tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21055791
19.12.2011
Hà Minh Đức
Nguyễn Đình Thi - Chim phượng bay từ núi (7)

“Cái lõi sáng của trí tuệ cả nước. Hai ông nhà nho lớn nói đến tên nơi nơi người đều kính trọng. Một ông quay lưng lại việc đời tìm một nơi góc vắng để chết một mình cho sạch. Một ông lẫm liệt nhảy vào mũi dao của chúng nó để chết cho anh hùng. Các ông muốn đánh lại chúng nó nhưng mà cái đầu của các ông chỉ nghĩ được trong vòng cái khuôn của chúng nó (như gầm lên)” không bi quan mà luôn tin cậy, tìm lối ra.


“May mà nước ta không phải chỉ có những ông nhà nho, nghĩ bằng sách Tàu! May mà chúng ta còn biết sống theo lẽ của chúng ta, nghĩ bằng cái đầu của ta. Bây giờ bốn bên lặng lẽ im lìm nhưng không phải vậy đâu nghe kỹ xem rì rầm tất cả… Hàng chim ngủ khi thuyền đỗ, nước triều lao xao còn đợi trăng lên. Mà trăng sắp mọc kia rồi. Trăng lên, nước triều sẽ dâng lên ông ạ” .


Nguyễn Đình Thi đã miêu tả được một Nguyễn Trãi người trí thức lớn của thời cuộc, tâm huyết và tài năng đã vượt qua những khó khăn của một hoàn cảnh đầy thử thách. Đối thoại và xung đột kịch có thuận lợi để tái hiện tính cách nhân vật chân thực. Khi tác phẩm được trình diễn trên sân khấu của Nhà hát lớn Hà Nội cũng chỉ diễn được 9 đêm rồi bị đình chỉ. Cũng lại luận điểm phê phán là tác phẩm có tính chất biểu tượng hai mặt. Một cán bộ trong Ban tuyên huấn Trung ương nhắc lại ý kiến của Nguyễn Đình Thi nói với Trần Độ về vở kịch Nguyễn Trãi ở Đông Quan:


