê gớm mà cũng có thể âu yếm nồng nàn không kém.


Thông thường, hai loại tình cảm mãnh liệt này vẫn lần lượt tiếp nhau, và ít khi trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ mà nhà sư phạm lại không được nếm cả hai, đến một mức nào đó. Tuy thế, trong những trường hợp đặc biệt, khi cơn bão táp thịnh nộ nổ ra quá lớn, thường thường thời gian hòa hoãn cũng lâu hơn, và cũng chính là trường hợp hiện tại. Sau khi cơn ghen chấm dứt, bác gái tiếp đến thái độ âu yếm khá lâu, ông chồng chưa bao giờ thấy. Ví thử không có vài bài tập mà các môn đệ của Xantíp bắt buộc phải làm hàng ngày, thì ông giáo Pact'rigiơ đã được hưởng một sự thư thái hoàn toàn trong nhiều tháng.


Khi mặt bể yên lặng như tờ, người đi bể lão luyện thường ngờ rằng chính là dấu hiệu báo trước cơn bão sắp tới. Tôi biết có một số người, nói chung, không phải là mê tín, vẫn sẵn sàng lo ngại tiếp theo sự êm đềm lặng lẽ lớn lao và bất thường sẽ là điều ngược lại; vì lẽ đó, thời cổ, vào những trường hợp này, người ta hay dâng vật hiến tế cho nữ thần Nêmêxix( ) vì tin rằng vị thần này vẫn nhìn hạnh phúc của con người với một con mắt đố kỵ, và cảm thấy đặc biệt thích thú trong việc cướp nó đi.


Chúng tôi không hề tin vào vị nữ thần tà giáo này, và cũng chẳng khuyến khích sự mê tín, cho nên chúng tôi mong rằng, Jôn Fr... tiên sinh hoặc một triết gia tương tự nào đó, hãy hoạt động bộ óc thêm một chút để khám phá ra cái nguyên nhân thực sự đã gây ra sự chuyển dịch đột ngột từ may sang rủi, như ta thường nhận thấy và sau đây chúng tôi sẽ dẫn ra một thí dụ. Vì phạm vi hoạt động của chúng tôi chỉ là kể lại sự việc, còn nguyên nhân ra sao, xin nhường để các bậc cao minh đoán xét. Người ta thường thích lấy việc dò biết và bàn tán về hành vi của kẻ khác làm điều thú vị. Do đó, ở bất cứ xứ nào, vào thời nào, cũng vẫn có những nơi dành riêng cho những cuộc tụ họp công cộng, nơi những kẻ tò mò có thể gặp gỡ và thỏa mãn thói hiếu kỳ của nhau. Trong số những nơi này, quyền ưu tiên phải dành cho các cửa hàng thợ cạo. Với người Hy Lạp thì "tin tức thợ ngôi" đã trở thành một thành ngữ và trong một bài văn thuộc loại thư tín, Hôraxơ( ) đã trịnh trọng nhắc đến những bác thợ cạo La Mã với ý nghĩa tương tự.


Ta đều rõ các bác thợ cạo người Anh không hề chịu thua kém các bậc tiền bối Hy Lạp, hoặc La Mã của họ. Tại những nơi này, các bạn thấy những việc ngoài nước được đem ra bàn cãi không kém gì các quán cà phê, tại các tiệm cắt tóc, và những việc trong nước còn được đề cập tới một cách rộng rãi và tự do hơn nhiều. Song đó là chuyện riêng của nam giới. Vì phụ nữ xứ này đặc biệt là tầng lớp dưới còn hay túm tụm hơn phụ nữ các nước khác nhiều, cho nên nền chính trị của chúng ta sẽ rất thiếu sót nếu như không dành một lối nào đó tương tự để cho họ thỏa mãn tính tò mò, bởi lẽ về mặt này, họ cũng không thua kém phần nửa kia đồng loại.


Do đó, trong việc sử dụng những chốn họp mặt này phái đẹp Anh quốc nên tự coi là có hạnh phúc hơn chị em nước ngoài: vì tôi không nhớ đã đọc trong sử hoặc mắt đã được nhìn thấy trong những chuyến đi du lịch, một tình trạng tương tự.


Nơi ấy, không đâu khác chính là cửa hàng tạp hóa, chỗ mà ai cũng biết, tập trung mọi tin tức, hoặc vẫn gọi nôm na là những chuyện ngồi lê mách lẻo tại các xứ đạo nước Anh.


Một hôm, tại cuộc họp mặt này của nữ giới, một bà láng giềng hỏi bác Pact'rigiơ gái xem bác có biết gần đây có tin tức gì về Jenny Jôn không. Bác đáp không, bà kia mỉm cười bảo xứ đạo phải mang ơn bác lắm lắm vì bác đã tống cổ cô ta đi nơi khác.


Bạn đọc cũng biết bệnh ghen của bác Pact'rigiơ gái đã khỏi từ lâu, mà bác cũng không có mâu thuẫn gì khác với chị hầu gái nên bác thẳng thắn trả lời "Chẳng rõ xứ đạo chịu ơn tôi vì lẽ gì. Chỉ biết từ khi đuổi Jenny đi, tôi chẳng kiếm được một người làm nào tốt bằng cô ta".


Bà láng giềng nói:


- Thật vậy à, tôi lại không mong thế, mặc dù hình như vùng ta không thiếu gì loại gái lẳng lơ. Thế ra hình như bác không biết tin cô ta vừa sinh hai đứa con hoang? Nhà tôi và ông ủy viên cứu tế bảo rằng vì không đẻ ở đây nên xứ đạo ta không phải nuôi chúng.


Bác Pact'rigiơ gái vội vàng đáp:


- Hai đứa con hoang! Bác nói lạ. Chẳng biết xứ đạo ta có phải nuôi chúng hay không, nhưng tôi tin chắc có chửa thì phải từ hồi còn ở đây; nó mới đi khỏi đây chưa được chín tháng mà.


Không gì hoạt động bất thần và nhanh nhẹn bằng trí óc, đặc biệt khi nó được thúc đẩy bởi hy vọng và sợ hãi, hoặc bởi thói ghen tuông, mà so với thói ghen hai thứ kia chỉ đáng làm đầy tớ. Thế là lập tức, bác Pact'rigiơ gái nhớ ra rằng hồi Jenny còn ở nhà bác, hầu như cô ta không bao giờ bước chân ra khỏi nhà. Cùng một lúc, những việc ông giáo nghiêng mình bên ghế, Jenny đột nhiên đứng phắt lên, rồi câu nói bằng tiếng La tinh, với cái cười mỉm và nhiều chi tiết khác ùn ùn kéo đến đầu bác. Bây giờ bác thấy sự hài lòng của chồng bác khi Jenny bị đuổi đi có vẻ là giả tạo, mà đồng thời cũng lại là thực và nó lại càng xác nhận mối nghi ngờ của bác, chắc ông đã chơi no chơi chán rồi, và vì hàng trăm lý do xấu xa khác. Tóm lại bác yên trí chồng bác có tội, và lập tức bỏ ra về, vẻ bối rối .


Cô nàng Grimankin tuy thuộc ngành út trong họ hàng nhà hổ, nhưng tính dữ tợn thừa hưởng được của các ngành trưởng không hề suy giảm. Tuy thua kém về sức khỏe, song về mặt hung hãn, cô cũng sánh được với chính con cọp hiên ngang, khi một con chuột nhắt bị cô vờn đã lâu, bỗng thoát khỏi móng vuốt của cô trong một lúc rồi càu nhàu chửi bới; song, nếu cái hòm, cái hộp, đằng sau có chú nhắt nấp mình được khiêng đi, thì cô nàng sẽ lao nhanh như chớp đến con mồi, và cào cắn cấu xé con vật bé bỏng trong cơn giận dữ điên cuồng.


Với một cơn thịnh nộ không kém ghê gớm, bác Pact'rigiơ gái lao vào ông giáo đáng thương. Lưỡi, răng và tay bác lập tức cùng một lúc hoạt động trên người ông. Phút chốc, mớ tóc giả của bác trai bị rứt tung ra khỏi đầu, tấm áo lót bị xé toạc lưng, và trên mặt bác năm vệt máu chảy ròng ròng, dấu hiệu của số lượng vuốt sắc mà không may tạo hóa đã trang bị cho kẻ thù.


Thoạt đầu, một hồi lâu bác Pact'rigiơ chỉ hành động để tự vệ; bác định chỉ lấy hai tay che mặt; song, thấy sự điên cuồng của đối phương không hề sút giảm, bác mới nghĩ ít nhất thì cũng có thể tước khí giới của đối phương, hoặc là khóa hai cánh tay của bác gái lại. Thế là trong cuộc vật lộn, cái khăn đội đầu của bác gái rơi tụt xuống, mớ tóc ngắn quá không đủ xõa xuống vai, bèn dựng đứng trên đầu. Tấm coocxê cũng vậy, nó chỉ được buộc bởi một sợi dây xuyên qua một lỗ mé dưới, thành thử nó bục ra, và cặp vú của bác còn phong phú hơn mớ tóc nhiều, lúc ấy vươn dài xuống quá thắt lưng. Mặt bác bị vấy máu của chồng; bác nghiến hai hàm răng giận dữ, và cặp mắt ném ra những tia lửa như cái lò rèn, đến nỗi vị nữ anh hùng Amazôn( ) này có thể còn làm khiếp đảm ngay cả người đàn ông táo tợn hơn ông giáo Pact'rigiơ nhiều.


Cuối cùng, may nhờ khóa được hai cánh tay bác gái, võ khí của bác ta ở đầu các ngón tay trở thành vô dụng; bác gái nhận thấy thế, lập tức tính dịu dàng của giới phụ nữ át ngay được cơn cuồng nộ; bấy giờ, bác mới òa ra khóc lóc thảm thiết rồi ngất lịm đi để kết thúc.


Cái phần sáng suốt nhỏ bé thầy giáo Pact'rigiơ còn giữ được suốt cơn thịnh nộ của vợ, và chẳng rõ duyên cớ bởi đâu, bỗng biến mất sạch. Bác lập tức chạy ra phố hô hoán ầm lên rằng vợ bác sắp chết; bác van nài bà con láng giềng mau mau đến cứu. Nhiều bà tốt bụng theo lời bước vào nhà sử dụng những thứ thuốc thông thường vẫn dùng trong trường hợp này. Cuối cùng, bác gái tỉnh lại, ông chồng lấy làm mừng lắm.


Vừa mới tỉnh lại, và mới bình tĩnh lại đôi chút nhờ uống thuốc trợ tim, bác gái đã rêu rao ngay với bà con láng giềng rằng chồng xử tệ đủ điều. Bác bảo chồng bác không những đã phản bội ngay trên giường của bác, mà khi bác trách về chuyện ấy còn đối xử với bác tàn nhẫn không thể tưởng tượng nổi: đã giật mũ rứt tóc, xé rách cả chiếc coocxê, lại còn đánh đấm bác, vết đấm còn rõ trên người bác mang cho tới lúc chết.


Người đàn ông tội nghiệp, trên mặt còn mang những dấu vết rõ ràng về cơn tam bành của vợ, cứ lặng người đi trước những lời buộc tội. Tôi tin bạn đọc sẽ làm chứng hộ bác rằng lời buộc tội kia quá sự thực rất nhiều, vì quả tình bác không hề đánh vợ một cái nào. Song toàn thể mọi người đứng đấy thấy bác im lặng bèn cho là bác nhận tội. Họ liền lập tức una voice( ) trách mắng, xỉ vả bác, nhắc đi nhắc lại rằng xưa nay chỉ có kẻ hèn nhát mới đánh một người đàn bà tàn nhẫn như vậy.


Ông giáo Pact'rigiơ nhẫn nại chịu đựng tất cả, nhưng khi bà vợ viện những vết máu trên mặt ra làm chứng về thói dã man của mình, thì bác không thể không cãi lại đấy là máu của chính bác, mà quả thế thật; bác nghĩ máu của chính bác mà lại đứng lên (như vẫn nghe người bị giết vẫn thường lại đứng lên như thế) để trả thù bác thì thật quái dị.


Về vấn đề này, mấy bà láng giềng chỉ đáp rằng đáng tiếc máu ấy lại từ mặt bác chứ không từ tim bác chảy ra. Bà não cũng nói ví thử chồng họ dám đụng vào người họ, họ sẽ vắt kiệt máu từ trong tim chồng họ ra cho biết tay.


Rầy la bác chán chê về chuyện đã qua, họ lại khuyên nhủ bác Pact'rigiơ mọi nhẽ về cách ăn ở từ nay về sau; cuối cùng, các bà ra về, để lại hai vợ chồng ngồi nói chuyện riêng với nhau, do đó thầy Pact'rigiơ mới vỡ lẽ vì đâu nên nỗi phải chịu khổ.


 


CHƯƠNG V


Gồm nhiều vấn đề để luyện tài


phán đoán và sự suy nghĩ của bạn đọc.


 


Tôi tin là ít khi một điều bí mật được tiết lộ chỉ với một người, đó là một nhận xét rất đúng; song, chắc chắn là nếu một sự việc thuộc loại này đã lan truyền khắp xứ đạo ai ai cũng biết, mà lại không lan rộng ra ngoài, thì đấy cũng gần như là một điều kỳ lạ.


Quả thật, chỉ sau ít ngày, theo lối nói thông thường, khắp vùng đã lừng lẫy tiếng tăm ông giáo ở Litơn Bađingtơn. Người ta đồn ông ta đã đánh vợ hết sức tàn nhẫn. Chỗ này, người ta nói ông ta giết chết vợ; chỗ khác, bảo ông ta đánh gẫy tay, chỗ khác nữa, nói là ông đánh vợ què chân; tóm lại người ta khẳng định bác Pact'rigiơ gái đã phải chịu đựng, do bàn tay chồng, hầu như mọi sự thiệt hại có thể xảy ra cho một con người.


Tin đồn về nguyên nhân gây ra vụ cãi lộn này cũng khác nhau, vài người nói rằng bác Pact'rigiơ gái túm được chồng đang ăn nằm trên giường với chị hầu gái, và cứ như vậy, nhiều lý do khác, thuộc nhiều loại khác nhau đã được loan truyền đi. Lại có một số người đảo lộn lại sự việc, bảo rằng chính bác gái phạm tội, còn ông chồng đánh ghen.


Bà Winkin nghe biết về vụ cãi lộn ấy từ lâu, nhưng vì tin đến tai bà lại là một lý do khác hẳn lý do thật, nên bà nghĩ hãy giấu kín. Có nhẽ bà thấy càng nên giấu vì mọi người đều đổ lỗi lầm vào đầu bác Pact'rigiơ giai; mà bác gái thì hồi làm công trong nhà ông Oluơtdi đã làm cho bà Winkin phật ý về một việc gì đó, mà bà vốn không phải là người dễ tha thứ.


Bà Winkin có con mắt nhìn mọi sự việc từ xa và có khả năng nhìn thấu vào tương lai trước có đến mấy năm, cho nên bà nhận ra rằng rất có thể đại úy Blifin sẽ trở thành ông chủ của bà lắm. Bà lại thấy rõ ràng là ông đại úy không ưa gì thằng bé con nuôi, nên bà nghĩ ví thử bà phát hiện được điều gì khả dĩ khiến cho ông Oluơtdi giảm bớt cái tình thương yêu đối với đứa bé vốn làm cho ông đại úy khó chịu ra mặt, tức là bà giúp được ông ta một việc làm thú vị. Viên đại úy vốn không sao giấu giếm được hoàn toàn thái độ ấy, ngay cả trước mặt ông Oluơtdi, mặc dầu bà vợ đóng kịch trước công chúng khéo hơn nhiều, bà vẫn thường khuyên chồng theo gương mình mà cứ chiều theo thói điên rồ của ông anh. Bà vẫn bảo, ít nhất bà cũng nhận thấy sự điên rồ ấy rõ ràng và cũng rất bực mình về nó như bất cứ một người nào khác.


Thế là ngẫu nhiên bà Winkin đánh hơi đúng được câu chuyện nói trên, tuy rằng việc này xảy ra đã từ lâu. Bà liền không quản công đi tìm ngọn ngành câu chuyện để về mách lại với viên đại úy rằng bà đã khám phá được bố đẻ thằng bé con hoang kia. Bà lại bảo bà lấy làm buồn vì, ông chủ của bà đã mất cả thanh danh trong khắp vùng này chỉ tại đã săn sóc thằng bé quá đáng.


Viên đại úy nghe bà nói đã cự bà một chặp về câu cuối hỗn hào, dám phê phán ông chủ. Mặc dù vì danh dự và không ngoan, hắn rất muốn cam kết với bà Winkin, nhưng do kiêu hãnh, hắn vẫn nhất định không chịu chấp nhận làm việc đó. Và, tình thực mà nói, nếu câu kết với đám gia nhân của bạn để chống lại chủ của chúng là một làm không gì kém khôn ngoan bằng; bởi lẽ từ đó về sau, anh sẽ trở thành nô lệ của chính những tên đầy tớ kia, và anh thường xuyên ở tình trạng có thể bị chúng phản bội. Có nhẽ vì nghĩ thế mà đại úy Blifin đã lảng tránh, không muốn tỏ thái độ lộ liễu hơn với bà Winkin, hoặc không muốn khuyến khích bà thêm trong việc nói xấu ông Oluơtdi.


Ngoài miệng hắn nói không hài lòng về sự khám phá của bà Winkin, nhưng trong thâm tâm hắn lấy làm thích thú. Hắn quyết định, nếu có thể, sẽ triệt để khai thác nó.


Hắn giữ kín câu chuyện trong một thời gian lâu, hy vọng sẽ có người khác kể lại cho ông Oluơtdi nghe. Nhưng chẳng hiểu vì thái độ của hắn làm cho bà Winkin ức hay vì cho là dụng tâm của hắn cao quá bà không hiểu nổi nên bà ngại câu chuyện vừa khám phá có thể khiến lão ta khó chịu; chỉ biết, từ đó về sau không một lần nào bà Winkin hở câu chuyện ấy với ai nữa.


Ngẫm kỹ lại, tôi thấy cũng kỳ; đàn bà vốn hay tỉ tê kể lể hết mọi chuyện với nhau hơn là với nam giới, thế mà tại sao mụ quản gia này không cho bà Blifin biết cái tin kia mới kỳ lạ chứ. Theo tôi, hình như chỉ có một cách duy nhất giải thích điều khó hiểu này, ấy là do hồi này bà chủ và mụ quản gia càng ngày càng xa nhau thêm. Có thể vì thấy bà Winkin tỏ ra kính nể thằng bé con nuôi quá mà bà Blifin đam ghen chăng? Bởi vì trong khi bà Winkin ra công làm hại thằng bé để lấy lòng lão đại úy, thì đồng thời hàng ngày bà ta lại càng hết sức tán tụng nó hơn nữa trước mặt ông Oluơtdi khi thấy ông ngày một thêm thương mến nó. Mặc dầu vào những lúc khác mụ đã ra sức tìm cách bày tỏ với bà Blifin một thái độ trái ngược hẳn, nhưng có lẽ cái thủ đoạn của mụ khiến cho bà chủ tinh tế kia bất bình; chắc chắn, hồi này bà Blifin ghét mụ quản gia lắm. Bà tuy không đuổi, hoặc có thể là không đuổi được mụ đi, nhưng bà cũng tìm được cách làm cho mụ ăn ngủ không yên. Lâu dần, bà Winkin hận quá, bà bèn công khai tỏ vẻ kính trọng nâng niu thằng bé Tommy để đối lập với bà Blifin. Viên đại úy thấy câu chuyện xoay ra chiều hướng xấu, cuối cùng, đành tìm cơ hội để chính mình nói câu chuyện cho ông Oluơtdi nghe vậy.


Một hôm trong lúc tranh luận với ông Oluơtdi về vấn đề lòng từ thiện, hắn chứng minh một cách rất uyên bác với ông rằng danh từ lòng từ thiện, trong Kinh thánh, không hê bao hàm ý nghĩa lòng hảo tâm hoặc sự hào phóng. Hắn nói:


- Tôn giáo Cơ Đốc được xây dựng nên nhằm những mục đích cao cả hơn nhiều, chứ không phải chỉ để bắt ta lĩnh hội một bài học đã được nhiều triết gia ngoại đạo dạy ta từ lâu rồi; những bài học ấy tuy có thể gọi được là một đức tính về luân lý, cũng chỉ phảng phất cái tinh thần cao cả của đạo Cơ Đốc, tức là sự vươn tới rộng lớn về tư tưởng, về mặt thanh khiết gần với sự hoàn thiện của thiên thần, và chỉ có thể đạt tới được, biểu lộ được, và cảm thấy được nhờ có ơn thiêng của Chúa. (Hắn nói thêm), những ai hiểu lòng từ thiện là tính hồn nhiên, hoặc sự hình thành của một ý kiến vị tha về đồng loại, và phán đoán về hành động của đồng loại một cách có lợi cho họ, ấy là người đã nhích được tới gần nhất ý nghĩa trong Kinh thánh; ý nghĩa ấy bao hàm một đức tính về bản chất cao hơn nhiều, rộng hơn nhiều, so với hành động nhỏ mọn ban phát của bố thí; tuy rằng ta chẳng vì hành động ấy mà làm phương hại đến người thân trong gia đình hoặc khiến ta phá sản, nhưng ta cũng chẳng cứu giúp được bao nhiêu người. Còn như lòng từ thiện, hiểu theo ý nghĩa chân chính hơn kia thì lại có thể đem lại điều hay cho toàn thể nhân loại.


Hắn lại hỏi:


- Cứ xem thánh tông đồ của Chúa là những ai, thì lại càng thấy quan niệm rằng cái chủ nghĩa hào phóng, hoặc ban phát của bố thí đã được đem thuyết giáo với các vị ấy là phi lý. Và, khi ta không thể tưởng tượng được rằng đấng thiêng liêng sáng tạo nên cái chủ nghĩa kia đã thuyết giáo nó cho những người không thực hiện nổi, nó nghe thì ta lại càng không thể nghĩ rằng những kẻ có thể thực hiện nổi mà không thực hiện lại hiểu được chủ nghĩa ấy đúng như vậy.


Hắn còn tiếp:


- Tôi e rằng những hành động ban ơn kia chẳng có giá trị là bao. Tuy nhiên, tôi phải thú nhận rằng những hành động ấy cũng đem lại nhiều thú vui cho một tâm hồn tốt đẹp, nếu như nó không bị giảm sút vì một điều cần cân nhắc. Tôi muốn nói, chúng ta có thể bị lừa dối mà nhiều khi ban phát những ân huệ chọn lọc nhất của ta cho những kẻ không xứng đáng, ngài phải công nhận rằng đó chính là trường hợp của ngài khi ngài tỏ lòng tốt với tên Pact'rigiơ vô lại. Chỉ hai hoặc ba thí dụ tương tự nhất định sẽ làm giảm sự thỏa mãn trong lòng mà một con người tốt, nếu không, đã có thể tìm thấy ở sự hào phóng. Thậm chí những thí dụ ấy có thể khiến ta ngần ngại khi tỏ ra hào phóng, e rằng có thể đưa đến phạm tội nâng đỡ thói xấu, khuyến khích kẻ hư. Đó là một trọng tội đen tối vô cùng, chẳng thể lấy cớ ta không có dụng ý khuyến khích như thế mà đủ rũ trách nhiệm, chỉ có cách hết sức thận trọng khi lựa chọn đối tượng mà ban ơn. Tôi tin chắc rằng cân nhắc như thế, hẳn nhiều vị hảo tâm và mộ đạo sẽ phải ngần ngại lắm lắm trước khi tỏ ra hào phóng.


Ông Oluơtdi đáp lại rằng, ông không thể tranh biện với viên đại úy bằng tiếng Hy Lạp được, do đó ông không thể có ý kiến gì về ý nghĩa thực đúng của cái tiếng đã được dịch ra là lòng từ thiện kia, nhưng ông vẫn thường nghĩ, tiếng ấy được hiểu bao hàm ở hành động, mà ít nhất thì việc bố thí cũng là một khía cạnh của nó. Về mặt nó có đáng khen hay không, thì ông cũng đồng tình với viên đại úy, bởi lẽ có gì là đáng quý khi chỉ mới là thực hiện nhiệm vụ của mình thôi. Dù tiếng từ thiện bao hàm một nội dung nào đi nữa, thì toàn bộ ý nghĩa của cuốn Tân ước kinh cũng đã đủ toát ra điều vừa nói. Ông cho đó là một nhiệm vụ cần thiết, mà giáo luật Cơ Đốc cũng như bản thân luật lệ của tự nhiên đòi hỏi một nhiệm vụ mà cũng là một niềm vui, do đó, nếu có nhiệm vụ nào khi làm trọn có thể nói vừa là sự thưởng công cho chính nó, vừa là trả công cho ta thì chính là nhiệm vụ này. Ông còn bảo:


- Nói cho đúng tính hào phóng (hoặc tôi muốn gọi là của lòng từ thiện) có một mức độ xem ra có phần nào đáng quý; đó là khi nào, do một nguyên tắc về lòng hảo tâm và tình yêu Cơ Đốc, chúng ta ban phát cho kẻ khác cái mà chính ta cũng đang cần; khi nào vì muốn giảm bớt những nỗi đau khổ của kẻ khác, ta hạ mình xuống chia sẻ cùng họ một phần những sự đau khổ ấy, bằng cách đem cho những thứ mà chính ta đang cần, tôi nghĩ rằng như thế là đáng khen. Còn nếu ta chỉ cứu giúp đồng loại bằng những thứ ta có thừa thãi, nếu tỏ lòng từ thiện (tôi đành phải dùng danh từ này) mà chỉ có két bạc của ta chịu thiệt thòi, chứ không phải chính ta, nếu như để cứu giúp mấy gia đình khỏi hoạn nạn ta chịu nhịn không treo một tác phẩm hội họa nổi tiếng, hoặc không thỏa mãn một sở thích phù hoa tức cười nào đó, thì hình như đấy chỉ là việc làm bình thường của một con người. Và dám đi xa hơn nữa tôi muốn nói đấy là, ở một mức độ nào đó, theo chủ nghĩa khoái lạc; bởi vì đồ đệ lớn nhất của chủ nghĩa này còn mong gì hơn là được ăn bằng nhiều mồm chứ không phải chỉ bằng một mồm; tôi nghĩ điều này có thể được xác nhận bởi bất cứ ai đã có lúc biết rằng sở dĩ nhiều kẻ khác có bánh ăn là nhờ sự hào phóng của mình.


Còn như sợ rằng ban phát rộng rãi cho những kẻ có thể sau này tỏ ra không xứng đáng, vì đã có những kẻ như vậy, thì điều này nhất định không ngăn được hảo tâm của một con người tốt. Tôi không nghĩ rằng người ta có thể dựa vào một số ít hay rất nhiều thí dụ về sự bội bạc để biện hộ cho thái độ nhẫn tâm của mình trước những nỗi thống khổ của đồng loại, tôi cũng tin rằng nó không bao giờ có ảnh hưởng xấu như thế đối với một tâm hồn thực sự nhân đức. Dù có thuyết phục để người ta tin rằng sự sa đọa là phổ biến, thì điều đó cũng không ngăn được một người tốt làm điều từ thiện. Tôi nghĩ thuyết phục như vậy phải dẫn người ta, hoặc đến thái độ vô thần, hoặc giàu nhiệt tình. Nhưng nếu từ một số ít cá nhân xấu mà kết luận rằng sự sa đọa là phổ biến thì nhất định là thái quá. Tôi tin rằng không có người nào, khi tự vấn lương tâm thấy một ngoại lệ khác với quy luật chung, lại kết luận như vậy.


Cuối cùng, ông hỏi cái anh chàng Pact'rigiơ mà ông đại úy gọi là một tên tồi tệ là ai. Hắn đáp:


- Tôi muốn nói tên Pact'rigiơ thợ cạo, thầy giáo, còn gọi là cái gì nữa nhỉ? Pact'rigiơ, bố đẻ đứa bé mà bác thấy đặt trong giường của bác ấy.


Nghe nói, ông Oluơtdi tỏ vẻ ngạc nhiên, còn viên đại úy cũng ngạc nhiên không kém khi thấy ông chưa biết chuyện này.


Hắn bảo chuyện này đã đến tai hắn từ hơn một tháng và mãi giờ đây, nghĩ mãi, cuối cùng hắn mới nhớ ra là do bà Winkin kể lại.


Bà Winkin lập tức được gọi đến; bà xác nhận câu chuyện viên đại úy kể. Theo lời khuyên của hắn, ông Oluơtdi sai bà đến Lintơn Badingtơn, để hỏi xem tin đồn kia có đúng thực không, vì viên đại úy nói hắn rất ghét những cách làm hấp tấp trong những vấn đề thuộc về hình sự; hắn bảo chừng nào ông Oluơtdi có bằng chứng chắc chắn rằng cha đứa bé quả thật có tội thì hắn mới chịu để cho ông có một quyết định nào đó có ảnh hưởng không hay đến đứa bé hoặc cha nó; về điểm Pact'rigiơ có tội, hẳn đã được một người láng giềng của bác ta quả quyết khẳng định, nhưng hắn cũng tỏ ra rộng lượng không muốn đưa bằng chứng ấy ra với ông Oluơtdi.


 


 


CHƯƠNG VI


Thầy giáo Pact'rigiơ bị xét xử về tội ngoại tình; vợ bác ta ra đối chứng, vài suy nghĩ về sự sáng suốt của luật pháp nước ta cùng nhiều vấn đề quan trọng khác, mà ai hiểu kỹ lại càng thấy thích thú.


Kể cũng lạ một câu chuyện ai cũng biết, một câu chuyện đã từng làm đầu đề cho người ta bàn tán bao nhiêu thế mà lại không lọt đến tai ông Oluơtdi, có lẽ khắp vùng ông là người duy nhất không nghe biết gì về chuyện này.


Để giải thích cho độc giả rõ phần nào, tôi thấy nên báo cho các bạn biết rằng khắp nước Anh này, không có người nào ít quan tâm phản đối lý thuyết về cách định nghĩa danh từ từ thiện như đã trình bày trong chương trên bằng ông Oluơtdi tốt bụng của chúng ta. Quả thật, ông xứng đáng được gọi là có đức tính ấy, theo cả hai nghĩa: chưa hề có ai dễ xúc động trước những nỗi thiếu thốn của kẻ khác hoặc sẵn sàng cứu giúp họ trong cơn hoạn nạn như ông; cũng không ai có thể trân trọng phẩm cách của người khác, hoặc chậm tin vào bất cứ điều gì phạm đến danh dự của họ.


Do đó, những chuyện xấu xa không bao giờ len lỏi được tới bàn ăn nhà ông. Nếu như đã từ lâu ta thấy xét sự giao du đủ hiểu được một người, thì tôi cũng dám liều nói rằng bằng cách dự chuyện tại bàn ăn của một nhân vật có tiếng tăm, ta có thể biết rõ khuynh hướng của họ về các mặt tôn giáo, chính trị, cũng như thị hiếu và toàn bộ tính khí của họ; tuy cũng có một số ít anh chàng kỳ quái muốn nói lên ý kiến riêng của mình ở bất cứ chỗ nào thật đấy, nhưng trong số phần lớn nhân loại còn lại, vẫn có khá đông bọn nịnh thần biết lựa cách trò chuyện theo thị hiếu và sở thích của các bậc bề trên.


Ta hãy trở lại với bà Winkin; bà thực hiện lệnh trên rất nhanh chóng, tuy phải đi xa tới mười lăm dặm đường, bà mang về những chứng cớ rành rành về tội lỗi của ông giáo thành thử ông Oluơtdi quyết định cho đòi tội phạm đến để xét hỏi trực tiếp( ). Do đó bác Pact'rigiơ được gọi đến để tự biện hộ (nếu còn biện hộ được) trước lời kết tội kia.


Đúng ngày giờ đã định, trước mặt ông Oluơtdi tại lâu đài Thiên đường, đến đủ mặt, bác Pact'rigiơ, vợ bác và bà Winkin, người tố cáo.


Ông Oluơtdi ngồi vào ghế quan tòa, bác Pact'rigiơ được gọi ra đứng trước mặt. Sau khi nghe bà Winkin buộc tội, bác kêu mình bị oan, bác khăng khăng nói mình trong sạch không có tội tình gì hết.


Sau, bác Pact'rigiơ gái được hỏi đến; bác này ngượng ngùng xin lỗi là mình bắt buộc phải nói sự thật có hại cho chồng; rồi bác kể lại đầu đuôi câu chuyện như độc giả đã rõ; cuối cùng, bác kết luận rằng chính chồng bác đã thú nhận là có phạm tội.


Tôi không dám khẳng định rằng trước đó bác đã tha thứ cho chồng hay chưa, song, rõ ràng bác là một nhân chứng bất đắc dĩ trong vụ án này; và có thể, vì những lý do khác nào đó, bác cũng chẳng muốn đứng ra làm nhân chứng như vậy, nếu như trước đó bà Winkin đã không phỉnh phờ khôn khéo moi ra mọi chuyện ngay tại nhà bác và nếu như bà Winkin không lấy danh nghĩa ông Oluơtdi hứa rằng chồng bác có bị trừng phạt, ông Oluơtdi cũng sẽ không để gia đình bác bị ảnh hưởng gì về bất cứ mặt nào.


Bác Pact'rigiơ vẫn khăng khăng cãi mình vô tội, tuy bác nhận mình có nói với vợ như thế thật. Bác giải thích hồi đó vì bị vợ giày vò liên miên, bác đã buộc lòng phải nhận liều cho xong; và vợ bác vì cứ chắc chắn là chồng có phạm tội nên thề sẽ giày vò kỳ cho chồng phải thú thực mới thôi; và bác thật tình đã hứa là nếu chồng thú thực bác sẽ không bao giờ nhắc đến chuyện ấy nữa. Vì thế, bác mới bị lừa mà thú nhận liều với vợ là có tội, tuy thực ra chẳng hề phạm tội gì; bác lại nói thêm, với hoàn cảnh ấy thì giá mụ có bảo bác nhận cả tội giết người, bác cũng nhận.


Bác Pact'rigiơ gái không sao bình tĩnh chịu được lời kết tội này; ở đây, bác chỉ có một liều thuốc là nước mắt, nên bác đã yêu cầu viện trợ rộng rãi. Đoạn, hướng về ông Oluơtdi, bác nói (bác kêu lên thì đúng hơn):


- Bẩm cụ, chưa hề bao giờ có người đàn bà tội nghiệp nào bị khổ sở như cháu đã bị khổ sở vì thằng đàn ông đê tiện này; hắn lừa dối cháu không phải lần này là một. Không, bẩm cụ, hắn đã làm chuyện bậy bạ trên giường của cháu nhiều lần lắm rồi. Giá hắn đừng vi phạm vào một trong những giới điều thiêng liêng của Chúa thì cháu cũng có thể bỏ qua cho hắn cái thói rượu chè, lơ là công việc. Vả chăng, giả thử ở chỗ khác, thì cháu cũng chẳng làm to chuyện ra đâu; đằng này lại bậy bạ với người ở của cháu ngay trong nhà, làm uế tạp cái giường trong trắng của cháu mà, chắc chắn là hắn đã làm bẩn nhiều lần với cái bọn đĩ rạc hôi hám như súc vật ấy. Đúng, đồ khốn nạn, anh đã làm uế tạp giường của tôi, thế mà anh lại kết tội tôi lừa dối cho anh phải thú nhận sự thực. Bẩm cụ, cũng có thể cháu đã lừa hắn thật... Trên người cháu vẫn còn khá đủ vết tích để chứng tỏ rằng hắn đã đối với cháu tàn tệ thế nào. Này, quân mạt hạng, nếu anh là con người, thì anh đã không nỡ hành hạ một người đàn bà như thế; nhưng anh có phải là người đâu... anh cũng biết đấy... Anh cũng chẳng phải là chồng tôi. Anh còn cần bám đít những con đĩ, anh cần lắm, tôi biết thừa ra rồi... Bẩm cụ, nó mà đã trêu gan cháu như vậy thì cháu sẵn sàng thề có trời đất rằng chính mắt cháu, trông thấy hai đứa nằm với nhau trên giường. Này, tôi chắc anh đã quên rằng anh đánh tôi đến chết ngất đi, đến vỡ đầu máu chảy ròng ròng chỉ vì tôi nhẹ nhàng trách anh ngoại tình! Còn có bà con hàng xóm làm chứng cho tôi. Anh làm tôi héo đi từng khúc ruột... Thật đấy, thật đấy!


Đến đây, ông Oluơtdi ngắt lời, yêu cầu bác hãy bình tĩnh; ông hứa sẽ xét xử công minh. Nói rồi, ông quay lại phía bác Pact'rigiơ lúc đó đứng sững sờ, một nửa trí thông minh biến mất vì ngạc nhiên, nửa còn lại biến mất vì sợ hãi. Ông Oluơtdi bảo ông rất buồn thấy trên đời này lại có một người đàn ông tồi tệ thế. Ông bảo bác rằng thái độ quanh co giấu giếm của bác chỉ khiến tội bác càng thêm nặng lên nhiều, chỉ có cách thú nhận và hối cải thì mới chuộc tội được. Do đó, ông khuyên bác hãy thú nhận ngay lập tức việc đã làm, chớ có khăng khăng chỗi cãi một tội trạng mà chứng cớ đã rành rành, ngay chính vợ cũng không bênh.


Thưa bạn đọc, tới đây, xin bạn hãy kiên nhẫn một lúc nghe tôi ca tụng sự khôn ngoan sáng suốt lớn lao của luật pháp nước ta, vì đã không chịu nhận cho vợ làm nhân chứng để bênh vực cũng như chống lại chồng. Một nhà trước tác thông thái nào đó, mà tôi tin rằng từ xưa tới nay chỉ được viện dẫn ra trong những cuốn sách luật, bảo rằng làm như thế là tạo điều kiện gây nên sự bất hòa vĩnh viễn giữa hai vợ chồng. Quả thật, làm như vậy sẽ sinh ra biết bao những vụ làm chứng man, cũng như những vụ phạt roi, phạt tiền, lưu đày và treo cổ oan uổng.


Bác Pact'rigiơ đứng yên mãi, cho tới lúc được yêu cầu lên tiếng; bác bảo bác đã nói sự thật, bác viện trời, đất làm chứng cho sự oan ức của mình, và cuối cùng, bác viện cả chính người con gái ra nữa; bác yêu cầu cho đòi ngay cô Jenny ra trước tòa, vì bác không biết, hoặc ít nhất cũng là giả vờ không biết rằng cô gái đã đi nơi khác rồi.


Bản tính ông Oluơtdi vốn yêu chuộng công lý, tính tình lại điềm đạm, thành ra bao giờ ông cũng là một vị quan tòa rất kiên nhẫn chịu nghe hết thảy mọi chứng cớ mà bị cáo có thể viện ra để biện hộ cho mình. Ông ưng thuận hoãn mọi quyết định về vấn đề này cho tới khi Jenny tới, và lập tức ông sai người đi gọi; đoạn, ông khuyên hai vợ chồng Pact'rigiơ hãy hòa thuận với nhau (nhưng chủ yếu nói với kẻ có lỗi); ông báo cho họ biết đến ngày thứ ba phải có mặt tại tòa; ông đã cho Jenny đến ở một nơi cách đấy một ngày đường.


Đúng thời gian đã định, bên nguyên bên bị đều tề tựu, thì người ông sai đi trở về báo là không tìm được Jenny; cô ta đã cùng một viên chức mộ nhân công bỏ nhà ra đi từ mấy hôm trước.


Bấy giờ ông Oluơtdi bèn tuyên bố rằng một người con gái đàng điếm như thế, ví thử có đứng ra làm nhân chứng cùng không đáng tin. Nhưng ông cũng bảo ông không thể không nghĩ rằng, giả sử cô ta có mặt tại đây, thì cũng phải công nhận sự thật đã được xác minh khá rõ bởi bao nhiêu bằng cớ, kể cả lời thú nhận của Pact'rigiơ, cũng như lời vợ bác tố cáo rằng đã bắt được quả tang chồng đang phạm tội. Một lần nữa, ông lại khuyên Pact'rigiơ nên thú nhận, song bác vẫn một mực từ chối cãi. Ông bèn tuyên bố thế là tội trạng của Pact'rigiơ đã rõ ràng, và bác ta là một người quá tồi không đáng để ông khuyến khích. Do đó, ông cắt số tiền trợ cấp hàng năm, và khuyên kẻ phạm tội hãy biết ăn năn để chuẩn bị khi sang thế giới bên kia, đồng thời phải cần cù làm ăn để duy trì đời sống cho bản thân và vợ con trong cuộc đời hiện tại.


Có lẽ không mấy ai bất hạnh bằng bác Pact'rigiơ đáng thương hại này. Đã bị vợ làm chứng nên mất đứt phần lớn khoản thu hoạch, lại hàng ngày còn bị vợ rầy la vì đã làm cho bác ta mất món tiền đó cũng nhiều thức khác nữa; song cái số bác nó như thế, đành cam chịu chứ biết làm sao.


Vừa rồi, tôi có gọi là bác Pact'rigiơ đáng thương, nhưng mong bạn đọc hiểu rằng sở dĩ tôi dùng tính từ ấy là vì tôi thương hại bác ta, bạn chớ nên nghĩ rằng đấy là tôi nói bác ta vô tội. Bác có tội hay không, có lẽ sau này ta sẽ rõ; song, nếu như cô nàng lịch sự có ngỏ riêng với tôi sự bí mật gì thì tôi cũng không bao giờ phạm tội tiết lộ ra, chừng nào chưa được cô cho phép.


Vậy nên bạn đọc hãy đành phải dẹp tính tò mò ở đây. Điều chắc chắn là, dù cho việc này hư thực ra sao đi nữa, thì cũng có quá đủ chứng cớ để kết tội bác Pact'rigiơ trước mặt ông Oluơtdi. Không cần ngần ấy chứng cớ cũng đã đủ cho tòa ban hành một quyết án về nhiệm vụ chu cấp cho đứa con ngoài hôn thú rồi. Tuy nhiên, dù bác Pact'rigiơ gái một mực cam kết sẵn sàng đi thề về chuyện này, vẫn có khả năng thầy giáo nhà ta hoàn toàn vô tội; bởi lẽ, cứ so sánh thời gian Jenny bắt đầu rời Litơn Bađingtơn ra đi, và thời gian cô ta sinh nở, thì rõ ràng cô ta đã thụ thai ở đây mà sinh ra đứa bé thật, song cũng không nhất thiết vì vậy mà Pact'rigiơ phải là cha đứa bé; cứ bỏ qua những chi tiết khác, thì trong nhà còn có một anh thanh niên khoảng gần mười tám tuổi; sự thân mật giữa anh ta và Jenny cũng đã cho ta đặt vấn đề nghi ngờ một cách hợp lý; ấy thế mà người đàn bà đang phát dại đã không hề một lần nào nhớ ra trường hợp này, mới biết ghen tuông mù quáng thật.


Bác Pact'rigiơ có ăn năn hối cải theo lời ông Oluơtdi khuyên hay không, cũng không rõ lắm; điều chắc chắn là vợ bác hết sức ăn năn về việc đã đứng ra làm nhân chứng kết tội chồng, đặc biệt khi bác ta thấy bà Đibôra lừa mình, không chịu xin với ông Oluơtdi hộ bà. Tuy nhiên, với bà Blifin thì vợ bác Pact'rigiơ có thành công hơn. Như bạn đọc, hẳn đã nhận thấy, bà Blifin là một người phụ nữ tâm địa rất tốt; bà vui lòng nói hộ với anh trai để không cắt món trợ cấp hàng năm kia. Trong việc vận động này, lòng tốt cũng có dự phần nào thật đấy song còn có một động cơ mạnh mẽ và tự nhiên hơn, sẽ nói đến trong chương sau.


Tuy nhiên, việc này cũng không đem lại kết quả. Mặc dầu ông Oluơtdi không nghĩ như mấy nhà văn gần đây rằng chỉ có trừng phạt kẻ phạm lỗi mới là khoan dung, song ông cũng không hề cho rằng tha thứ quá dễ dàng những tên trọng phạm không có một lý do gì là thích hợp với đức tính quý báu này. Không bao giờ ông bỏ qua bất cứ một khả năng nghi vấn, hoặc một tình tiết có thể giảm tội nào, còn những lời cầu xin của phạm nhân hoặc sự can thiệp của người khác thì không sao khiến được ông chuyển lòng. Nói tóm lại, ông không bao giờ tha thứ nếu vì chính kẻ phạm tội, hoặc bè bạn của hắn không muốn hắn bị trừng phạt.


Vì vậy, cả hai vợ chồng Pact'rigiơ đành cam chịu số phận, mà số phận của họ giờ đây trở nên khá cay nghiệt. Bác trai đã không ra sức làm việc để bù vào số thu nhập bị giảm sút, lại buông mình tuyệt vọng. Bản tính bác vốn đã lười, bây giờ thói xấu lại càng tăng, vì vậy mà mất luôn cả cái trường học bé nhỏ; thành thử giá như không nhờ tấm lòng từ thiện của một tín đồ Gia Tô giáo tốt bụng nào đó giúp cho ít nhiều gọi là vừa đủ để sống qua ngày, thì cả hai vợ chồng đến không có lấy một miếng bánh mà ăn.


Việc cưu mang này là do một bàn tay vô danh đem lại, do đó hai vợ chồng bác, và tôi tin chắc bạn đọc cũng vậy, cho rằng con người từ tâm bí mật ấy chính là ông Oluơtdi; dù không công khai khuyến khích thói xấu, ông vẫn có thể bí mật cứu giúp những kẻ phạm lỗi trong hoàn cảnh quẫn bách, khi hoàn cảnh ấy trở thành gay go quá mức so với tội lỗi của họ. Theo sự phỏng đoán này thì bây giờ, sự khổ cực của hai vợ chồng bác đã rõ rệt trước mắt chính thần may rủi; cuối cùng, mủi lòng thương xót đôi vợ chồng khốn khổ, và để làm bớt hiện trạng cơ cực cho bác Pact'rigiơ rất nhiều, thần cho chấm dứt sự cơ cực của bác, vì chỉ ít lâu sau đó bác gái chết vì bệnh đậu mùa.


Mới đầu ai ai cũng tán thành cách ông Oluơtdi phân xử đối với bác Pact'rigiơ; song tới lúc bác ta thấm thía những hậu quả của cách phán xử ấy, thì bà con láng giềng bắt đầu mủi lòng, và tỏ ra thông cảm với hoàn cảnh của bác. Ngay sau đó, họ lại bắt đầu lên án là khe khắt, là khắc nghiệt, điều mà trước kia họ cho là công lý. Bây giờ họ mới lên tiếng phản đối sự trừng phạt thẳng tay và ra sức ca ngợi khoan dung, ca ngợi sự tha thứ.


Cái chết của bác Pact'rigiơ gái càng khiến họ la ó dữ dội hơn; bác ta chết vì căn bệnh đã nói ở trên, mà bệnh này không phải là hậu quả của sự cùng khổ nghèo túng, nhưng nhiều kẻ vẫn trơ tráo bảo rằng bác ta chết là do sự khắc nghiệt, hoặc như họ gọi bây giờ là do sự tàn ác của ông Oluơtdi.


Thế là bác Pact'rigiơ mất vợ, mất trường, mất món tiền trợ cấp hàng năm, bây giờ cái người vô danh nào đó lại ngừng chu cấp; bác ta bèn quyết định rời bỏ vùng này đi phương khác làm ăn. Ở mãi đây rồi cũng đến lâm vào nguy cơ chết đói với niềm thông cảm của hết thảy bà con hàng xóm.


 


(còn tiếp)


Nguồn: TOM JONES Đứa trẻ vô thừa nhận. Tiểu thuyết của HENRY FIELDING, 2 tập, 1000 trang. Trần Kiêm dịch từ nguyên bản tiếng Anh: THE HISTORY OF TOM JONES, A FOUNDLING của HENRY FIELDING. Nhà xuất bản MAC DONALD, Luân Đôn, 1935. Tái bản theo bản in năm 1983 của NXB Văn học.


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »