tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20216941
Tiểu thuyết
22.01.2015
Stefan Zweig
Thế giới những ngày qua

Tôi hoàn toàn không nghĩ đến việc đánh giá quá cao những bài viết lẻ tẻ. Chúng hẳn không có ảnh hưởng nhỏ nào đến bước đi của các sự kiện. Nhưng chúng có lợi cho chúng tôi - và cho nhiều bạn đọc vô danh. Chúng giảm nhẹ nỗi cô độc tàn khốc, nỗi thất vọng của tâm hồn trong đó một người thực sự nhạy cảm của thế kỷ hai mươi dấn vào - và người ấy lại tự thấy mình ngày nay, hai mươi lăm năm sau, cũng bất lực như vậy trước những thế lực quá lớn, và tôi sợ là còn bất lực hơn. Lúc đó tôi cũng đã hoàn toàn ý thức được rằng tôi không còn thành công trong việc cất được gánh nặng bằng những phản đối nho nhỏ và những khéo léo nho nhỏ ấy. Dần dần bắt đầu hình thành trong tôi dàn ý của một tác phẩm trong đó tôi có thể không chỉ trình bày một vài đặc điểm mà toàn bộ thái độ của tôi trước thời đại và trước nhân dân, trước tai họa và trước chiến tranh.


Nhưng để biểu hiện chiến tranh trong một sự tổng hợp nên thơ, tóm lại tôi còn thiếu cái cơ bản: tôi chưa nhìn thấy nó. Từ gần một năm nay, tôi bị buộc chặt vào bàn giấy, và ở những nơi xa xăm không nhìn thấy, diễn ra “cái cơ bản”, cái hiện thực, nỗi ghê rợn của chiến tranh. Cơ hội ra mặt trận có nhiều: ba lần những tờ báo lớn đã yêu cầu tôi đến với các đạo quân để làm phóng viên cho họ. Nhưng mọi loại miêu tả sẽ mang tới sự bó buộc biểu hiện chiến tranh trong một ý nghĩa thuần túy tích cực và yêu nước, mà tôi thì đã thề thốt - lời thề mà tôi đã giữ cho đến năm 1940, - không bao giờ viết một chữ tỏ ra tán thành chiến tranh hoặc hạ thấp một nước khác. Và đây tình cờ hiện ra một cơ hội. Mùa xuân năm 1915, cuộc tấn công lớn Áo - Đức đã chọc thủng phòng tuyến Nga ở Tarnow và chiếm được Galicie và Ba Lan bằng một cuộc tiến quân đồng tâm. Sở lưu trữ chiến tranh muốn thu thập cho Thư viện bản gốc của tất cả những tuyên bố và thông cáo Nga ở đất Ấo bị chiếm đóng trước khi chúng bị cướp đi hoặc bị phá hủy. Ngài đại tá, là người biết rõ kỹ thuật sưu tập của tôi, hỏi tôi có muốn gánh lấy sứ mạng này không; tất nhiên là tôi nhận lời không chút do dự và người ta lập một hộ chiếu ghi tên tôi, đến mức là tuy không tùy thuộc một quan chức đặc biệt nào và cũng không trực tiếp tùy thuộc vào một văn phòng nào hay một thủ trưởng nào, tôi có thể đi trên bất cứ chuyến tàu quân sự nào, và di chuyển tự do đến đâu tôi muốn, điều đó đưa lại những sự việc kỳ lạ nhất; quả vậy, tôi không phải là sĩ quan, chỉ là trung sĩ thực thụ và mặc một bộ quân phục không có huy hiệu đặc trưng. Khi tôi xuất trình giấy tờ bí hiểm của tôi, nó gây cho mọi người một sự kính trọng rất đặc biệt, vì các sĩ quan ở mặt trận và các viên chức cho rằng tôi phải là một sĩ quan tham mưu nào đó trá hình hoặc được giao một công việc bí mật. Vì tôi cũng tránh phòng ăn quân đội và chỉ xuống khách sạn, tôi còn được thêm một cái lợi là ở ngoài bộ máy lớn và có khả năng nhìn thấy những gì tôi thích, không có “chỉ đạo”.


Sứ mệnh thực sự của tôi là tập hợp những tuyên bố; nó không có khó khăn gì đối với tôi. Mỗi lần tôi đến tại một thành phố của Galicie, đến Tarnow, Drohobyez, Lengerg, tôi tìm thấy ở đó vài người Do Thái đứng ở ga, những “phăctơ” như người ta gọi họ, mà nghề nghiệp là tạo cho anh tất cả những gì anh có thể cần đến. Tôi chỉ việc nói với một trong những người thừa hành toàn năng đó rằng tôi muốn có những tuyên bố và những thông cáo của cơ quan chiếm đóng Nga, và người thừa hành đó chạy như một con thỏ chuyển công việc được giao đó cho những người dưới quyền bằng những con đường bí mật; và sau ba giờ, không phải đi một bước, tôi đã có đầy các tài liệu. Nhờ có tổ chức mẫu mực đó, tôi còn nhiều thì giờ để nhìn nhiều điều. Và tôi đã nhìn thấy nhiều điều, trước hết là tất cả sự nghèo khổ kinh khủng của dân cư thuộc dân sự mà trên các cặp mắt còn đọng lại như một cái bóng nỗi kinh hoàng của những gì họ đã trải nghiệm. Tôi nhìn thấy sự nghèo khổ mà trước đó tôi không ngờ tới, của dân cư Do Thái sống tám hoặc mười hai mười một trong những căn phòng ở sát mặt đất hoặc dưới mặt đất. Lần đầu tiên, tôi thấy “kẻ thù”. Ở Tarnow, tôi chợt gặp đoàn tù binh Nga. Họ được nhốt trong một ô vuông lớn trên đất trần, hút thuốc và nói chuyện, bị hai hoặc ba tá lính già người Tyrol canh giữ, phần đông những người lính già này nhiều râu, cũng rách rưới và xềnh xoàng như những người tù và rất khác với hình ảnh những người lính râu cạo nhẵn và quân phục mới mà người ta thấy in lại trên các báo có minh họa của chúng ta. Đội canh gác này không hề có tính chất quân sự và hà khắc. Những người trong đội lính kỳ cựu của nước Áo không hề có ý muốn tiến hành một sự canh gác nghiêm ngặt. Họ trà trộn vào giữa những người tù trong một tinh thần bè bạn tốt và ngay việc họ không thể làm họ hiểu bằng ngôn ngữ của họ cung cấp cho cả hai bên chất liệu của những trò bông đùa đủ kiểu. Người ta mời nhau thuốc lá, người ta nhìn nhau và cười. Một người của đội lính kỳ cựu xứ Tyrol vừa đang rút từ một cái ví rất cũ và cáu bẩn ra những chiếc ảnh của vợ và các con mình và đưa cho những “kẻ thù” xem; họ ngắm nhìn chiếc ảnh này đến chiếc ảnh khác và hỏi bằng cách đếm trên các ngón tay xem đứa trẻ này ba hay bốn tuổi. Tôi tin chắc rằng những người bình dị và nguyên thủy này có một tình cảm đúng đắn hơn về chiến tranh so với các giáo sư đại học và các nhà thơ của chúng ta: tôi muốn nói tình cảm của một nỗi đau khổ giáng xuống họ mà họ không thể làm gì được cả, và mỗi một trong những người bị rơi vào nỗi đau khổ đó được coi như là một người anh em. Nhận xét đầy an ủi đó theo đuổi tôi trong suốt cuộc hành trình qua những thành phố bị ném bom, trước những cửa hiệu bị cướp sạch, mà các bàn ghế bị rải ra giữa lòng đường như những cánh tay ống chân bị dập và lòng tuột bị rút ra. Và những cánh đồng trồng trọt tốt tươi trải ra giữa các vùng chiến trận cho tôi hy vọng rằng trong vài năm vết tích của tất cả những tàn phá này sẽ biến mất. Tất nhiên lúc đó tôi chưa thể hình dung được rằng chừng nào các dấu hiệu chiến tranh được xóa đi trên mặt đất; hồi ức về những điều ghê tởm đó cũng mất mau như vậy đó trong trí nhớ những con người.


Trong những ngày đầu, tôi còn chưa ở giữa những sự thê rợn thực sự của cuộc chiến tranh này. Vẻ dáng của chúng vượt quá sự nắm bắt xấu nhất của tôi. Vì các tàu chở khách đều đặn không còn chạy nữa, một hôm tôi đi trên một con tàu pháo binh, ngồi nép sau một khẩu đại bác; lần khác trong những toa chở súc vật ở đó những con người mệt nhoài nằm ngủ, xếp ngổn ngang và chất đống lại giữa một mùi thối nặng nề trong khi người ta đưa họ đến lò sát sinh, bản thân đã rất giống với những súc vật cho cửa hàng thịt. Nhưng kinh khủng hơn cả là những chiếc tàu hỏa - bệnh viện mà tôi phải đi hai lần khác. Chúng ít giống làm sao với những chiếc tàu vệ sinh y tế tràn đầy ánh sáng, rất trắng, lau chùi rất kỹ trong đó các bà quận công và các bà thuộc giới thượng lưu Vienne đã chụp ảnh với y phục nữ y tá trong thời gian đầu của chiến tranh! Cái tôi có thể thấy mà lòng rung động là những toa chở hàng thông thường, không có cửa sổ đích thực, chỉ với một đường khe để thông khí và được chiếu sáng bằng những ngọn đèn dầu hỏa khói um. Những băng ca thô sơ nằm dọc cái nọ cạnh cái kia, và tất cả đều có người nằm, những con người rên rỉ mồ hôi mồ kê, xanh như tàu lá, cố hít một ít không khí trong mùi thối không chịu nổi của cứt và iôđôform. Những người lính được chữa trị loạng choạng đúng hơn là bước đi, vì họ đã quá mệt mỏi. Không thấy đâu cả những chăn đệm choáng lộn của các tấm ảnh. Dưới những cái chăn thô từ lâu đã bết đầy máu, thương bệnh binh nằm trên rơm hoặc trên những băng ca cứng và trong mỗi toa đã có hai ba người chết bên cạnh những người hấp hối và những người đang rên rỉ. Tôi nói chuyện với người thầy thuốc; ông đã thú nhận rằng mình chỉ là nha sĩ trong một thành phố nhỏ ở Hungari và trong nhiều năm đã không hề làm phẫu thuật. Ông ta thất vọng. Ông đã, ông nói với tôi, điện thoại tới bảy trạm để xin moocphin. Nhưng mọi đồ dự phòng đều đã cạn và không còn có bông lót, bông băng tươi trong hai mươi bốn giờ của cuộc hành trình cho đến bệnh viện của Budapest. Ông xin tôi giúp ông vì người của ông không còn có thể đụng đậy tay chân vì mệt. Dẫu rất vụng về tôi vẫn cố, ít nhất là tôi có thể giúp ích bằng cách xuống ở mỗi ga tàu dừng lại và lấy vài xô nước, loại nước bẩn chỉ dành cho đầu tầu, nhưng lúc này là một thứ làm mát, và có thể dùng để rửa ráy một ít cho những người ấy và cọ vết máu không ngừng rỏ xuống sàn tàu. Thêm vào đó, đối với những người lính thuộc nhiều quốc tịch chất đống lại trong chiếc quan tài đang chạy này, còn có một sự trầm trọng đặc biệt cho trường hợp của họ do sự lẫn lộn các ngôn ngữ gây ra. Cả thầy thuốc lần các y tá đều không hiểu được tiếng Rutben cũng như tiếng Croát; người duy nhất có thể trợ giúp phần nào là một linh mục già tóc bạc; ông này - cũng như ông thầy thuốc thất vọng vì không có moocphin - than phiền chua chát là không thể làm lễ thiêng; vì thiếu dầu để làm lễ xức dầu thánh cuối cùng. Trong suốt cuộc đời lâu dài của ông, ông chưa “quản trị” nhiều người như mấy tháng nay. Và chính là tôi nghe ông nói một câu bằng một giọng cứng và giận dữ mà tôi không bao giờ quên: “Tôi đã bảy mươi tuổi; tôi đã thấy rất nhiều điều. Nhưng tôi không bao giờ tin là có thể có một tội ác chống loài người như thế này”.


*


*           *


Chiếc tàu - bệnh viên trên đó tôi trở về, đến Budapest vào lúc sáng sớm. Tôi để người ta đưa đến ngay một khách sạn để ngủ một tí. Chỗ ngồi duy nhất của tôi khi ở trên chiếc tàu ấy là cái hòm hành lý của tôi; quá mệt, tôi ngủ thiếp đi cho đến mười một giờ; tôi vội vàng mặc áo quần để đi ăn sáng. Nhưng chưa đi được vài bước trên đường phố, tôi đã phải dụi mắt để tin chắc rằng mình không nằm mơ. Đó là một ngày quang đãng mà buổi sáng còn là mùa xuân, trưa đã là mùa hạ và Budapest tươi đẹp và vô tư lự hơn bao giờ hết. Những phụ nữ mặc đồ trắng đi dạo, tay khoác tay những sĩ quan mà tôi nghĩ là những sĩ quan của một đội quân hoàn toàn khác với đội quân mà tôi còn thấy ngày hôm trước. Áo quần tôi, miệng tôi, mũi tôi còn đầm mùi iôđôform mà tôi mang theo từ cuộc chuyển tải các thương binh, thế mà tôi đã thấy họ mua những bó hoa viôlét mà họ tặng một cách duyên dáng cho các bà, tôi đã thấy những chiếc ô tô hoàn hảo chở những ông lớn râu cao hoàn hảo và ăn mặc hoàn hảo chạy trên đường phố. Và tất cả những điều này chỉ cách mặt trận có tám hoặc chín giờ tàu suốt! Tuy nhiên, người ta có quyền lên án những người này không? Phải chăng là hoàn toàn tự nhiên đối với họ được sống và cố hưởng cuộc sống? Và với cảm giác là mọi cái đều bị đe dọa, nhặt vội vã những gì còn có thể nhặt được, một vài cái áo quần đẹp mà họ có, những giờ đẹp cuối cùng mà họ còn được sống? Khi người ta chợt nhận ra rằng con người là một sinh thể mỏng manh và dễ bị tiêu diệt biết bao, mà một mảnh chì nhò đủ để, chỉ trong một phần nghìn giây, cướp đi cuộc sống với tất cả những hoài niệm, những hiểu biết và những niềm si mê, người ta hiểu rằng vào một buổi sớm ngày lễ như thế này, hàng ngàn người còn đến bờ sông để thấy ánh mặt trời, để cảm nhận bản thân mình, cảm nhận máu của riêng mình, cuộc sống của riêng mình với một cường độ đã được tăng lên. Tôi hầu như đã giải hòa với cái trước đó đã làm tôi kinh hoàng. Nhưng vừa lúc đó, thật không đúng lúc, một chú bé sốt sắng đem đến cho tôi một tờ báo của Vienne. Tôi cố đọc; chính chỉ lúc này nỗi chán ghét xâm chiếm lấy tôi dưới hình thức một cơn giận thực sự. Tôi tìm thấy ở đó tất cả những câu được nhắc đi nhắc lại về ý chí chiến thắng không lay chuyển, về những tổn thất nhỏ nhoi của quân đội ta và những tổn thất nặng nề của đối phương; lúc đó sự dối trá của chiến tranh nhảy bổ vào tôi, trần trụi, to lớn và vô liêm sỉ! Không, không phải những người đi dạo, những người biếng nhác, những người vô tư lự là tội phạm, mà độc nhất những người, bằng lời nói, đã kích động chiến tranh, và chúng ta nữa, chúng ta cũng là kẻ có tội nếu chúng ta không tập trung tất cả sức mạnh của chúng ta vào một mối để đấu tranh chống lại nó.


*


 


Chỉ duy nhất lúc đó tôi mới có được sự thôi thúc của quyết định: phải đấu tranh chống chiến tranh! Tài năng đã có sẵn trong tôi chỉ còn thiếu sự xác nhận hùng hồn và cuối cùng của bản năng để bắt đầu. Tôi đã nhận ra đối thủ đập tan, - cái chủ nghĩa anh hùng giả dối nó muốn đưa những người khác vào đau khổ và chết chóc, chủ nghĩa lạc quan dễ dãi của những nhà tiên tri vô lương tâm, những nhà chính trị cũng như những nhà quân sự hứa hẹn thắng lợi mà không hề vướng chút ngại ngùng nào, kéo dài sự chém giết, và sau lưng họ, bản hợp xướng mà họ khen ngợi của tất cả những “người nói dài dòng về chiến tranh”, như Werfel đã gọi trong một bài thơ hay. Ai đó biểu hiện một thoáng nghi ngờ làm họ phiền hà trong nhiệt tình yêu nước của họ; ai đó chống chiến tranh mà bản thân họ không phải chịu đau khổ vì nó, họ lên án như một kẻ phản bội. Bao giờ cũng là những người ấy, một bè lũ dai dẳng qua nhiều thế kỷ, gọi hèn nhát những người thận trọng, gọi yếu đuối những người nhân ái nhất, để rồi bản thân họ vẫn lúng túng vào lúc xảy ra các tai họa mà họ gây ra bằng sự nhẹ dạ của mình. Bao giờ cũng là băng đoàn ấy, đã nhạo báng Cassandre ở thành Troïe, Jérémie ở Jérrusalem; và không lúc nào tôi hiểu cái bi thảm và cái lớn lao củ những hình tượng ấy bằng vào những giờ phút rất giống với những giờ phút họ đã sống. Ngay từ đâu tôi đã không tin ở “thắng lợi” và với tôi chỉ có một điều chắc chắn: dù có thể đạt thắng lợi với một giá hy sinh chưa từng có thì thắng lợi cũng không biện minh cho các hy sinh. Nhưng tôi luôn cô độc giữa các chúng bạn khi đưa ra lời báo trước đó, và tiếng kèn chiến thắng trước phát đạn đầu tiên, việc chia chiến lợi phẩm trước trận đánh đầu tiên làm tôi đôi khi nghi ngờ phải chăng mình đã điên giữa những người khôn ngoan ấy hay đúng hơn, phải chăng tôi là người duy nhất còn thức và tỉnh giữa sự say sưa của họ. Như vậy tôi coi là hoàn toàn tự nhiên việc mô tả một cách bi đát tình huống bi thảm của “Người thất bại chủ nghĩa”, là tình huống của tôi - Người ta đã đặt ra từ này để gán một cách sai lạc ý muốn đi đến thất bại cho những ai cố gắng gây ra một sự đồng minh. Tôi chọn làm biểu tượng hình tượng Jérémie, người đã báo trước một cách vô ích. Nhưng vấn đề đối với tôi không phải là viết một vở kịch “hòa bình chủ nghĩa”, đặt thành bài diễn văn và bài thơ cái điều sáo rỗng rằng hòa bình có giá trị hơn chiến tranh, mà là chứng minh rằng người bị miệt thị là một người yếu và sợ sệt trong thời điểm của sự hứng khởi thường bộc lộ, vào thời điểm của sự bại trận, như là người duy nhất không chỉ chịu đựng nó mà còn chế ngự nó. Ngay từ vở đầu Thersite, vấn đề về ưu thế tinh thần của người chiến bại đã làm tôi bận tâm. Tôi luôn tìm cách chứng minh rằng mọi hình thức quyền lực tạo nên ở con người sự chai dạn, rằng chiến thắng gây nên trong toàn bộ các dân tộc sự xơ cứng tâm hồn, và đối lập với nó, sức mạnh của sự thất bại nó xáo trộn một cách đau xót, nó cày xới các linh hồn và làm cho chúng sinh sôi. Đang giữa chiến tranh, trong khi những người khác, sớm đắc chí chứng minh cho nhau thắng lợi chắc chắn, tôi đã đào sâu vào chỗ sâu nhất của vực tai họa và tìm con đường từ đáy ngoi lên.


Nhưng khi chọn một đề tài của Kinh thánh, một cách vô thức tôi đã đụng đến một cái gì đó ở trong tôi từ trước đến lúc đó chưa được dùng đến: tôi muốn nói đến lễ ban thánh thể của tôi, dựa một cách tối tăm vào khí huyết và truyền thống, với định mệnh của dân tộc Do Thái. Phải chăng nó, dân tộc tôi, không ngừng bị tất cả các dân tộc khác đánh bại, tuy nhiên nó tiếp tục sống mãi sau các dân tộc khác nhờ một sức mạnh thần kỳ - cái sức mạnh đúng là đã làm biến đổi cái thất bại bởi ý chí kiên cường chống lại nó. Phải chăng các nhà tiên tri của chúng ta đã đoán trước điều đó, sự săn đuổi trường kỳ đó, những bản án vĩnh viễn bị lưu đày đó, ngày nay một lần nữa quẳng chúng tôi trên những con đường theo chiều gió, và phải chăng họ đã chấp nhận sự cần thiết gục ngã dưới bạo lực và phải chăng họ đã ban phép lành cho nó như một con đường đi đến với Đức Chúa Trời? Sự thử thách phải chăng đã là vĩnh viễn một cái được đối với mọi người và mỗi người? - tôi cảm nhận điều đó một cách hạnh phúc khi viết vở kịch, cuốn sách đầu tiên trong những cuốn sách của tôi mà tôi đã dành một giá trị dưới con mắt của chính mình. Ngày nay tôi biết rõ điều đó: không có tất cả những gì tôi đã chịu đau khổ trong chiến tranh, với những sự thông cảm, với khả năng dự đoán mà chiến tranh đem lại, tôi vẫn chỉ là nhà văn như tôi đã là nhà văn trước chiến tranh, “linh hoạt một cách dễ chịu”, như người ta nói trong âm nhạc, nhưng tôi sẽ không bao giờ nắm bắt, thấu hiểu, đạt tới chiều sâu thẳm của các tình cảm. Lần đầu tiên tôi có cảm tưởng tự biểu hiện mình bằng cách cho thời đại mình mượn tiếng nói. Bằng cách nỗ lực giúp đỡ người khác, tôi đã tự giúp đỡ mình: tôi đã sẵn sàng để viết tác phẩm có cá tính nhất của mình, với Erasme mà qua đó tôi đã tự nâng mình lên từ cuộc khủng hoảng tương tự năm 1934, vào những ngày của Hitler. Ngay lúc tôi cố cho nó thành hình dạng, tôi không còn đau khổ dữ dội như vậy với bi kịch của thời đại tôi.


Tôi đã không một giây lát nào tin ở kết quả của một tác phẩm như vậy đưa lên sân khấu. Bởi sự gặp gỡ của nhiều vấn đề; cái tiên tri, cái hòa bình chủ nghĩa, cái đạo Do Thái, bởi cấu trúc của người bại trận đối với số phận của mình, dung lượng của tác phẩm của tôi vượt kích thước bình thường của một vở kịch, sự trình diễn toàn vẹn sẽ đòi hỏi tới hai ba buổi tối. Hơn nữa làm sao đưa lên sân khấu Đức một vở báo trước sự thất bại, thậm chí mến chuộng nó, trong khi tất cả các tờ báo hàng ngày thét vang: “Thắng hay là chết!”. Tôi đã có thể coi như một kỳ tích việc quyển sách được in; nhưng cả trong trường hợp nó không được in ra, nó cũng đã giúp tôi chịu đựng được những năm đen tối nhất. Tôi đã chuyển thành đối thoại bằng thơ những gì tôi phải im lặng trong những cuộc đàm thoại với những người xung quanh. Tôi đã vứt ra xa khỏi tôi cái gánh nặng đè trĩu lên tâm hồn tôi và tôi đã được trả về cho tôi; trong một thời khắc mà tất cả trong tôi nói lên: “Không” với thời đại tôi, tôi đã tìm thấy cái “Có” mà tôi tự nói với mình.


 


 


TRONG LÒNG CHÂU ÂU


 


Vào lễ phục sinh năm 1917, khi vở kịch Jérémie của tôi có mặt ở các hiệu sách, tôi có một sự ngạc nhiên. Tôi đã viết nó trong một trạng thái chống đối kịch liệt với thời đại của tôi và tôi phải chờ đợi một sự đối lập quyết liệt như vậy. Nhưng điều trái lại đã xảy ra. Hai mươi ngàn bản bán được ngay, số lượng huyền ảo đối với một vở kịch dành để đọc; không những các bạn bè, như Romain Rolland, tuyên bố công khai ủng hộ nó, mà cả những người trước kia đứng ở phía bên kia chiến lũy, như Rathenau và Richard Dehmel. Nhiều giám đốc nhà hát mà vở kịch không được trao cho họ - một cuộc trình diễn ở Đức vẫn không thể hình dung được trong chiến tranh - viết thư cho tôi và yêu cầu tôi dành cho họ việc dựng cho thời bình; ngay sự chống đối của những kẻ hiếu chiến cũng tỏ ra lịch sự và kính trọng. Tôi đã đợi mọi thứ, chứ không đợi điều này.


Cái gì đã xảy ra? Không gì cả, trừ phi là chiến tranh đã kéo dài hai năm rưỡi; thời gian đã làm công việc của mình là lay tỉnh lại một cách tàn nhẫn. Sau cơn đổ máu khủng khiếp ở chiến trường, cơn sốt bắt đầu hạ xuống. Con người nhìn bộ mặt chiến tranh với những cặp mắt thẳng hơn và cứng rắn hơn so với những tháng hứng khởi ban đầu. Tình cảm đoàn kết bắt đầu giãn ra vì người ta không quan sát thấy một dấu hiệu nhỏ nhất nào của sự “đại thanh lọc tinh thần” mà các nhà triết học và nhà thơ đã báo trước một cách cường điệu. Một hố sâu đã được đào xuyên qua toàn dân tộc; đất nước dường như bị chia làm hai thế giới: ở tiền tuyến, thế giới của những người lính chiến đấu và chịu đựng những thiếu thốn tàn khốc nhất, ở hậu phương, thế giới những người ở nhà tiếp tục cuộc sống vô lo, làm đông đúc các nhà hát và thậm chí làm giàu trên sự nghèo khó của những người khác. Tiền tuyến và hậu phương in hình thành một sự tương phản luôn rõ nét hơn. Qua cửa của các bàn giấy, một hệ thống che chở gớm ghiếc được đưa vào dưới hàng trăm bề ngoài giả dối khác nhau. Người ta biết rằng nhiều người nhờ tiền hoặc nhờ các quan hệ, đã có được những đơn đặt hàng quan trọng, trong khi nông dân và thợ thuyền đã nhiều lần bị thương không ngừng bị đưa trả lại các chiến hào. Từ đó mỗi người bèn không chút ngần ngại nghĩ tới cái biện pháp xoay xở có thể được. Các vật phẩm cần thiết hàng đầu đắt lên từng ngày do một sự buôn bán trơ trẽn của những người trung gian, lương thực thực phẩm ngày càng khan hiếm hơn, và bên trên đầm lầy của sự nghèo khó chung lấp lánh như những bóng ma trơi ánh phát quang của sự xa xỉ đầy khiêu khích của những người làm giàu vì chiến tranh. Một sự nghi ngờ đầy phẫn nộ bắt đầu xâm chiếm dần dần dân chúng - nghi ngờ đối với tất cả những thông cáo của chính phủ và của bộ tổng tham mưu; nghi ngờ đối với các tờ báo và tin tức chúng đăng, nghi ngờ ngay cả với bản thân cuộc chiến tranh và sự cần thiết của nó. Hoàn toàn không phải do giá trị thi pháp của quyển sách của tôi mà nó đạt được thành công đáng kinh ngạc; tôi chỉ biểu đạt những gì người khác không dám công khai nói ra: lòng căm thù chiến tranh và sự hoài nghi ở thắng lợi.


Chắc chắn là không thể nào biểu đạt trên sân khấu bằng lời nói sống động một trạng thái tinh thần như vậy. Những cuộc biểu tình không tránh khỏi sẽ nổ ra, và như vậy tôi tưởng phải từ chối nhìn thấy trong chiến tranh vở kịch đầu tiên chống chiến tranh được diễn. Nhưng tình cờ tôi nhận được của giám đốc nhà hát thành phố Zurich một lá thư báo cho tôi biết ông muốn đưa lên sâu khấu ngay vở Jérémie của tôi và mời tôi dự buổi trình diễn đầu tiên. Tôi đã quên vẫn còn tồn tại - như trong thế chiến thứ hai này - một khoảng hẹp nhưng quý của đất Đức có cái may mắn được đứng riêng ra, một khoảng đất dân chủ, tại đó lời nói còn được tự do, tư duy còn giữ được sự trong sáng của nó. Tất nhiên là tôi nhận lời ngay.


Đó có thể chỉ thực ra là một sự đồng ý trên nguyên tắc, vì nó đòi hỏi phải có trước giấy phép rời trong một thời gian công việc của tôi và đất nước của tôi. Thế mà, may thay là trong tất cả các nước tham chiến, vẫn có một lình vực - trong Chiến tranh thế giới thứ hai không có nữa - “tuyên truyền văn hóa”. Người ta luôn bị bắt buộc, để làm cho rõ rệt sự khác biệt của bầu không khí tinh thần giữa Chiến tranh thế giới thứ nhất và Chiến tranh thế giới thứ hai, chú ý đến điều này: các dân tộc, những người cầm đầu, những vua chúa được nuôi dạy trong một truyền thống nhân đạo vần còn ấp ủ trong tiềm thức nỗi xấu hổ về chiến tranh. Nước này rồi nước khác bác bỏ như một sự vu khống bỉ ổi lời chê trách đã hoặc đang là “quân phiệt”; trái lại tất cả các nước đều phô trương lòng sốt sắng để chứng minh, để cắt nghĩa, để làm rõ ra rằng họ là những quốc gia có “văn hóa”. Năm 1914, người ta khát khao tán thành một thế giới đặt văn hóa trên sức mạnh, kinh tởm coi là vô đạo đức những khẩu lệnh những “sự vị kỷ thiêng liêng” hoặc “không gian sinh tồn”; người ta không mong mỏi gì thiết tha hơn là làm người khác công nhận rằng người ta đã sáng tạo được những tác phẩm tinh thần làm giàu có di sản của nhân loại. Như vật tất cả các nước trung lập đều tràn đầy những biểu diễn nghệ thuật mà người ta cung cấp cho họ. Nước Đức gửi sang Thụy Sĩ, Hà Lan, Thụy Điển những dàn nhạc, với những nhạc trưởng nổi tiếng thế giới. Nước Áo gửi sang Nhạc Hội của mình; ngay cả các nhà thơ, nhà văn, các nhà bác học cũng được ủy quyền ở nước ngoài, không phải để khoe khoang những chiến công quân sự hoặc ca ngợi những xu hướng thôn tính, mà độc nhất để chứng minh bằng thơ của mình, tác phẩm của mình rằng người Đức không phải là những người “dã man”, và không chỉ sản xuất duy nhất những súng phun lửa và những hơi ngạt tốt mà còn sáng tạo ra những giá trị tuyệt đối lưu hành khắp châu Âu. Trong những năm 1914-1918 - tôi phải nhấn mạnh điều này - lương tâm thế giới còn là một sức mạnh mà người ta phải tôn trọng; các yếu tố đạo đức của một quốc gia còn biểu hiện trong chiến tranh một lực lượng được đánh giá là rất có ảnh hưởng. Các quốc gia còn chăm lo tranh thủ thiện cảm các con người thay vì quật ngã họ bằng một chế độ khủng bố vô nhân đạo, như nước Đức năm 1939. Vì vậy đơn xin nghỉ của tôi để dự buổi lễ biểu diễn vở kịch của tôi ở Thụy Sĩ có nhiều cơ may được chấp nhận. Những khó khăn chỉ là lo rằng đây là một vở kịch chống chiến tranh tỏng đó một người Áo thấy trước là có thể thất bại, tuy là ở trong một hình thức tượng trưng. Tôi xin gặp ông Bộ trưởng qua ông Cục trưởng và trình bày với ông nguyện vọng của mình. Tôi ngạc nhiên biết bao không ông không ngần ngại hứa với tôi sẽ làm mọi thủ tục cần thiết và nêu với tôi những lý do thật quái dị: “Nhờ ơn Trời, ông chưa bao giờ thét lên một cách ngu xuẩn tiếng thét chiến tranh. Hãy cố hết sức ở đấy để cho việc này kết thúc một cách dứt khoát”. Bốn ngày sau tôi nhận được giấy nghỉ phép và hộ chiếu ra nước ngoài.


*


 


Tôi đã hơi ngạc nhiên khi nghe một trong những công chức cao cấp nhất của một bộ nước Áo trong thời chiến lại phát ngôn tự do đến như vậy. Nhưng không nắm được những bí mật của chính trị, tôi không ngờ rằng với vị vua mới Charles, một phong trào được hình thành trong các giới của chính quyền nhằm làm lung lay nền độc tài của chủ nghĩa quân phiệt Đức; nó không tôn trọng nước Áo và trái với ý muốn thầm kín nhất của nước Áo, lôi cuốn nước này luôn đi xa hơn theo sau chủ nghĩa thôn tính tàn khốc của nó. Bộ tổng tham mưu của ta ghét chế độ độc tài dã man của Ludendorff; người ta tự vệ ở Bộ ngoại giao một cách tuyệt vọng chống lại cuộc chiến tranh tổng lực bằng tàu ngầm nó phải làm cho nước Mỹ thành kẻ thù của chúng ta, ngay dân chúng cũng thầm thì chống lại “tính ngạo nghễ của nước Phổ”. Tất cả những điều đó chỉ mới được diễn đạt bằng lời nói bóng gió thận trọng và bằng những nhận xét không có chủ định rõ rệt. Nhưng trong những ngày tiếp theo tôi phải được biết nhiều hơn và có được trước những người khác và hoàn toàn bất ngờ một sự hiểu biết nào đó về những bí mật chính trị lớn nhất của thời kỳ này.


Sự việc diễn ra như sau: trong chuyến đi của tôi sang Thụy Sĩ, tôi ngừng lại hai ngày ở Salzburg, tại đó tôi đã mua một ngôi nhà và dự định sẽ sống ở đấy sau chiến tranh. Trong thành phố ấy có một nhóm người Thiên Chúa giáo rất sùng tín trong đó hai người sắp đóng, sau chiến tranh, với tư cách là Thủ tướng, vai trò quyết định trong lịch sử nước Áo: Henri Lammasch và Ignace Seipel. Người thứ nhất là một trong những giáo sư ngành Luật nổi tiếng nhất thời ấy, đã chủ trì một số hội nghị ở Lahaye. Người kia là một linh mục Thiên Chúa giáo trí tuệ hơi đáng lo ngại, được dành để sau khi chế độ quân chủ sụp đổ, cầm đầu nước Áo bé nhỏ và trong dịp ấy chứng tỏ tài năng chính trị tuyệt vời của mình. Cả hai đều là những người hòa bình chủ nghĩa đầy lòng tin, những người Thiên Chúa giáo sùng tín, những người Áo say mê và với tư cách đó là những kẻ thù công khai của chủ nghĩa quân phiệt Đức, Phổ, Tin Lành mà họ cho là không thể tương hợp với những ý tưởng truyền thống của Áo và sứ mệnh Thiên Chúa giáo của nó. Vở Jérémie của tôi được đón ở các nhóm Thiên Chúa giáo và hòa bình chủ nghĩa với một thiện cảm lớn nhất, và cố vấn triều đình Lammasch - Seipel lúc này đang đi du lịch - mời tôi đến nhà ở Salzburg. Vị bác học già xuất chúng nói về quyền sách của tôi với nhiều thân tình; nó thực hiện, ông nói, ý tưởng Áo của chúng ta là thi hành một hoạt động hòa giải, và ông hy vọng sâu sắc rằng nó mở rộng ảnh hưởng ra ngoài văn chương. Và tôi rất ngạc nhiên khi ông trao cho tôi, một người ông chưa bao giờ gặp, với một sự chân thành chứng tỏ sự can đảm về đạo đức của ông, điều bí mật là chúng ta đang ở Áo vào một bước ngoặt quyết định. Từ khi nước Nga bị loại khỏi chiến tranh, không còn có, cả đối với nước Đức ít nhất trong chừng mực nó muốn tháo bỏ những khuynh hướng hiếu chiến của nó, lẫn nước Áo, một trở ngại thực sự nào cho việc ký kết hòa bình; người ta không được để lỡ thời điểm này. Nếu bè lũ bành trướng Nhật Nhĩ Man tiếp tục chống lại ở Đức mọi sự thương lượng, nước Áo phải nắm lấy sự dắt dẫn các công việc và hành động cho riêng mình. Ông để tôi ngầm hiểu rằng hoàng đế trẻ Charles đã hứa ủng hộ xu hướng này; người ta có lẽ sẽ thấy trong một thời gian rất gần sự triển khai đường lối chính trị của riêng hoàng đế. Bây giờ mọi việc phụ thuộc ở chỗ xem nước Áo có nghị lực áp đặt một nền hòa bình trong tương nhượng và thỏa thuận không, thay vì “nền hòa bình sau chiến thắng” mà phe quân sự Đức đòi hỏi, dầu phải trả bằng giá bằng bất cứ những hy sinh mới nào. Nếu cần phải quyết định bằng một biện pháp cực đoan: nước Áo phải rút sớm khỏi đồng minh trước khi nó bị bọn quân phiệt Đức lôi kéo vào một tai họa. “Không ai có thể lên án chúng ta là không trung thành, Lammasch nói với một giọng cứng cỏi và kiên quyết. Chúng ta đã có hơn một triệu người chết. Chúng ta đã hy sinh khá đủ. Từ nay, không một mạng người nào nữa, không một mạng nào cho quyền bá chủ của nước Đức!”.


Hơi thở tôi bị ngắt quãng vì những điều đó. Chúng tôi đã từng bí mật nghĩ đến những điều đó, nhưng không ai đủ can đảm công khai nói ra: “Chúng ta hãy kịp thời dứt khỏi người Đức và chính sách thôn tính của họ”, vì điều đó sẽ được coi là một sự “phản bội” những “bạn đồng đội” của chúng ta. Và đây, một người đã nói ra điều đó, một người như tôi đã biết, được Hoàng đế tin cậy và có ở nước ngoài một sự tôn trọng lớn nhất do hoạt động của người ấy ở Lahaye, và đã nói với tôi, một kẻ xa lạ với một sự điềm tĩnh và một sự chắc chắn tới mức tôi cảm thấy ngay rằng một hành động phân lập ở Áo không còn trong giai đoạn chuẩn bị mà đã ở giai đoạn tiến hành. Ý tưởng thật táo bạo, hoặc làm cho nước Đức sẵn sàng hơn trong việc bắt đầu thương lượng bằng sự đe dọa một nền hòa bình riêng rẽ, hoặc khi cần, thực hiện lời đe dọa đó. Đó là - lịch sử đã chứng minh - khả năng duy nhất để cứu đế quốc, cứu nền quân chủ và đồng thời cứu châu Âu. Đáng tiếc là trong thực thi người ta thiếu sự kiên quyết vốn là cơ sở của việc soạn thảo kế hoạch ban đầu. Hoàng đế Charles thực tế đã gửi người em của hoàng hậu, hoàng tử xứ Parme, cầm theo một bức thư mật đến gặp Clémenceau để thăm dò ông này, không cho triều đình Berlin biết, về những khả năng ký kết hòa bình và nếu có thể đưa ra những điều khoản sơ bộ. Làm sao nước Đức biết được sứ mạng bí mật này, điều đó, tôi nghĩ, chưa được xác định thật rõ. Chẳng may hoàng đế Charles không có can đảm công khai tuyên bố niềm tin của mình, hoặc là nước Đức đe dọa xâm chiếm nước Áo - điều mà nhiều người quả quyết - hoặc là ở tư cách giòng dõi Habsbourg của mình, hoàng đế ghê tởm việc phá bỏ vào thời điểm quyết định một liên minh mà François-Joseph đã ký kết và bao nhiêu máu đã in dấu. Dẫu sao, hoàng đế không cử vào chức chủ tịch Hội đồng Lammasch hoặc Seipel, những người độc nhất có thể, với tư cách là những người Thiên Chúa giáo quốc tế chủ nghĩa, cáng đáng trách nhiệm đoạn tuyệt với nước Đức, và chính sự do dự này là sự diệt vong của ngài. Cả hai chỉ trở thành chủ tịch Hội đồng nhà nước trong nước Cộng hòa Áo bị cắt xén chứ không phải trong đế quốc già nua của triều đại Habsburg, tuy nhiên không ai có khả năng hơn hai nhân cách đáng tôn trọng và được tôn trọng này trong việc ngăn cấm trước thế giới sự bất công lộ liễu. Bằng sự đe dọa phân lập hoặc bằng bản thân sự phân lập, không những Lammasch đã có thể cứu sự tồn tại của nước Áo mà còn có thể tránh cho nước Đức nguy cơ lớn nhất gắn liền với tinh thần của nó, ý muốn thôn tính vô độ. Châu Âu của chúng ta sẽ ở điểm tốt hơn nếu hành động mà còn người hiền minh và sùng đạo đó đã công khai báo trước cho tôi, không bị sự yếu đuối và sự bất lực làm hỏng.


*


 


Ngày hôm sau tôi tiếp tục cuộc hành trình và đi qua biên giới Thụy Sĩ. Thật khó hình dung lúc đó việc chuyển sang một vùng trung lập có nghĩa như thế nào khi người ta đến từ một nước có chiến tranh bị phong tỏa và đã gần chết đói. Chỉ có mấy phút từ ga này sang ga khác, mà ngay từ phút đầu tiên, người ta đã thấy có cảm giác từ bỏ một không khí ngột ngạt và tù túng để đột ngột đi vào một bầu không khí trong lành và có tuyết, một cơn chóng mặt từ não lan đi khắp tất cả các dây thần kinh và tất cả các giác quan. Nhiều năm sau, mỗi lần từ Áo đến tôi đi qua ga Puchs (mà cái tên không bao giờ đọng lại trong trí tôi), cái cảm giác được thở đột ngột lặp lại nơi tôi nhanh như một tia chớp. Người ta nhảy từ tàu xuống và kia, ôi ngạc nhiên, đã đợi ta ở quầy ăn những thứ mà ta đã quên, mà cách đây không lâu lắm người ta không tin là có thể thiếu; có ở đó những quả cam vàng và mọng nước, chuối, có ở đó sôcôla và giăm bông bày ở nơi rất dễ thấy mà ở chỗ chúng tôi chỉ có thể có bằng cửa sau; có ở đó bánh mỳ và thịt không cần phiếu bánh, phiếu thịt, và trên thực tại, các hành khách lao như những con thú đói vào các vật lộng lẫy giá rẻ đó. Có ở đó một trạm điện tín, một trạm gửi thư, từ đó người ta có thể không bị kiểm duyệt, viết và gửi tin tức đi khắp mọi phương. Có ở đó các tờ báo Pháp, Italia, Anh mà người ta có thể mua, giở ra và đọc mà không bị phạt. Cái gì bị cấm ở chỗ chúng tôi thì ở đây, chỉ cách có năm phút, là được phép và cái gì được phép ở đây thì ở chỗ chúng tôi lại bị cấm. Tất cả sự phi lý của một cuộc chiến tranh châu Âu bộc lộ ra qua các giác quan của tôi bằng một sự đặt kề nhau rất sít trong không gian này; nơi kia trong cái thành phố nhỏ biên giới mà người ta có thể đọc bằng mắt trần những chữ khắc trên các biển, người ta đi bắt những người đàn ông trong các ngôi nhà nhỏ, trong các lều và người ta nhốt vào những toa tàu có nơi đến là Ucraine hay Albanie, để họ chém giết và khiến cho mình bị chém giết, - ở đây, chỉ cách có năm phút, những người đàn ông cùng tuổi điềm tĩnh ngồi với vợ trước cửa nhà họ viền dây thường xuân, và hút thuốc bằng tẩu. Bất giác, tôi tự hỏi xem những con cá của khúc sông nhỏ đánh dấu biên giới này có phải ở phía tay phải là những con vật tham chiến và ở phía tay trái là những con vật trung lập không. Ngay từ giây đầu tiên để qua biên giới, tôi đã suy nghĩ khác trước, tự do hơn và hứng khởi hơn, ít nô lệ hơn và ngay từ ngày hôm sau, tôi cảm nhận rằng không chỉ những khuynh hướng đạo đức của chúng ta mà cả cơ thể của chúng ta bị giảm thiểu ở bên trong của thế giới đang có chiến tranh; được mời đến nhà những người bà con, sau bữa ăn, khi tôi uống một tách cà phê đen và hút một điếu xì gà Havan mà không phải lo ngại gì cả, tôi có một cơn choáng váng đột ngột và trống ngực đánh thình thịch. Cơ thể tôi, các dây thần kinh của tôi sau nhiều tháng dài dùng thế phẩm, không còn chịu được cà phê thật, thuốc lá thật; ngay cơ thể quen với cái phản tự nhiên của chiến tranh, có nhu cầu thích nghi với cái tự nhiên của hòa bình.


Cơn chóng mặt này, sự choáng váng tốt lành này trải rộng ra cả ở những vật của trí tuệ. Mỗi cái cây tôi thấy như đẹp hơn, mỗi trái núi tự do hơn, mỗi phong cảnh làm tôi hạnh phúc hơn vì trong một nước có chiến tranh, sự yên bình của một bãi cỏ tạo cho những cái nhìn u tối cảm tưởng về sự thờ ơ trâng tráo của tự nhiên; mỗi cảnh trời lặn nhuốm tía gợi nhớ đến máu đã đổ. Ở đây trong trạng thái tự nhiên của hòa bình, cái vô cảm cao cả của tự nhiên đã trở thành tự nhiên và tôi yêu đất nước Thụy Sĩ như chưa bao giờ tôi đã yêu như vậy. Tôi luôn vui lòng đến với nước này, tuy diện tích nhỏ bé không phải là không có cái lớn lao của mình, mà sự đa dạng trở thành không thể cạn kiệt. Nhưng tôi chưa bao giờ cảm nhận sâu sắc đến như vậy ý nghĩa của sự tồn tại của nó; ý tưởng Thụy Sĩ về sự chung sống của các quốc gia trong cùng một không gian mà không có những cảm xúc thù địch lẫn nhau, cái phương châm rất khôn ngoan nâng lên tình anh em bởi sự quyến luyến nhau và lên sự dân chủ được lương thiện thể nghiệm những khác biệt của các ngôn ngữ và các dân cư - tấm gương cao cả biết bao đối với châu Âu đang bị một sự lẫn lộn tồi tệ nhất giày vò! Nơi ẩn náu của tất cả những người bị truy hại, nơi nương nhờ từ nhiều thế kỷ của hòa bình và tự do, vui vẻ đón nhận tất cả những ý kiến mà vẫn trung thành với bản sắc riêng của mình - sự tồn tại của quốc gia duy nhất siêu quốc gia này tỏ ra cần thiết biết bao cho thế giới của chúng ta. Đối với tôi đất nước này dường như được phú bẩm vẻ đẹp và lấp đầy của cải một cách công bằng. Không, ở đây người ta không là người xa lạ. Ở đây một người tự do và độc lập, trong cái giờ bi thảm này của lịch sử thế giới, cảm thấy mình ở nhà hơn là trong tổ quố của chính mình. Trong nhiều giờ, tôi đi lang thang trong đêm trên các đường phố của Zurich và dọc các bờ hồ. Ánh sáng chiếu rọi sự yên bình; ở đây con người còn được hưởng cái yên lặng đầy hạnh phúc của cuộc đời. Tôi tưởng đoán được rằng sau các cửa sổ, người phụ nữ không trở mình trên giường mà không tìm thấy giấc ngủ vì nghĩ tới con; tôi không thấy những người bị thương, những người cụt tay chân; không có những người lính trẻ ngày mai hoặc ngày ki sẽ bị đẩy lên tàu, - ở đây người ta cảm nhận rõ hơn quyền sống, còn ở các nước đang có chiến tranh, người ta cảm nhận một thứ xấu hổ và như một tình cảm tội lỗi đã không bị cụt chân.


Nhưng điều cấp thiết nhất đối với tôi không phải là những cuộc bàn cãi về việc diễn vở của tôi, cũng không phải là những cuộc gặp gỡ với các bạn bè Thụy Sĩ và nước ngoài. Tôi muốn trước tiên gặp Romain Rolland, người mà tôi biết là có thể làm cho tôi cương quyết hơn, sáng suốt hơn, tích cực hơn, và tôi muốn cảm ơn ông về tất cả những gì mà những sự khích lệ của ông, tình bạn của ông đã cung cấp cho tôi trong những ngày cô độc cay đắng nhất. Chính là những bước đầu tiên của tôi phải đưa tôi đến nhà ông; và tôi đi ngay tới Genève. Mà trong tư cách là “kẻ thù”, lúc đó chúng tôi ở trong một tình huống khá phức tạp. Chính phủ các nước đang đánh nhau tất nhiên không nhìn với cái nhìn thiện cảm việc các thần dân của mình nuôi dưỡng những quan hệ cá nhân với công dân các quốc gia thù địch. Không phải chỉ có một điều khoản duy nhất qua đó người ta có bị phạt vì một cuộc gặp gỡ như vậy. Những tin tức cung cấp cho kẻ thù được đồng nhất với sự phản bội cao nhất còn những quan hệ công việc, “thương mại với kẻ thù”, và để khỏi bị nghi đã vi phạm điều cấm đoán đó, chúng tôi tránh cả việc, trên nguyên tắc, giữa bạn bè, mời nhau một điếu thuốc lá, vì không hề có một sự nghi ngờ nhỏ nhất là chúng tôi thường xuyên bị vô số nhân viên mật quan sát. Để tránh bị nghi là có cái gì đó phải lo ngại hoặc có một ý thức xấu, chúng tôi, bạn bè quốc tế, chúng tôi chọn phương pháp đơn giản nhất: phương pháp của sự chân thật. Chúng tôi không viết cho nhau những địa chỉ thỏa thuận trước hoặc qua hòm thư lưu, chúng tôi không bí mật đi thăm nhau ban đêm, mà đi dạo với nhau trên các đường phố, hoặc chúng tôi ngồi trong các quán cà phê trước con mắt mọi người. Thế là bằng cách đó ngay sau khi đến Genève tôi tự báo với người gác cổng khách sạn bằng cách đánh vần tên họ tôi; tôi nói với anh là tôi muốn gặp ông Romain Rolland, chính xác là vì anh có giá trị hơn nhiều đối với cơ quan tình báo Đức và Pháp khi anh có thể báo cáo tôi là ai và muốn thăm ai. Đối với chúng tôi, điều hoàn toàn tự nhiên là hai người bạn cũ không phải đột ngột tránh nhau bởi vì họ ngẫu nhiên thuộc hai quốc gia khác nhau đang ngẫu nhiên có chiến tranh với nhau. Chúng tôi không cảm thấy bị bắt buộc bắt chước một sự phi lý vì người đời đang cư xử một cách phi lý.


Và bây giờ, rốt cuộc tôi đã ở trong phòng của Rolland - nó gần như là căn phòng của ông ở Paris. Như xưa, bàn và các ghế đều chất đầy sách. Bàn viết ngập những tạp chí, thư và giấy tờ, đó vẫn là cùng cái phòng riêng tu sĩ để làm việc ấy, rất giản dị nhưng nối liền với cả thế giới, mà ông đã sắp xếp theo bản tính của mình dù là ở đâu. Thoạt đầu, tôi không tìm ra từ để chào ông. Chúng tôi đưa tay cho nhau - bàn tay Pháp đầu tiên tôi được phép nắm chặt kể từ nhiều năm; Rolland là người Pháp đầu tiên tôi đối thoại từ ba năm nay, - nhưng ba năm qua chúng tôi đã xích lại gần nhau hơn bao giờ hết. Bằng ngoại ngữ này, tôi nói thân tình và tự do hơn so với bất cứ ngôn nữ nào của Tổ quốc tôi. Tôi ý thức đầy đủ rằng người bạn đứng trước tôi đây là người quan trọng nhất ở thời điểm này của lịch sử thế giới, rằng đây là lương tâm đạo đức của châu Âu nói với tôi. Chỉ lúc này tôi mới có thể nhìn bao quát tất cả những gì ông đã làm và đang làm để phục vụ sự nghiệp lớn lao nhất, sự nghiệp của đồng minh quốc tế. Làm việc ngày và đêm, luôn cô độc, không người giúp đỡ, không thư ký, ông theo dõi tất cả những biểu lộ ở tất cả các nước, ông liên hệ thư từ với vô số những người xin ông lời khuyên về những tình thế khó xử; ông viết mỗi ngày nhiều trang báo; ông có, không như một ai khác thời gian đó, ý thức về trách nhiệm mà việc sống những thời kỳ lịch sử áp đặt cho mình và ông cảm thấy nhu cầu thuật lại cho hậu thế. (Bây giờ ở đâu rồi vô số những tập viết tay của cuốn nhật ký ấy, một ngày kia sẽ cung cấp đầy đủ những giải thích về tất cả những xung đột đạo đức và tinh thần của Đại chiến thế giới thứ nhất này?). Đồng thời, ông viết những bài báo mà mỗi bài làm dấy lên sự náo động quốc tế. Ông làm việc cho tiểu thuyết Clérambault. Đó là sự hy sinh trong mọi lúc, sự hy sinh không hạn chế toàn bộ sự tồn tại của ông cho trách nhiệm rộng lớn mà ông gánh vác là hành động trong mọi việc một cách nhân ái và đưa mình ra làm gương giữa cơn điên loạn đang nhiễm vào nhân loại. Ông không bao giờ chịu để một lá thư không trả lời; ông đọc tất cả các tập mỏng đụng đến các vấn đề của thời cuộc; con người gầy yếu và mảnh dẻ ấy và chính lúc đó sưc khỏe rất bị đe dọa, chỉ có thể nói nhỏ và phải không ngừng đấu tranh với một chứng ho khan. Không bao giờ có thể đi ra ngoài mà không có khăn quàng và buộc phải dừng lại sau khi đã bước mấy bước hơi nhanh, con người đó đang tiêu phí lúc đó những sức mạnh, mà bởi những gì chúng đòi hỏi ở ông, tiếp giáp với cái huyền hoặc khó tin. Không gì lay chuyển được ông, không một sự tấn công nào, không một sự phản trắc nào; ông xem xét sự náo động của thế giới không chút lo sợ và với con mắt trong trẻo. Tôi chiêm ngưỡng ở đây một thứ chủ nghĩa anh hùng khác, chủ nghĩa anh hùng tinh thần và đạo đức, với một cái gì hoành tráng ở một con người sống động - cả trong cuốn sách của tôi về Rolland tôi chưa miêu tả đầy đủ nét đặc trưng này (vì với những người đang sống người ta luôn có một thẹn thùng nào đó khi quá ca ngợi). Lúc đó tôi bị xáo động sâu sắc biết bao, và nếu tôi dám biểu đạt như vậy, tôi được thanh lọc khi nhìn thấy ông trong căn phòng ảnh hưởng làm phấn chấn; tôi còn cảm nhận nó trong huyết quản nhiều ngày sau và tôi biết rằng sức mạnh tăng lực, tái sinh mà Rolland tạo ra lúc đó khi ông chiến đấu một mình hoặc gần như một mình chống lại lòng căm thù điên rồ của hằng triệu người, là bộ phận của những cái không lường được nó vượt lên trên mọi sự đo đạc và đánh giá. Chỉ có chúng tôi, những chứng nhân của thời thời kỳ này, mới biết được ý nghĩa của cuộc sống của ông, của tính cương nghị không lay chuyển của ông. Nhờ ông châu Âu bị một cơn điên loạn dữ tợn giày vò vẫn giữ được lương tâm đạo đức của mình.


Trong các cuộc hội kiến quá trưa hôm đó và những ngày sau, tôi bị tác động mạnh bởi màn tang tóc bao trùm tất cả những lời nói của ông, cùng một màn tang tóc mà người ta cảm nhận mỗi khi người ta nói về chiến tranh với Rilke. Ông đầy rẫy những niềm cay đắng đối với các nhà chính trị và đối với những gì không thể thỏa mãn lòng kiêu ngạo dân tộc bằng số các nạn nhân. Nhưng đồng thời nỗi thương cảm của ông đến với muôn vàn người khốn khổ đang đau đớn và chết chóc vì một lý do mà bản thân họ không hiểu nổi và chỉ là điều thuần túy phi lý. Ông đưa tôi xem bức điện của Lênin trước khi từ giã Thụy Sĩ trên chiếc tàu niêm chì nổi tiếng, yêu cầu ông theo Lênin sang Nga vì Lênin biết rất rõ rằng uy thế đạo đức của ông có tầm quan trọng như thế nào đối với sự nghiệp của Lênin. Nhưng Rolland vẫn kiên quyết không gia nhập một nhóm nào, giữ vững tính độc lập và phụng sự bằng con người cá nhân của ông sự nghiệp mà ông đã hiến mình cho nó, sự nghiệp của toàn nhân loại. Vì ông không ép buộc một ai phục tùng ý tưởng của ông, ông cũng từ chối mọi sự cam kết. Ai yêu ông thì bản thân phải giữ vững tính độc lập và ông chỉ đề nghị một tấm gương duy nhất - tấm gương của một người tự do và trung thành với niềm tin của riêng mình, cho dù có chống lại cả thế giới.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Thế giới những ngày qua. Tự truyện của Stefan Zweig. Phùng Đệ và Trần Nam Lương dịch. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 11.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
xem thêm »