“Nhân có anh Độ tôi xin nói với anh về việc riêng của tôi. Mong rằng trên hiểu rõ cho tôi. Dư luận nói tôi viết vở Nguyễn Trãi định ám chỉ một đồng chí nào là không đúng. Suy nghĩ và nguyện vọng của tôi là được viết những điều mình thấy là nên viết. Trong phê bình của trên về vở Nguyễn Trãi tôi xin phép không tiếp nhận điều phê bình là tác phẩm có biểu tượng hai mặt vì tôi không có ý nghĩ đó” . Nguyễn Trãi ở Đông Quan là một vở kịch lịch sử có giá trị. Cũng trên dòng vận động của lịch sử và theo sự chọn lọc của Nguyễn Đình Thi tác giả chọn không khí triều chính buổi suy tàn của nhà Lý và lập quốc của nhà Trần dưới bàn tay của thái sư Trần Thủ Độ. Rõ ràng thời điểm này triều đình nơi tập trung quyền lực có nhiều chuyện phức tạp xáo trộn kỷ cương, đạo đức, việc tranh chấp quyền lực của một vương triều vốn không mới lạ nhưng chẳng tình huống nào giống tình huống nào. Các nhân vật Trần Thủ Độ, Thiên Cực, Chiêu Thánh, Trần Thái Tông… mỗi người đều có cá tính và bản lĩnh riêng đều muốn làm theo ý mình nhưng rồi cũng bị guồng máy chính trị chi phối phải làm những việc khác với chính mình. Chiêu Thánh bộc lộ “khi ta lên bảy tuổi mà nhường ngôi cho Trần Cảnh thì đó chỉ là một trò xếp đặt của các ngươi. Trần Cảnh chẳng qua lúc ấy chỉ là một đứa trẻ mặc áo đội mũ trong tay các ngươi” sống với vua 11 năm, đứa con trai với Trần Cảnh vừa sinh hạ đã chết, sợ ngôi vua nhà Trần không có người kế tục Trần Thủ Độ và vợ lại đưa Thuận Thiên vợ Trần Liễu vào thay. Khi Lý Chiêu Hoàng đã ý thức được thân phận mình và bộ mặt thực của những kẻ xung quanh thì quyền lực tuột khỏi tay. Nguyễn Đình Thi đã miêu tả Chiêu Thánh với sự cảm thương nhân vật, nạn nhân của triều chính và cũng mang tính bi kịch khi không tự định đoạt được số phận của mình và đành chịu đựng. Trần Thái Tông nhà vua trẻ này tưởng như nắm được mọi quyền lực nhưng rồi chỉ là con bài thực hiện mệnh lệnh của kẻ khác, lấy Thuận Thiên (chị của Lý Chiêu Hoàng, vợ của Trần Liễu nhất là khi Thuận Thiên đã có mang ba tháng). Chia tay với Lý Chiêu Hoàng, Trần Thái Tông không thể sống thanh thản khi đã đi ngược lại đạo lý, phải chấp nhận sự loạn luân. Chán nản cảnh đời, về nương thân nơi cửa Phật ở Yên Tử, liệu nhà vua có rũ được bụi trần? Trần Thái Tông lại từ cõi đạo về với cảnh đời chen chúc theo yêu cầu của Trần Thủ Độ trước nguy cơ của vận nước. Trần Thái Tông chưa tạo được bản sắc, có phần mờ nhạt nhưng cũng là một nạn nhân bi kịch theo một ý nghĩa nào đó. Các nhân vật Trần Thủ Độ, Thiên Cực cặp nhân vật lộng quyền này đã dẫm đạp lên những quy tắc làm nền tảng cho triều chính. Trần Thủ Độ đã ép Lý Huệ Tông phải thắt cổ tự vẫn lấy Thiên Cực nguyên là vợ Lý Huệ Tông bày đặt từ chuyện dựng vợ gả chồng cho thân quyến của vương triều đến việc lập và phế bỏ ngôi vị vua chúa. Rừng trúc có sự đan xen lẫn lộn giữa nhiều yếu tố chính trị, đạo đức, quyền lực, tín ngưỡng tác động lẫn nhau và đầu mối quan trọng nhất vẫn là chính trị. Đối với mỗi nhân vật, phần tích cực và tiêu cực cũng không dễ phân tích. Điều đáng quý là dù ở hoàn cảnh nào hiển danh hay bất hạnh cũng luôn nghĩ đến quyền lợi quốc gia. Nguyễn Đình Thi chú ý đến nhân tố quan trọng này để điều hành cho các nhân vật hoạt động. Nguyễn Đình Thi luôn chú trọng đến bản chất người của các nhân vật ở môi trường quyền quý. Họ cũng suy nghĩ, xúc cảm, vui buồn, đau đớn như con người đồng loại. Nhà nghiên cứu văn học Phan Trọng Thưởng nhận xét: “Vở kịch của Nguyễn Đình Thi là một sự kiện lịch sử ba động. Trong khi tái tạo lại sự kiện ông vừa đứng trên lập trường công dân, vừa đứng trên lập trường nghệ sỹ để thể hiện chính kiến của mình. Trên lập trường công dân ông khẳng định “Việc nước là lớn” nhưng trên lập trường nghệ sỹ ông xem “việc người với người không thể nhỏ hơn” .


Sức hấp dẫn của Rừng trúc ngoài tính chọn lọc và tiêu biểu của xung đột và tính cách còn ở khả năng miêu tả và bộc lộ tâm lý các nhân vật sâu sắc và giàu tính văn học. Nguyễn Đình Thi đã làm chủ ngòi bút trước các tình huống lịch sử. Nguyễn Đình Thi tôn trọng tính khách quan của lịch sử và cốt cách của các nhân vật. Tuy nhiên trong cái khung lịch sử của một thời đại cũng như tâm vóc chính trị - xã hội của các nhân vật vẫn có phần thừa và thiếu dành cho sáng tạo nghệ thuật. Lịch sử nói về Vũ Như Tô không nhiều nhưng sức tái tạo của Nguyễn Huy Tưởng với nhân vật lại lớn và đã tạo dựng được một tính cách nghệ thuật có tầm vóc. Lịch sử cũng không nói nhiều về Lý Chiêu Hoàng nhưng nhân vật lại yêu cầu nhiều sự bù đắp và Nguyễn Đình Thi đã phát huy năng lực sáng tạo của mình. Điều đáng quý là tác giả đã kéo gần lại, xích gần lại giữa quá khứ lịch sử và hiện tại để người xem, người đọc hôm nay sống trong không khí gần gũi, hòa đồng dễ quên đi khoảng cách lịch sử của gần mười thế kỷ .


Ngoài nguồn cảm hứng trực tiếp về đề tài chính sử, Nguyễn Đình Thi yêu thích những truyền thuyết, truyện cổ… của dân tộc. Chúng ta có một kho tàng truyện cổ, truyền thuyết, giai thoại rất phong phú. Được sáng tác và bù dắp qua hàng ngàn năm, đọng lại và kết tinh thành những giá trị văn hóa. Trong phạm vi này người viết có thể tìm tòi, bồi đắp và tái tạo trong chừng mực vừa tôn trọng nguyên bản vừa góp phần làm phong phú hơn. Đất nước nông nghiệp người dân gắn với đồng ruộng, lao động vất vả một nắng hai sương nên người nông dân với bản chất hiền lành, chất phác luôn biết yêu quê hương đất nước. Đất nước hàng ngàn năm chống trả giặc ngoại xâm, chiến tranh kéo dài nên mỗi người con trai cũng thường là một chiến binh luôn phải xa nhà và thậm chí ra đi không trở về. Người đàn bà hóa đá, Cái bóng trên tường, tuy đơn giản về dòng kể nhưng thấm vị xót xa và giàu ý nghĩa nhân đạo. Người đàn bà hóa đá hình ảnh những tảng đá giống hình người phụ nữ trên nhiều đỉnh núi ở phương Bắc gợi liên tưởng đến sự trông chờ vô vọng của người vợ với người chồng đi đánh trận ở nơi xa. Đường giây truyện đơn giản không dễ sân khấu hóa. Nguyễn Đình Thi đã mở rộng để câu chuyện có chiều sâu bi kịch. Không chỉ là đợi chờ vô vọng mà xấu xa hơn là con người là nạn nhân của bi kịch ngẫu nhiên như một định mệnh không tránh khỏi. Nguyễn Đình Thi đã mở rộng để câu chuyện có chiều sâu bi kịch. Không chỉ là đợi chờ vô vọng mà xấu xa hơn là con người là nạn nhân của bi kịch ngẫu nhiên như một định mệnh không tránh khỏi. Nguyễn Đình Thi đã mượn câu chuyện dân gian về sự nhầm lẫn khi người chồng hỏi về vết sẹo trên đầu vợ và nhận ra là em gái mình, rồi bỏ nhà ra đi. Tác giả Nguyễn Đình Thi trong các tác phẩm luôn chú ý đến bên cạnh những quy luật nghiệt ngã của đời sống là những ngẫu nhiên. Con người cũng luôn phải chịu đựng những ngẫu nhiền từ đầu tới không định trước và những ngẫu nhiên hay thường ập đến với những người nghèo khổ. Thật cảm thương cho tình cảnh người đàn bà nhân vật chính và cũng là nạn nhân trong truyện.


“Tôi đứng đây, bế con tôi bao nhiêu ngày rồi tôi chẳng biết, bao nhiêu tháng rồi tôi chẳng biết, bao nhiêu năm rồi tôi chẳng biết.


Chông tôi đi đâu, có ai biết không?


Chung tôi yêu nhau lắm sao tự nhiên chồng tôi lại đi mất… không ai bảo cho tôi được một điều gì” .


Có nhiều nguyên nhân để người phụ nữ phải chờ đợi và dù với lý do gì họ vẫn là nạn nhân.


Và người ấy đã trở về không phải trong Người đàn bà hóa đá mà ở một vở kịch khác với một tình thế bi đát khác: Cái bóng trên tường. Câu chuyện lầm lẫn đến bi kịch này cũng có nguyên nhân sâu xa là người chồng đi trận mạc lâu ngày trở về nghe con nhỏ nói về cái bóng vợ đêm đêm in trên tường. Không rõ căn nguyên người chồng đã nghi ngờ và kết tội cho vợ là ngoại tình và người vợ bảo vệ danh dự của mình đã chết. Người chồng hối lỗi không kịp và một đời mang nỗi hận. Qua câu chuyện xúc động này Nguyễn Đình Thi muốn nói lên lời đề nghị con người hãy cảnh giác, tỉnh táo tránh những nghi ngờ và ngộ nhận đáng tiếc xảy ra để rơi vào bi kịch không cứu vãn được. Tác phẩm cũng gợi suy nghĩ về tính bi kịch của đời thường, chuyện hàng ngày. Tình huống xảy ra không lớn, không phải nơi chiến trường đổ máu, chết người, không phải xung đột quyết liệt giữa hai thế lực đối kháng để dẫn đến đau khổ chết chóc. Người đàn bà hóa đá, Cái bóng trên tường nhầm lẫn khởi lên từ nguyên nhân bé nhỏ tưởng như thường tình mà kết quả dẫn đến lại quá nặng nề. Cái tưởng như là định mệnh từ đâu đè nặng xuống, như không rõ nguyên cớ lại chính từ mình, do mình thiếu sáng suốt mà gây nên. Nguyễn Đình Thi nhạy cảm với bi kịch đời thường không chỉ với hôm qua mà ngày nay vẫn thế. Trên báo chí hàng ngày vẫn có những chuyện có tính bi kịch mà nguyên nhân thật nhỏ bé, thật đáng trách và con người có thể tránh được. Trương Chi cũng là một chuyện dân gian quen thuộc được tô điểm thêm bằng một chút huyền thoại để trở thành một chuyện tình có sức ám ảnh. Nguyễn Đình Thi đã cảm nhận sâu sắc bi kịch của sự ngăn cách giữa hai con người. Bản chất của tình yêu là hòa hợp, say đắm và khi đã có những yếu tố trên thì không gì có thể ngăn cản được. Mỵ Nương và Trương Chi ở vào hoàn cảnh éo le khó vượt qua được hố sâu ngăn cách. Sự khác biệt giữa hai hoàn cảnh một dân chài nghèo khố rách áo ôm với một công chúa. Tình yêu ấy vẫn có thể cứu vãn được nếu thực sự hai người yêu nhau. Phải chăng sự gặp gỡ ngẫu nhiên và quá bộc lộ giữa Tiên Dung và Chử Đồng Tử vẫn không tổn hại đến tình yêu của hai người. Tiếng đàn của Thạch Sanh như âm thanh lưu luyến và dẫn mối cho hai người đến với nhau để thành duyên phận. Cũng từ đấy suy ra thì ngăn cách về cảnh ngộ, về giai cấp là trở ngại khó vượt qua nhưng vẫn có ngoại lệ. Chính cái tưởng là dễ mà khó là ở sự gặp gỡ mặt đối mặt giữa chàng trai quá xấu xí và cô gái đẹp duyên dáng Mỵ Nương.


Trương Chi: (Cầm cây đèn). Đây em nhìn rõ anh đi


Mỵ Nương: Anh (bỗng quay đi) Giời ơi


Trương Chi: Em Mỵ anh đây


Mỵ Nương: Anh (quay lại nhìn sững rồi lại quay đi che mặt).


Trương Chi: Thôi em ở lại anh đi


Mỵ Nương: Không! Anh Trương Chi (vùng đến bên Trương Chi muốn ôm rồi lại quay đi bưng mặt khóc nức nở) Tôi… không thể nào… tôi xin lỗi… xin lỗi.


Trương Chi: Anh như vậy, em Mỵ ạ


Cái bi kịch ấy tưởng như có thể vượt qua nhưng là bức tường, là hố sâu ngăn cách. Trong tình yêu là như vậy. Đơn giản hóa những mối quan hệ này dễ rơi vào xử sự thiếu văn hóa. Giải quyết bi kịch trần gian ấy câu chuyện có hậu khi tái hiện hình ảnh Trương Chi với con thuyền bé nhỏ. Hình bóng chàng trai xấu xí và con thuyền hiện lên trong chén nước đã biến đi khi những giọt nước mắt của Mỵ Nương rõ xuống. Sân khấu hóa chuyện Trương Chi, Mỵ Nương, Nguyễn Đình Thi đã biết chắt lọc những chi tiết gợi cảm tạo được sự cảm thông sâu sắc ở người đọc và biết dừng ở những chi tiết tế nhị. Nguyễn Đình Thi nhạy cảm với âm điệu bi kịch của cuộc sống và thể hiện thành công qua nhiều tác phẩm kịch Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Rừng trúc, Người đàn bà hóa đá, Cái bóng trên tường, Trương Chi…đều mang tính bi kịch có khi xuyên suốt và bao trùm tác phẩm kịch, có khi ở một số nhân vật hoặc ở một vài nhánh kịch. Ngoài những tác phẩm trên, Nguyễn Đình Thi cũng mở rộng cảm hứng sáng tạo với nhiều đề tài khác. Hòn Cuội câu chuyện quen thuộc của dân gian giàu tính hài này được tiếp nhận và tái tạo với những sáng tạo riêng. Kẻ đáng phê phán, đáng cười chính là Phú ông độc ác, tham lam, ham sắc dục, rồi tên bợm tay chân. Nguyễn Đình Thi quan tâm đến người nông dân lao động chân thực giàu tình nghĩa. Họ bị áp bức, dồn đến chân tường. Thêu cô gái đẹp của làng quê phải than thở “Sao mà khốn khổ cái thân tôi! Ba bề bốn bên nó dăng lưới cả rồi, tôi làm thế nào bây giờ” . Cuội cũng nhận ra là “không sống ở đời này như mọi người được” . Cuội phải sống với một không gian khác. Hòn Cuội như một vở kịch, một hoạt cảnh dân gian, một diễu nhại nghệ thuật. Tác giả lấy nhân dân, tư tưởng nhân nghĩa làm chuẩn mực. Hình ảnh của Cuội được cảm nhận với giá trị nhận thức mới “Cuội trong Hòn Cuội là người nghệ sỹ với cuộc đời nên luôn có cảm giác lông bông “cha tôi cắt cỏ”.


Viết kịch theo truyền thống quen thuộc Nguyễn Đình Thi muốn tìm thêm cách viết hiện đại. Nếu trong thơ có thể có thơ tự do, thơ không vần thì trong kịch quy tắc ràng buộc đến mức nào. “Giấc mơ là vở kịch hiện đại” tác giả Nguyễn Đình Thi tự nhận xét là thế. Cứ nhìn vào bảng nhân vật dễ thấy tình đồng hiện của thời gian và ranh giới không gian bị xóa mờ. Theo thứ tự xuất hiện có người lính, thần chết, Đại đế Trung Quốc Tần Thủy Hoàng, Nữ hoàng Ai Cập (Klê-ô-pát) cô gái, rồi người yêu của người lính và cả người trai (Chử Đồng Tử) và công chúa (Tiên Dung). Ở những xứ sở khác nhau, cội nguồn và thời gian khác nhau các nhân vật về tụ hội và hành động theo nguyên tắc nào? Nhà văn Nga Marian Tkatchep nhận xét sâu sắc “Giấc mơ là một vở theo thể biểu tượng nói bóng gió và đây là một thể loại có quy luật riêng của nó khác với những quy luật của các vở kịch tâm lý phổ biến trong những năm cuối của thế kỷ XX này. Người ta đã thấy thật sự sự đối mặt của những lực lượng và những khái niệm nguyên thủy dưới dạng nguyên chất: sự sống và cái chết, điều hay và cái dở, sự thật và dối trá, tình yêu và hận thù. Đề tài về Hiền về người lính ở đây vang lên rõ nét và trong suốt lạ kỳ như một thứ âm vang tinh thần làm cho người ta thấy ngay những cái gì là sai lạc, là dối trá, là ích kỷ” . Tưởng là chuyện xa lạ nhưng thực sự cũng nằm trong những phạm trù quen thuộc mà tác giả quan tâm phân tích về con người: cái tốt, cái xấu, lòng yêu và sự hận thù, hy vọng và thất vọng… Vẫn có một mẫu số chung cho con người. Cái khác là dấu ấn của thời đại, xứ sở. Tiếng sóng cũng là một vở có tính phá cách theo hướng hiện đại. Tiếng sóng, dòng sông, như một âm thanh vang vọng từ đầu đến cuối vở kịch.


Mở đầu người con gái tâm sự “Tôi là dòng sông bên trong mỗi đời người. Từ những nguồn xa tôi cuộn chảy không ngừng về phía trước, tôi trôi đi lặng lẽ, ngày ngày người ta không nhớ là có tôi nữa, bỗng nhiên người ta nghe thấy có sóng vỗ, người ta lắng nghe. Tiếng sóng vỗ như gọi như nói một điều gì. Tiếng sóng vỗ lạ lùng… người ta lắng nghe. Tiếng sóng vỗ không yên .


Kết thúc vở kịch lại hiện lên người con gái huyền ảo “Tôi là dòng sông khi dữ dội khi hiền từ. Bạn lắng nghe xem… trong đời bạn có một dòng sông không lúc nào ngưng đọng sóng. “Kịch hiện đại có chiều hướng mở để phát triển, từ sự tiếp nối của những hoạt cảnh, khắc sâu ấn tượng ở một vài cảnh ngộ, nhân vật, hoặc nêu lên những biểu tượng có ý nghĩa bao trùm, cái khó là ở sự tiếp nhận. Có tạo được sự hòa hợp giữa vở kịch với người xem? Nhà văn Tô Hoài nhận xét: Đọc kịch hiện đại của Nguyễn Đình Thi thấy mờ mịt quá.


Nguyễn Đình Thi viết kịch theo cách suy nghĩ riêng của mình. Ông ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của một tác giả kịch nước ngoài nào. Viết về trí thức ở Việt Nam qua vở Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Nguyễn Đình Thi có tham khảo kịch của Berthol Bretch viết về Galilê và đặt vấn đề khoa học và thần quyền. Khuất Nguyên nói về sự xấu xa của thói đời. Nguyễn Đình Thi vẫn tìm hướng sáng tạo riêng. Theo ông “Nguyễn Trãi ở Đông Quan có phê phán giáo điều nhưng chủ yếu là vấn đề sống còn của dân tộc”. Ở tuổi 50 chín sức suy nghĩ, giàu vốn sống thực tế qua hai cuộc chiến tranh chống xâm lược nhưng Nguyễn Đình Thi vẫn theo sát nhưng không bị lôi cuốn vào sự kiện vào dòng chảy của thời cuộc. Nguyễn Đình Thi viết kịch trước hết bằng vốn văn hóa và tri thức. Kịch của Nguyễn Đình Thi mang tính đúc kết về cuộc sống, về con người trong những mối quan hệ phong phú và phức tạp. Không phải chỉ bằng sự miêu tả, kể chuyện qua sự kiện, số phận, mà bằng tri thức, tài năng và trải nghiệm.


Là một tác giả văn xuôi giàu kinh nghiệm, một nhà thơ tài năng nên chất văn học in đậm nét trong kịch phẩm. Đối với nghệ thuật kịch quan trọng nhất là lời thoại. Lời thoại bộc lộ tính cách cuốn nhân vật vào xung đột. Lời thoại trong kịch Nguyễn Đình Thi nhiều sắc thái, chân thực mạnh mẽ, tinh tế, giàu giá trị văn học. Từng lời thoại cho dù là độc thoại hay đối thoại của Nguyễn Trãi đều rất sâu sắc như lẽ sống, phương châm và đạo lý làm người. Lời thoại ngang tầm với nhân vật có tầm vóc của dân tộc thời đại. Nguyễn Trãi nói về đạo lý làm người và thực chất bộ mặt của kẻ thù “sống làm người khó nhiều nỗi… ở với nhau chỉ có tình thương… Cái gốc có lẽ cũng ở bấy nhiêu… Dân ta nói: Chịu thương chịu khó… Đúng lắm… Con người ta sống có mắt để nhìn, có tay để làm, có chân để đi, có đầu óc để suy nghĩ, có lòng dạ để thương yêu chứ. Không. Không! Không đời nào dân ta chịu cái lối của chúng nó. Miệng luôn luôn nói lễ nghĩa, nhưng mà đối xử với người thì trắng trợn, chỉ cần kiếm lời, chỉ cốt tiện việc. Không! Cứ to là phải, cứ ác là được, cứ lấy thịt đè người là có lý à? Không được! Cho nên chúng nó ghê gớm sâu hiểm nhưng mà nước ta không thể mất cô ạ! Cô múa đi. Phải phải đấy! . Lời thoại trong Rừng trúc ứng đối trực tiếp, đan xen giữa các nhân vật Thiên Cực, Chiêu Thánh, Thuận Thiên đều thấm sâu nỗi đau đớn của số phận bị dày vò bộc lộ ra lời nói chân thực của những người phụ nữ. Ngay đến nhân vật Trần Cảnh lời nói của nhà vua thường dễ chung chung mờ nhạt cũng có lúc lộ rõ bản chất người. “Kiếp làm người nghĩ đáng sợ. Biết rằng đời như cái bóng mây qua, nhưng lòng tham tiếc lắm không có cách nào dứt bỏ được, tham từ quyền nắm cả thiên hạ cho đến một miếng ăn ngon cũng không thể không thèm. Ấy thế đấy” . Kịch của Nguyễn Đình Thi là dòng chảy của ý thức tiếp nối các vấn đề của cuộc sống, của thời đại nhưng không mang tính thuần lý, tự biện. Trong kịch có bóng dáng những con người, số phận, tình yêu có cái đẹp của lý tưởng, có thiên nhiên tạo vật gần gũi và hòa đồng. Qua nhân vật Nguyễn Đình Thi chú ý đến việc miêu tả thiên nhiên. Nguyễn Trãi luôn nghĩ đến vẻ đẹp của đất nước của Thăng Long, Đông Đô: dòng sông Hồng vỗ sóng, đàn chim sâm cầm mùa thu lại tìm về, “Hồ Tây hôm nay sao mà dào dạt không yên. Sao mỗi chiếc lá non sáng trong lên thế kia như muốn nói gì…” .


Nguyễn Đình Thi biết đan xen chất tự sự, trữ tình trong kịch. Ông nhận xét:


“- Làm thơ là lấy tất cả mình ra làm cây đàn.


- Viết tiểu thuyết là vẽ bằng cách nói.


- Viết kịch là nặn tượng, con người hiện ra trước mắt.


Gần đây tôi viết kịch nhiều vì ít thì giờ, tôi viết tất cả tám vở kịch và bây giờ bắt đầu được in” .


Cũng theo Nguyễn Đình Thi “Nguyễn Trãi ở Đông Quan và Rừng trúc có tính kịch nhất. Giấc mơ là kịch hiện đại”. Kịch của Nguyễn Đình Thi đề cập đến nhiều vấn đề của đời sống và nghệ thuật nào là quyền lực trong xã hội (Rừng trúc) người trí thức ở Việt Nam (Nguyễn Trãi ở Đông Quan) tự do và định mệnh (Người đàn bà hóa đá) giai cấp và trở lực (Trương Chi)… Tác giả còn muốn đề cập đến nhiều vấn đề khác như nghệ thuật và cuộc sống, bản lĩnh của người viết và tình trạng đánh mất mình? Nhưng thôi! Chỉ với tám vở kịch Nguyễn Đình Thi đã bộc lộ trí tuệ, tài năng của mình, đem đến cho kịch Việt Nam tính hiện đại, hướng sáng tạo và phong cách riêng độc đáo. Đúng như nghệ sỹ Trọng Khôi nhận xét “nhà hoạt động tác giả kịch bản sân khấu lớn đã thành danh từ lâu… Những vở kịch lớn của Nguyễn Đình Thi đã vươn tới cái ý nghĩa tận cùng của con người. Đó chính là sự thấm nhuần tư tưởng lớn của Nguyễn Trãi “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” .


Tuyển tập Nguyễn Đình Thi (tập I) về kịch không chỉ là một tác phẩm văn chương mà còn là những trang viết được ký gửi bao nỗi niềm của tác giả. Nhà văn Nguyễn Đình Thi đã gửi tập sách tặng phòng lưu niệm Đặng Thai Mai. Ông nói thêm với anh Đặng Thai Hoàng con trai cố giáo sư Đặng Thai Mai “Cuốn Tuyển tập kịch là nỗi tâm huyết nhất của đời tôi là những nỗi đau nhức nhối của đời tôi” . Nguyễn Đình Thi viết nhiều thể loại và với mỗi thể loại ông đều dành hết sức mình cho trang viết. Theo ông thơ là thể loại nói được mình nhiều nhất. Có một Nguyễn Đình Thi đằm thắm sâu sắc trong thơ, người viết đã lấy mình ra làm cây đàn thơ và có sự tương đồng, hòa quyện như cách nói của Hàn Mạc Tử “Người thơ phong vận như thơ ấy”. Có một Nguyễn Đình Thi giàu triết lý, suy tưởng gửi vào các nhân vật mà tác giả chọn lọc, bảo vệ, phân tích, phê phán với bao tâm huyết. Người viết bài này cũng có một kỷ niệm khó quên. Vào một buổi chiều mùa hạ ngày 7.8.1997 tôi đến thăm nhà văn Nguyễn Đình Thi tại căn phòng ở phố Trung Tự. Anh ân cần tiếp và tặng tôi Tuyển tập Nguyễn Đình Thi tập I về kịch với lời đề tặng “Tặng anh Hà Minh Đức với tình cảm quý mến”. Anh nói “Anh đã viết cho tôi nhiều về tiểu thuyết và thơ. Nếu có thì giờ anh viết về kịch cho thì tốt”. Tôi vẫn nhớ những lời nhắc nhở chân tình ấy và mãi hôm nay mới bước đầu có những trang viết khó khăn về kịch Nguyễn Đình Thi, những tác phẩm có giá trị của một sự nghiệp văn chương lớn.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi. Chuyên luận, trò chuyện và ghi chép của Hà Minh Đức. NXB Văn học 12-2011.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »