tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20012006
10.12.2011
Tư liệu sưu tầm
Những bậc thầy văn chương: John Ernest Steinbeck


27/2/1902 - 20/12/1968.


Nhà văn được trao nhiệm vụ phô bày những lỗi lầm và thất bại xót xa của chúng ta, lôi ra ánh sáng những giấc mơ tăm tối và nguy hiểm của chúng ta, nhằm nâng cao con người! - J. Ernest Steinbeck


Giải Nobel Văn học 1962.


Nơi sinh: Salinas, California (Mỹ). Nơi mất: New York (Mỹ).


John Steinbeck được trao giải vì những tác phẩm văn xuôi hiện thực chủ nghĩa và thơ ca kết hợp  nhuần nhuyễn tính hài hước phê phán nhẹ nhàng với cái nhìn xã hội sắc sảo. Ông là tác giả của những tiểu thuyết lớn về cuộc Đại Suy Thoái ở Mỹ, nhưng vẫn phản ánh niềm hi vọng của những người bị áp bức vào tương lai tốt đẹp hơn và xác định vai trò của họ trong sự phát triển xã hội.


John Ernest Steinbeck là con trai duy nhất của một gia đình chủ xưởng bột mì có bốn con ở bang California, mẹ là giáo viên. Từ thuở ấu thơ nhà văn đã ghi khắc ấn tượng của vùng quê tươi đẹp và chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn học Hy Lạp cổ điển, Kinh Thánh và văn học châu Âu. Sau khi học xong trung học, từ năm 1920 đến 1925 ông theo học khoa Văn học Anh và Sinh vật học Hải dương ở Đại học Standford.


Trong cuộc đời ông đã làm rất nhiều nghề; việc thường xuyên tiếp xúc với người lao động đã đặc biệt giúp ông tích lũy vốn tư liệu phong phú cho những sáng tác sau này. Năm 1925, J. Steinbeck đến New York, cố gắng trở thành nhà văn tự do và viết tiểu thuyết Chén vàng (1929) nhưng không thành công; sau đó ông trở lại California. Năm 1935, tiểu thuyết Khu phố Tortilla khiến tên tuổi ông được biết đến rộng rãi. Trong các tác phẩm của mình J. Steinbeck viết về những vấn đề kinh tế của người lao động ở nông thôn, đồng thời ca ngợi quê hương đất nước. Năm 1936, tác phẩm Trận đánh mạo hiểm viết về cuộc đình công của những người nhập cư làm nghề hái quả trên các đồn điền ở California, tiếp đó là tác phẩm nổi tiếng Của chuột và người (1937) khẳng định những giá trị giản dị của con người trong cuộc sống, và một loạt truyện ngắn được tập hợp trong tập Thung lũng dài (1938).


Năm 1939 ông cho xuất bản Chùm nho phẫn nộ (The grape of wrath), tác phẩm được đánh giá là xuất sắc nhất của ông, viết về người nông dân ở Oklahoma không được sống yên trên mảnh đất của mình mà buộc phải tới California và trở thành công nhân di cư. Cuốn tiểu thuyết được trao giải Pulitzer và trở thành best-seller, nhưng cũng gây nhiều tranh cãi - một số người lên án tác giả tuyên truyền cho chủ nghĩa cộng sản, bóp méo sự thật. Để tránh tranh cãi, J. Steinbeck tham gia một cuộc thám hiểm ở bang California và tiếp tục viết sách.


Trong Thế chiến II, J. Steinbeck làm ở các cơ quan thông tấn, phóng viên mặt trận. Tiểu thuyết lớn cuối cùng có thể kể là Phía Đông vườn địa đàng (1952), tác phẩm thứ sáu của ông được dựng thành phim. Năm 1962 ông được trao giải Nobel "như một bậc thầy của nền văn học hiện đại Mỹ luôn luôn bênh vực những người bị áp bức, bất hạnh, đau khổ, đem những niềm vui sống giản dị, đối lập những ham muốn đồng tiền trơ trẽn và tàn bạo". Cuốn sách cuối cùng của nhà văn: Hành trang của vua Arthur và các hiệp sĩ cao thượng bắt đầu viết từ 1957 nhưng chỉ được in vào năm 1976, sau khi ông mất vì bệnh nhồi máu cơ tim (1968).


Tác phẩm:


- Chén vàng (Cup of gold, 1929), tiểu thuyết.


- Đồng cỏ nhà trời (The pastures of Heaven, 1932), truyện.


- Gửi Chúa Trời không quen biết (To a God unknown, 1933), tiểu thuyết.


- Khu phố Tortilla (Tortilla flat, 1935), tiểu thuyết.


- Trận đánh mạo hiểm (In dubious battle, 1936), tiểu thuyết.


- Của chuột và người (Of mice and men, 1937), tiểu thuyết.


- Thung lũng dài (The long valley, 1938), tập truyện.


- Chùm nho phẫn nộ (The grape of wrath, 1939), tiểu thuyết.


- Biển Cortez. Báo cáo về chuyến đi và các nghiên cứu đã tiến hành (Sea of Cortez: a leisurely journal of travel and research, 1941), khảo cứu.


- Bom rơi xuống đất (Bombs away, 1942), khảo cứu.


- Trăng lặn (The moon is down, 1942), tiểu thuyết.


- Viên ngọc trai (The pearl, 1947), tiểu thuyết.


- Ô tô buýt nhầm đường (The wayward bus, 1947), tiểu thuyết.


- Nhật kí Nga (Russian journal, 1948), phóng sự.


- Nóng sáng (Burning bright, 1950), kịch.


- Kira Zapata (1952), kịch.


- Phía Đông vườn địa đàng (East of Eden, 1952), tiểu thuyết.


- Chó hung Pony (The red Pony, 1953), truyện vừa.


- Ngày thứ Năm ngọt ngào (Sweet Thursday, 1954), tiểu thuyết.


- Thời trị vì ngắn ngủi của Pippin IV (The short reign of Pippin IV, 1957), truyện châm biếm.


- Đã từng có một cuộc chiến tranh (Once there was a war, 1958), tiểu thuyết.


- Mùa đông lo âu (The winter of our discontent, 1961), tiểu thuyết.


- Du lịch cùng Charley đi tìm nước Mỹ (Travels with Charley: in search of America, 1962), nhật kí.


- Nước Mỹ và người Mỹ (America and Americans, 1966), tiểu thuyết.


- Hành trạng của vua Arthur và các hiệp sĩ quý tộc (Acts of king Arthur and his noble knights, 1957, in 1976), tiểu thuyết.


 


Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt:


- Của chuột và người (Of mice and men, 1937), Hoàng Ngọc Khôi - Nguyễn Phúc Bửu Tập dịch, tập san Văn, Sài Gòn, 1967.


- Viên ngọc trai, Bảo Sơn dịch, Thứ tư tuần san số đặc biệt tháng 5 - 1967.


- Viên ngọc trai (tiểu thuyết), Đoàn Phan Chín dịch, NXB Thanh Niên, 1989.


- Tình người, Võ Sơn Thanh dịch, NXB Tuổi Phượng, 1972.


- Chuyến xe định mệnh (The wayward bus, tiểu thuyết), Võ Sơn Thanh dịch, NXB Đồng Nai, 1973.


- Phía Đông vườn địa đàng, Đinh Hoàng Sa dịch, NXB Thoại Ngọc Hầu (Gia Định), 1974.


- Phía Đông vườn địa đàng, Đinh Văn Quý dịch, NXB Văn hóa - Thông tin, 2003.


- Chùm nho uất hận (The grape of wrath, tiểu thuyết), Võ Lang dịch, NXB Gió Bốn Phương, 1972.


- Chùm nho phẫn nộ, Phạm Thủy Ba dịch, NXB Hội Nhà Văn, 1994, tái bản 2000.


- Chén vàng, Vĩnh Khôi dịch, NXB Đà Nẵng, 1991.


- Rời nẻo đường quen, Phạm Viêm Phương dịch, NXB Văn Nghệ TP. HCM, 1999.


- Tuyển truyện John Steinbeck, Lê Huy Bắc biên soạn, NXB Văn Học, 2001.


- Đồng cỏ nhà trời (tiểu thuyết), Hoàng Phong dịch, NXB Hội Nhà Văn, 2002.


- Người dẫn đạo, Phạm Viêm Phương dịch, in trong Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Văn Học, 1997.


- Con rắn (truyện ngắn), Lê Huy Bắc dịch, in trong Người môi giới ái tình, NXB Thanh Niên, 2000; Truyện ngắn Châu Mỹ, NXB Văn Học, 2000.


- Bộ đai, Lê Huy Bắc dịch; Chạy trốn, Đào Thu Hằng dịch, in trong Truyện ngắn Châu Mỹ, NXB Văn Học, 2000.


- Những ngày tranh đấu, Tuyết Sinh tuyển dịch và giới thiệu, NXB Trẻ, 1974.


 


Tuyên dương của Viện Hàn lâm Thụy Điển


Anders Österling, Thư ký thường trực Viện Hàn lâm Hoàng gia Thụy Điển


John Steinbeck, tác giả được giải Nobel Văn chương năm nay, sinh tại thị trấn Salinas, bang California, cách bờ Thái Bình dương vài dặm, gần thung lũng Salinas trù phú. Nơi đây là bối cảnh cho nhiều bức tranh khắc họa cuộc sống thường nhật của con người bình thường trong sáng tác của ông. Ông được nuôi dưỡng trong điều kiện của tầng lớp trung lưu, song vẫn duy trì được quan hệ bình đẳng với những gia đình công nhân ở cái vùng tương đối đa dạng này. Khi còn học tại Đại học Stanford, ông thường phải làm việc tại các trại chăn nuôi gia súc để kiếm sống. Ông rời đại học Stanford chẳng đỗ đạt gì, đến năm 1925 thì đến New York hoạt động viết văn tự do. Sau những năm cay đắng đấu tranh vì cuộc sinh tồn, ông quay trở về California, ở đây ông sống trong một ngôi nhà tranh cô lập bên bờ biển. Tại đó ông tiếp tục viết lách.


Tuy trước năm 1935 ông đã viết vài cuốn sách, và nhưng mãi đến năm đó ông mới đạt được thành công rộng rãi đầu tiên với cuốn Quận Tortilla Flat. Ông đem đến cho độc giả những câu chuyện nhiều giấm ớt và hài hước xung quanh một nhóm những anh nhà quê (paisanos), những con người không có xã hội tính, thô kệch, hầu như là bức tranh biếm họa về các nhà quý tộc được vua Arthur phong tước [ngồi bù khú, ND] quanh chiếc bàn tròn của nhà vua. Nghe nói ở Hoa Kỳ cuốn sách này được coi như một liều thuốc giải độc trong thời kỳ kinh tế suy thoái. Tiếng cười nay đã ở bên phía Steinbeck.


Nhưng ông chẳng hề quan tâm đến việc biến mình thành kẻ đi an ủi và mua vui vô thưởng vô phạt cho mọi người. Những chủ đề ông chọn đều nghiêm túc và vạch trần những điều xấu, chẳng hạn những cú tấn công chua chát vào những đồn điền trồng hoa quả và trồng bông ở California trong tiểu thuyết Trong cuộc đấu đáng ngờ (In Dubious Battle) năm 1936. Sức mạnh văn phong của ông tăng lên đều đặn trong những năm đó. Cuốn sách nhỏ mà tuyệt tác của ông Của chuột và người (Of Mice and Men) năm 1937, viết về Lennie, anh chàng đần độn to xác chỉ vì yêu quý và âu yếm mà bóp chết mọi thứ sinh vật nào rơi vào bàn tay anh ta.


Truyện đó và tiếp theo là nhiều truyện ngắn khác không gì sánh nổi được ông tập hợp in chung trong cuốn Thung lũng kéo dài (The Long Valley) năm 1938. Thế là con đường đã mở cho Steinbeck đi tới tác phẩm lớn thường gắn liền với tên tuổi ông, cuốn Chùm nho nổi giận (The Grapes of Wrath) năm 1939. Đó là câu chuyện về cuộc di dân bắt buộc từ Oklahoma tới California của đám dân thất nghiệp và bị cường quyền nhũng lạm. Câu chuyện bi thảm này trong lịch sử Hoa Kỳ gây cảm hứng để Steinbeck mô tả đến đau lòng những trải nghiệm của một anh nông dân cùng gia đình mình trong cuộc hành trình thống khổ dài vô tận tới chốn dung thân mới.


Trong lời tuyên dương ngắn ngủi này chúng tôi không thể dừng lại giới thiệu tỉ mỉ từng tác phẩm riêng rẽ được Steinbeck viết về sau. Có đôi lúc các nhà phê bình hình như nhận thấy ở Steinbeck một vài dấu hiệu tỏ ra sức viết sa sút, hoặc có hiện tượng lặp lại như thể chứng tỏ Steinbeck đã hết sức sống, thế nhưng nhà văn đã làm nỗi sợ của các vị kia tiêu tan khi mới xuất bản năm ngoái (1961) một cuốn tiểu thuyết, tác phẩm Mùa đông bất bình của chúng ta (The Winter of Our Discontent). Trong tác phẩm này Steinbeck đạt tới cũng một chuẩn mực như trong Chùm nho nổi giận. Một lần nữa ông lại vững vàng trong tư thế kẻ độc lập đứng ra phơi bày sự thật với một bản năng không thiên vị về những gì đích thực là Mỹ, dù tốt dù xấu.


Trong cuốn tiểu thuyết mới nhất này, nhân vật trung tâm là ông chủ một gia đình sa sút. Sau khi tham gia quân ngũ trong chiến tranh, ông ta thử làm việc gì cũng thất bại, cuối cùng đi làm thuê chân ký lục tại cửa hàng bán tạp hoá tại một thành phố nơi tổ tiên ông từng sinh sống ở vùng New England. Đó là một con người trung thực không bao giờ than vãn vô cớ, cho dù trước mắt ông đầy những cám dỗ và chính mắt ông từng chứng kiến đủ mọi cách dùng tiền để mua được những thành công vật chất.


Song những phương cách ấy đòi hỏi ông phải có sự tính toán chi li và sự rắn đanh về đạo đức, những phẩm chất có khả năng phương hại đến tính toàn vẹn về nhân cách của ông. Toả ra như một lăng kính từ trong lương tri nhạy cảm của ông là một loạt câu hỏi chất chứa những vấn đề về sự phồn vinh chung của cả quốc gia. Tác giả diễn đạt những điều này mà không đưa ra một triết thuyết nào, chỉ sử dụng cái khung cảnh hàng ngày cụ thể, thậm chí tầm phào, nhưng không vì thế mà không có sức thuyết phục, nhờ được biểu đạt bởi toàn bộ cảm hứng mãnh liệt và hiện thực của Steinbeck. Ngay cả khi tác giả nhấn đi nhấn lại vào những điều cụ thể, vẫn có những âm thanh hài hoà của những suy đoán vụng về như của kẻ mộng du xoay quanh chủ đề muôn đời về sống và chết.


Tác phẩm cuối cùng của Steinbeck là một bản tổng kết những điều ông trải nghiệm qua chuyến đi dài ba tháng suốt bốn mươi bang nước Mỹ, Những chuyến đi cùng Charley (Travels with Charley), xuất bản năm 1962. Ông đi trên một chiếc xe tải nhỏ có một khoang để ngủ và chứa đồ. Đến đâu ông cũng không báo trước cho ai, bạn đồng hành duy nhất là một chú chó xù đen. Trong tác phẩm này ta gặp một nhà quan sát cực từng trải, một raisonneur (người suy lý) là ông. Trong một loạt những khảo sát tuyệt vời màu sắc mỗi địa phương, ông khám phá lại đất nước mình và con người sống trên đất nước đó. Một cách không chính thức, cuốn sách cũng thành ra một lời phê phán xã hội mạnh mẽ.


Nhà du hành trong chiếc ô tô được ông đặt tên là Rosinante cho thấy khuynh hướng khước từ cái mới mà ngợi ca cái cũ, dù rõ ràng là tự ông cũng cảnh giác trước cám dỗ đó. "Tôi cứ tự hỏi vì sao lắm khi sự tiến bộ lại như thể là sự hủy diệt ", ông nói thế tại một địa điểm nơi ông thấy những chiếc xe ủi đang san bằng cánh rừng Seattle xanh mướt để lấy chỗ xây cất nhà chọc trời và cho những vùng dân cư đang bành trướng như lên cơn sốt. Dẫu thế nào, đó là một sự phản tỉnh rất hợp thời, có giá trị cả ở bên ngoài nước Mỹ.


Trong những bậc thầy văn chương Mỹ hiện đại từng được nhận Giải thưởng này, kể từ Sinclair Lewis cho tới Ernest Hemingway, Steinbeck có hẳn một vị trí và thành tựu riêng, độc lập. Ở ông có chất hài hước mà trong chừng mực nào đó bù đắp cho cái chủ đề thường là độc địa và thô bạo của ông. Thiện cảm của ông bao giờ cũng dành cho kẻ bị áp bức, kẻ không có khả năng thích nghi, kẻ đang suy sụp tuyệt vọng; ông muốn đem cái niềm vui giản dị đời thường đối lập lại với sự thèm khát tiền bạc đến độ độc ác và trâng tráo. Nhưng trong ông ta còn bắt gặp khí chất Mỹ trong tình cảm lớn lao đối với thiên nhiên, đối với đất trồng, hoang địa, núi non và các bờ đại dương, tất cả đều trở thành suối nguồn cảm hứng không bao giờ cạn cho Steinbeck giữa thế giới những người đang sống và vượt xa ngoài cái thế giới đó.


Sở dĩ Viện Hàn lâm Hoàng gia Thụy Điển trao Giải thưởng này cho John Steinbeck ấy là “vì những tác phẩm văn chương vừa hiện thực vừa đầy hoang tưởng, nổi bật với một sự hài hước đầy cảm thông và một cách nhìn xã hội thấu đáo."


Ngài Steinbeck thân mến! Ngài không phải một người xa lạ với công chúng Thụy Điển cũng như với bạn đọc trên đất nước Ngài và trên khắp thế giới. Với những tác phẩm xuất sắc nhất của mình, Ngài trở thành người thầy dạy về thiện chí và tình thương, Ngài đứng lên bênh vực những giá trị người, những điều có thể nói là trùng hợp với tinh thần đích thực của Giải Nobel. Tôi xin tỏ lời chúc mừng Ngài, và xin mời Ngài nhận Giải Nobel Văn chương năm nay từ tay Hoàng thượng.


Phạm Toàn dịch, Trần Tiễn Cao Đăng hiệu đính


Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây


 


Diễn từ của J. Steinbeck


J. Steinbeck đọc trong tiệc chiêu đãi giải thưởng Nobel ngày 10/12/1962 tại Tòa Thị chính Stockholm.


 


Tôi xin ngỏ lời cảm ơn Viện Hàn lâm Hoàng gia Thụy Điển đã thấy tác phẩm của tôi xứng đáng được vinh dự cao nhất này.


Tôi thật lòng nghi ngờ không biết liệu mình có xứng đáng được giải thưởng Nobel hơn những nhà văn khác mà tôi vô cùng kính trọng - nhưng nói thế không có nghĩa là tôi không vui và không tự hào về chuyện mình được nhận giải thưởng này.


Theo thông lệ, người nhận giải phải có lời bình cá nhân hoặc nhận xét khoa học về bản chất của văn chương và con đường của nó. Tuy nhiên, riêng tại thời điểm này, có lẽ tôi nên xem xét những nhiệm vụ và trách nhiệm cao cả của những người làm ra văn chương.


Uy tín của giải Nobel và của nơi tôi đang đứng đây to lớn đến nỗi tôi thấy mình buộc phải không chỉ rít lên the thé như một con chuột đầy hàm ơn và hối lỗi, mà rống lên như con sư tử đầy kiêu hãnh về nghề nghiệp của mình và về những con người vĩ đại từng làm nghề đó qua bao thời.


Văn chương không phải thứ được làm ra bởi các thầy tu xanh xao vàng vọt và bị hoạn đứng hát trong các thánh đường trống rỗng, cũng chẳng phải một trò chơi cho kẻ đặc tuyển lánh đời, cho những thầy tu khất thực thiếu nhiệt tâm đến mức tuyệt vọng.


Văn chương cũng xưa như tiếng nói của con người. Nó lớn mạnh nhờ nhu cầu của con người, và nó chẳng thay đổi tí gì, trừ phi để được con người cần hơn đến nó.


Những người hát rong ở Bắc Âu xưa, những người hát rong thời Shakespeare và các nhà văn không khác nhau và không loại trừ nhau. Ngay từ thuở ban đầu, giống người chúng ta đã quy định chức năng của họ, nhiệm vụ và trách nhiệm của họ.


Loài người từng bước qua một thời hoang mang buồn thảm. Nhà văn đàn anh vĩ đại của tôi, William Faulkner, khi đứng phát biểu ở đây, đã nhắc tới cái thời đó như tấn bi kịch của nỗi sợ phổ quát kéo dài dai dẳng đến độ không còn có vấn nạn nào của tinh thần, dường như duy chỉ trái tim con người xung đột với chính nó mới xứng đáng được [nhà văn] viết tới mà thôi.


Hơn ai hết Faulkner hiểu rõ cả sức mạnh lẫn sự yếu đuối của con người. Ông biết, nhận thức được và quyết tâm loại trừ nỗi sợ là điều cực kì quan trọng đối với lí do tồn tại của nhà văn.


Điều này không mới. Sứ mệnh từ xưa của nhà văn không thay đổi. Nhà văn được trao cái nhiệm vụ phô bày những lỗi lầm và thất bại xót xa của chúng ta, nhiệm vụ lôi ra ánh sáng những giấc mơ tăm tối và nguy hiểm của chúng ta nhằm nâng cao con người chúng ta.


Hơn thế nữa, nhà văn được tiến cử để tuyên ngôn và xưng tụng cái năng lực được thử thách của con người, ấy là tấm lòng và trí tuệ cao cả - biết thua trong cao sang - lòng dũng cảm, sự đồng cảm và tình yêu. Trong cuộc chiến vô tận chống lại yếu đuối và tuyệt vọng, những tính cách đó của con người là những ngọn cờ tập hợp chói lọi của hi vọng và cố gắng vươn lên.


Tôi cho rằng một nhà văn mà không nhiệt thành tin tưởng vào tính có thể hoàn thiện của con người là nhà văn không toàn tâm toàn ý và không xứng đáng là thành viên của văn chương.


Nỗi sợ phổ quát hiện thời là hậu quả sự tăng tiến đột khởi về tri thức của chúng ta và việc chúng ta thao túng một số nhân tố nguy hiểm trong thế giới vật chất ta đang sống.


Đúng là những chặng phát triển nhận thức khác đã không bắt kịp bước đi vĩ đại này, nhưng chẳng có lí do gì để cho rằng không thể có hay sẽ không có những bước tiến đó. Và quả thực một phần trách nhiệm của nhà văn là bảo đảm cho điều đó xảy ra.


Trong lịch sử lâu dài đầy kiêu hãnh của loài người đứng vững trước các kẻ thù tự nhiên, đôi khi trước nguy cơ thất bại và tuyệt diệt hầu như chắc chắn, chúng ta có thể hèn nhát và ngu xuẩn bỏ rơi chiến địa ngay vào đêm trước cuộc đại thắng tiềm tàng.


Điều đó có thể hiểu được, tôi đã đọc tiểu sử Alfred Nobel - một con người cô đơn, sách nói vậy, một con người ưu tư. Ông đã hoàn thiện việc giải phóng sức nổ, vốn đủ sức cho cái thiện sáng tạo hoặc cho cái ác hủy diệt, nhưng lại không chọn lựa, bởi cả lương tri lẫn năng lực phán xét đều không kiềm chế nổi.


Nobel thấy rõ người ta lạm dụng một cách tàn ác và đẫm máu các phát minh của ông. Thậm chí ông còn có thể nhìn trước kết cục của điều ông tìm được - khả năng dẫn tới bạo lực - cuối cùng là sự hủy diệt. Có người nói ông là người ích kỉ chỉ biết việc mình. Nhưng tôi không tin. Tôi nghĩ ông đã cố công tìm ra một cách để kiểm soát, một cái van an toàn. Tôi tin cuối cùng ông đã chỉ tìm được cái đó trong tâm hồn và tinh thần của con người. Với tôi, điều ông suy nghĩ có thể thấy rõ trong các loại giải thưởng mang tên ông.


Các giải thưởng này được dành cho sự hiểu biết ngày càng tăng và không ngừng về con người và thế giới của con người - sự thấu hiểu và tương tri, vốn là các chức năng của văn chương. Và chúng được trao nhằm chỉ rõ khả năng có được hòa bình - cái tuyệt đỉnh của mọi khả năng khác.


Non năm mươi năm sau ngày Nobel qua đời, cánh cửa của tự nhiên đã được mở và trước mắt chúng ta là gánh nặng quá sức khi chúng ta phải lựa chọn.


Chúng ta đã chiếm được vô số quyền năng xưa kia vẫn được gán là của Chúa.


Sợ sệt và lóng ngóng chẳng biết làm gì, chúng ta lại phải là bề trên nắm quyền sinh sát đối với toàn tất cả thế giới này - của mọi cái gì đang sống.


Chung quy, hiểm nguy, vinh quang và sự lựa chọn chỉ còn ở con người. Phép thử để xem liệu con người có thể hoàn thiện được hay không sắp sửa diễn ra.


Đã có trong tay quyền lực như của Chúa, chúng ta phải tìm trong bản thân mình phần trách nhiệm và thông thái mà chúng ta từng có lúc cầu xin rằng chúng hẳn có ở một số thánh thần.


Thế là, chính con người đã thành mối nguy to lớn và niềm hi vọng duy nhất của chúng ta.


Đến độ hôm nay chúng ta hoàn toàn có thể sửa lại lời của thánh tông đồ John: Tối hậu là ngôi Lời, và ngôi Lời là Con Người - và ngôi Lời mãi mãi đi cùng mọi Con Người.


 


Phạm Toàn dịch từ bản tiếng Anh, Trần Tiễn Cao Đăng hiệu đính (http://nobelprize.org)


 


Nguồn: vietnamnet 16-3-2007.







1 Faulkner, William (1897-1962): nhà văn Mỹ, Nobel Văn học năm 1949.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những nhà tù “ế ẩm” - Tư liệu 13.07.2017
Nhà thờ Chánh tòa nguy nga nhất Italia: Duomo ở Milan - Tư liệu sưu tầm 13.07.2017
Vành đai và Con đường dưới góc nhìn địa chiến lược - Joseph S. Nye 12.07.2017
30/11/1917: Đức chúc mừng Cách mạng Tháng Mười Nga - Tư liệu sưu tầm 08.07.2017
Ngày 08/07/1918: Ernest Hemingway bị thương trên Mặt trận Ý - Tư liệu sưu tầm 08.07.2017
Nỗi đau của chàng Vecte (Werther) & Faust - Johann Wolfgang von Goethe 07.07.2017
Văn hóa Ẩm thực: 18 địa chỉ ăn ngon, sạch nhất Sài Gòn và vùng phụ cận - Triệu Xuân 07.07.2017
Thần thoại Hy Lạp (14) - Nguyễn Văn Khỏa 07.07.2017
Thần thoại Hy Lạp (13) - Nguyễn Văn Khỏa 07.07.2017
18/12/1972: Nixon tuyên bố ‘Đánh bom Giáng Sinh’ Bắc Việt Nam - Tư liệu sưu tầm 30.06.2017
xem thêm »