tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18450022
Tiểu thuyết
08.11.2015
G. G. Marquez
Trăm năm cô đơn

Chương 9


Đại tá Hêrinênđô Mackêt là người đầu tiên nhận thấy cái hư vô của chiến tranh. Với tư cách người chỉ huy toàn quyền ở Macônđô chàng duy trì đều đặn một tuần hai buổi nói chuyện điện tín với đại tá Aurêlianô Buênđya. Lúc đầu, những trao đổi này đã khẳng định được dòng chảy của cuộc chiến đẫm máu mà ở bất kỳ thời điểm nào các đường viền của nó cũng cho phép xác lập điểm đích sẽ đi tới và dự kiến những đường hướng trong tương lai. Dù không bao giờ tự để mình bị sa lầy trong lĩnh vực tình cảm thân tín, ngay cả đối với những người bạn chiến đấu gần gũi nhất, lúc này đại tá Aurêlianô Buênđya đã giữ được cái cách nói quen thuộc cho phép người ở bên kia đầu dây nhận ra mình. Nhiều lần chàng kéo dài các buổi nói chuyện điện tín quá thời gian quy định và để chúng dây dưa sang các câu chuyện phiếm. Tuy nhiên, trong điều kiện cuộc chiến ngày càng mở rộng và căng thẳng hơn, hình ảnh của chàng dần dần lu mờ đi trong thế giới mông lung không có thực. Những nốt tạch và nốt theo cách ấn cần manip của chàng ngày một xa xưa và mơ hồ hơn, và chúng họp lại thành những từ ngữ dần dần cũng mất hết ý nghĩa. Lúc này, đại tá Hêrinênđô Mackêt chỉ nghe thôi và chàng cảm thấy khó chịu bởi cảm giác mình đang tiếp xúc qua điện tín với một người xa lạ thuộc thế giới khác.


"Mình đã hiểu, Aurêlianô ạ!" Chàng ấn cần manip để kết thúc. "Đảng Tự do muôn năm!"


Đại tá Hêrinênđô Mackêt đã hoàn toàn bị mất liên hệ với chiến tranh. Cái mà trước đây vốn là một hành động thực tế, một đam mê không thể kiềm chế được của tuổi trẻ, giờ đây đối với chàng đã trở thành một câu chuyện xưa, một nỗi trống trải hư vô. Nơi duy nhất để chàng chạy trốn nỗi cô đơn ấy là phòng máy may của Amaranta. Chiều nào chàng cũng đến thăm cô, thích thú ngắm đôi bàn tay cô trong lúc gấp nếp vải trên bàn máy do Rêmêđiôt - Người đẹp quay maniven. Hàng giờ, hàng giờ bọn họ ở bên nhau, không nói lấy một lời. Trong lúc Amaranta tự thỏa mãn bằng việc duy trì ngọn lửa yêu đương nơi chàng, thì chàng hoàn toàn không thể hiểu nổi mục đích ấy của trái tim kia. Khi biết tin chàng sẽ trở về, Amaranta sung sướng đến ngạt thở. Nhưng khi thấy chàng lẫn trong đội bảo vệ ồn ĩ của đại tá Aurêlianô Buênđya bước vào nhà, thấy chàng tiều tụy vì phải lăn lộn nơi hải ngoại, thấy chàng già đi vì tuổi tác và sự lãng quên, thấy chàng nhớp nháp thứ mồ hôi quện bụi đường, hôi mùi hôi súc vật, thấy chàng xấu trai với cánh tay bị băng bất động trước ngực, thì cô thất vọng muốn chết luôn. "Trời ơi"  cô nói, “đây đâu phải là người mình hằng mong đợi". Tuy nhiên, vào hôm sau, chàng đến nhà trong tư thế bảnh bao hơn; đã cạo râu và tắm rửa, bộ ria mép thơm mùi oải hương và cánh tay không đeo băng nữa. Và chàng mang cho cô cuốn kinh cầu nguyện bọc bìa cứng khảm xà cừ.


- Ôi, đàn ông mới lạ làm sao - cô nói bởi không biết nói gì hơn - Cả đời đấu tranh chống lại các thầy tu, thế nhưng họ lại đi tặng sách kinh đấy.


Kể từ đó, ngay trong những ngày chiến sự ác liệt nhất, chiều nào đại tá Hêrinênđô Mackêt cũng ghé thăm Amaranta. Rất nhiều lần chàng chịu khó quay maniven của chiếc máy khâu khi Rêmêđiôt - Người đẹp không có mặt. Amaranta cảm thấy lúng túng trước tấm lòng thủy chung son sắt, trước tinh thần tận tụy của người đàn ông được ông anh mình tin cậy ủy thác cho nhiều quyền thế ấy, mà khi bước vào phòng máy may vẫn cứ cởi vũ khí để ở ngoài phòng khách. Nhưng, trong bốn năm ròng chàng đã thổ lộ tình yêu với cô và cô đã tìm được cách thoái thác mà không làm chàng đau khổ, bởi cô không yêu chàng, nhưng cũng thấy mình không thể sống thiếu chàng. Rêmêđiôt - Người đẹp, người dường như dửng dưng với mọi sự trên đời, bị coi là người kém phát triển trí tuệ, lại tỏ ra không hề thờ ơ và đã ra vẻ mến đại tá Hêrinênđô Mackêt. Amaranta ngay lập tức phát hiện ra rằng cái cô bé do cô nuôi ấy tuy chưa ở tuổi dậy thì đã là cô gái đẹp nhất ở Macônđô rồi. Trong trái tim mình cô thấy đang sống lại mối hận thù với Rêbêca trước đây, và cầu khẩn Thượng đế hãy đừng để mình phải mong cô bé chết. Cuối cùng cô đã tống khứ nó khỏi phòng máy may của mình. Đó là thời kỳ đại tá Hêrinênđô Mackêt bắt đầu thấy chán ghét chiến tranh. Chàng sử dụng đến sự thận trọng của mình, đến tính nết dịu dàng của mình, sẵn sàng từ bỏ vinh quang từng đổi bằng những năm tháng đẹp nhất đời mình để chiếm lấy trái tim người mình yêu. Nhưng chàng không thuyết phục nổi cô. Vào một chiều tháng Tám, đau khổ trước tình yêu và sự kiên trì của chàng, Amaranta ở lì trong phòng ngủ để khóc cho nỗi cô đơn của số phận mình, sau khi đã dứt khoát từ chối chàng.


- Chúng ta hãy mãi mãi quên nhau đi - cô nói - bởi vì chúng ta cùng đã nhỡ thì rồi.


Buổi chiều ấy, đại tá Hêrinênđô Mackêt chạy vội đến đáp lời cú điện tín của đại tá Aurêlianô Buênđya. Đó là một buổi nói chuyện thường lệ không hề làm xoay chuyển cuộc chiến tranh trì trệ. Vào lúc kết thúc, đại tá Hêrinênđô Mackêt ngắm nhìn những con đường hiu quạnh, những giọt nước long lanh như pha lê trên tán những cây hạnh đào, rồi chàng lạc lối trong nỗi cô đơn.


"Aurêlianô này"  chàng buồn rầu nói qua cần manip, "đang mưa ở Macônđô đấy!"


Im lặng hồi lâu trên đường dây. Bỗng nhiên máy móc vang lên những tiếng tạch tè bực bội của đại tá Aurêlianô Buênđya.


"Đừng có mà lẩn thẩn thế, Hêrinênđô ạ"  những tín hiệu nói. "Dĩ nhiên tháng Tám thì trời mưa".


Đã lâu lắm hai người không được nhìn mặt nhau, đến mức đại tá Hêrinênđô Mackêt phải ngạc nhiên trước thái độ phản ứng đầy vẻ khiêu khích ấy. Tuy nhiên, sau đó hai tháng, khi đại tá Aurêlianô Buênđya trở về Macônđô thì sự ngạc nhiên ấy trở thành một niềm vui đến bần thần cả người. Ngay cả Ucsula cũng bàng hoàng khi thấy chàng thay đổi nhiều quá. Lẩn mình trong chiếc áo khoác ngoài mặc dù đang lúc oi bức, chàng lặng lẽ bước vào nhà, không một lính hộ vệ, song, có ba ả nhân tình theo sau. Chàng để cả ba cùng ở với mình trong một nhà, còn mình thì nằm dài trên võng, gần như hết ngày, không buồn đọc cả những bức điện thông báo tình hình chiến sự. Có lần, đại tá Hêrinênđô Mackêt xin chàng cho những lời chỉ dẫn để giải quyết một vấn đề đang có chiều hướng gây nhiều phiền phức trong quan hệ quốc tế ở một địa điểm trên biên giới, thì được chàng trả lời:


- Đừng làm phiền ta vì những chuyện cỏn con này. Hãy đi hỏi đức Toàn năng ấy.


Có lẽ đó là giai đoạn căng thẳng nhất của cuộc chiến. Các tay địa chủ thuộc phái Tự do, những người ngay từ đầu ủng hộ cách mạng, đã ngầm liên minh với các tay địa chủ thuộc phái Bảo hoàng để chặn đứng cuộc cải cách ruộng đất. Các chính khách từng tài trợ cho cuộc chiến tranh, ngay từ ở hải ngoại, công khai phản đối những quyết định táo bạo của chàng. Nhưng chàng phớt lờ hết, ngay cả đối với sự phế truất quyền lực này. Chàng không đọc lại những bài thơ của mình giờ đây đã dày tới năm tập và thường xuyên bị bỏ quên dưới đáy rương. Về ban đêm hoặc vào giờ ngủ trưa, như thường lệ, chàng gọi một nhân tình lên võng hú hí với ả rồi sau đó lăn ra ngủ say như trâu chết, chẳng còn biết đến trời đất là gì nữa. Lúc ấy, chỉ có chàng mới hiểu rằng trái tim sôi nổi của mình đã vĩnh viễn bị đày vào cõi hỗn mang. Lúc đầu, say sưa trước thắng lợi trở về, trước những thắng lợi quá hiển nhiên, chàng đã bước lên tột đỉnh vinh quang. Chàng hài lòng bám lấy công tước Macbôru, người thầy vĩ đại trong nghệ thuật quân sự của mình, người mặc chiếc áo khoác làm bằng da hổ vẫn giữ nguyên vuốt sắc khiến người lớn phải kính nể và trẻ con phải sợ hãi. Đó là lúc chàng quyết định không một ai, kể cả Ucsula, được đến gần chàng ba mét. Với những mệnh lệnh ngắn gọn và độc đoán chàng quyết định vận mệnh thế giới ở ngay trung tâm cái vòng tròn do những kẻ tùy tùng lấy phấn trắng vẽ ở bất kỳ nơi nào chàng đến và chỉ một mình chàng bước vào. Vừa có mặt ở Manaurê, sau khi hành hình tướng Môncađa, chàng vội vã thực hiện nguyện vọng cuối cùng của nạn nhân mình. Bà quả phụ nhận lấy kính, huân chương, đồng hồ, nhẫn cưới nhưng không cho phép chàng bước chân qua cửa.


- Đại tá không nên vào nhà - bà nói - Ngài điều hành ngoài mặt trận, còn tôi, tôi điều hành trong nhà mình.


Tuy đại tá Aurêlianô Buênđya không để lộ ra mặt nỗi căm tức song tâm trí chàng chỉ nguôi đi khi biết đám tùy tùng đã cướp phá và thiêu thành tro ngôi nhà bà quả phụ. "Xin hãy lo giữ gìn trái tim mình, Aurêlianô". Lúc ấy đại tá Hêrinênđô Mackêt bảo. "Anh đã mục ruỗng ngay lúc còn đang sống". Thời gian này, chàng tổ chức hội nghị lần thứ hai các tướng lĩnh khởi nghĩa chủ chốt. Chàng gặp mặt tất cả; các nhà ảo tưởng có, những kẻ nhiều tham vọng có, những tay mạo hiểm có, những kẻ nặng hiềm thù cá nhân có, và ngay cả những tên đầu trộm đuôi cướp cũng có. Cũng còn có một quan chức Bảo hoàng đã chạy trốn tòa án vì tội biển thủ công quỹ. Rất nhiều người không biết gì, kể cả vì sao mình chiến đấu cũng không biết nốt. Trong khung cảnh lộn xộn của đám đông mà sự khác biệt nhau về chính kiến suýt nữa gây ra vụ bùng nổ nội bộ, nổi lên một thế lực đáng sợ: tướng Têôphilô Vacgat. Ngài là người Anhđiêng thuần gốc, thô bạo, mù chữ nhưng ranh mãnh ngầm và có tài dùng ma thuật vùng Tiểu Á để trói buộc quân lính mình trong một thứ cuồng tín điên rồ. Đại tá Aurêlianô Buênđya triệu tập hội nghị với mục đích thâu tóm quyền chỉ huy quân khởi nghĩa vào tay mình để chống lại các thủ đoạn của đám chính khách. Tướng Têôphilô Vacgat đã đi trước những dự định của chàng: trong ít giờ đồng hồ ngài phá vỡ được sự thống nhất của một số viên tư lệnh nổi tiếng nhất và nhảy lên nắm quyền chỉ huy chung. "Đó là một con mãnh thú, cần phải dè chừng". Chàng nói với các sĩ quan thuộc quyền mình. "Đối với chúng ta, con người y còn nguy hiểm hơn cả viên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng". Giữa lúc ấy có một viên đại úy trẻ, vốn thường trội hơn người đời bởi tính ủy mị của mình, đã thận trọng giơ tay:


- Thưa đại tá, thật quá dễ dàng - anh ta nói với vẻ thăm dò - Giết quách hắn đi là xong!


Đại tá Aurêlianô Buênđya không ngạc nhiên trước tính chất giá lạnh của lời đề nghị được đưa ra mà chỉ lạ lùng khi một phần tử thứ yếu đã đi trước cả sự suy nghĩ của mình.


- Các ngài đừng đợi ta ra cái lệnh ấy nhé - chàng nói.


Quả thật, chàng không ra lệnh. Nhưng mười lăm ngày sau đó, tướng Têôphilô Vacgat đã bị dao băm vằm trong một vụ phục kích bất ngờ và đại tá Aurêlianô Buênđya bước lên nắm quyền chỉ huy chung. Chính trong cái đêm mà chức vụ này được tất cả các viên tư lệnh quân khởi nghĩa thừa nhận, chàng bỗng hoảng hốt bật thức dậy, gào toáng đòi mang đến cho mình một chiếc áo khoác ngoài. Một cơn lạnh bên trong buốt thấu tận xương, làm chàng nhức nhối, ngay lúc mặt trời đứng bóng cũng không để cho chàng yên. Tình trạng ấy kéo dài vài tháng cho đến khi chàng bị mất ngủ kinh niên. Cơn mơ quyền lực bắt đầu đổ vỡ từng mảng. Để tìm cách giải cơn rét bên trong, chàng ra lệnh bắn viên sĩ quan trẻ nêu đề nghị giết tướng Têôphilô Vacgat. Các mệnh lệnh của chàng được thi hành trước lúc được ban bố, nhiều khi ngay cả trước khi chàng dự định và thường thường vượt quá mức chàng dám mong muốn. Lạc lối trong nỗi cô đơn của quyền lực vô biên, chàng bắt đầu mất phương hướng. Chàng khó chịu trước đám dân chúng ở những làng bị chiếm đóng tung hô mình vì cảm thấy chính là họ từng tung hô kẻ thù của mình. Trên khắp các nẻo đường, chàng đều gặp những trang thiếu niên nhìn mình với chính đôi mắt mình, nói chính giọng nói của mình, chào chàng bằng chính sự nghi ngờ mà chàng đã chào chúng, và đều nhận chúng là con chàng. Đại tá Aurêlianô Buênđya cảm thấy mình bị phân tán, bị lặp lại, và thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Chàng nhận ra chính đám sĩ quan của mình đã lừa phỉnh mình. Chàng đánh lộn với công tước Macbôru. "Người bạn tốt nhất"  chàng vẫn thường nhủ mình, “là người vừa chết xong". Chàng mệt mỏi trước hoàn cảnh mơ hồ, trước vòng luẩn quẩn của cuộc chiến dằng dai mà chàng luôn luôn bắt gặp mình ngay tại một địa điểm, chỉ có điều là chàng ngày một già thêm, ngày một yếu hơn mà không hề biết vì sao, như thế nào và đến bao giờ. Lúc nào cũng có kẻ đứng ở ngoài vòng phấn trắng. Đó là kẻ đòi tiền chàng, là kẻ có đứa con đang bị ho gà, hoặc là kẻ muốn đi ngủ mãi mãi vì không thể ngậm mãi trong miệng mình cái mùi vị cứt đái của chiến tranh, và là kẻ tuy nhiên vẫn gắng gượng đứng nghiêm để báo cáo: "Thưa đại tá, tất cả đều bình thường ạ". Và chính sự bình thường ấy, vốn có nghĩa là không có gì xảy ra, lại là cái đáng sợ hơn cả của cuộc chiến tàn bạo. Vì bị điềm báo bỏ rơi và để chạy trốn cơn rét bên trong cơ thể sẽ theo riết cho tới khi chết, chàng tìm đến nơi ẩn nấp duy nhất ở làng Macônđô, trong hơi ấm của những kỷ niệm xa xưa ấy. Sự lười biếng của chàng thật là quá đáng đến mức khi người ta báo tin có phái đoàn của đảng đến để thảo luận về việc đình chiến, thì chàng chỉ cựa mình trên võng, không hề thức dậy.


- Dẫn bọn nó đến nhà thổ nhé - chàng nói.


Đó là sáu luật sư mặc áo đuôi tôm đội mũ phớt đang cố chịu đựng cái ngột ngạt của tháng Mười một gay gắt nắng. Ucsula để họ trú ngay trong nhà mình. Phần lớn ban ngày họ đóng kín cửa ở lì trong phòng ngủ để lén lút bàn luận. Tối đến họ đòi một đội lính bảo vệ và một nhóm nhạc công đàn phong cầm rồi tự ý đến tiệm bác Catarinô. "Đừng làm phiền họ nhé"  đại tá Aurêlianô Buênđya dặn. "Ta biết tỏng chúng muốn gì rồi". Vào đầu tháng Chạp, cuộc thảo luận từng chờ đợi lâu nay, được dự đoán là một cuộc thảo luận không thể kết thúc, đã diễn ra trong không đầy một giờ.


Trong phòng khách nực nụa, bên cạnh cây đàn pianô tự động được tấm vải trắng phủ kín, lần này đại tá Aurêlianô Buênđya không ngồi vào chính giữa vòng phấn trắng do đám tùy tùng của mình vạch ra. Chàng ngồi trên ghế, giữa đám cố vấn chính trị của mình. Cuộn mình trong chiếc áo khoác nỉ, chàng lặng lẽ nghe các sứ giả đặc nhiệm nói. Đầu tiên, họ đề nghị bỏ việc kiểm tra văn tự ruộng đất để lấy lại sự ủng hộ của cánh địa chủ Tự do. Sau đó họ đề nghị từ bỏ cuộc đấu tranh chống ảnh hưởng của Giáo hội để tranh thủ sự đồng tình của giáo dân. Cuối cùng họ đề nghị từ bỏ lý tưởng bình đẳng về quyền lợi giữa con hoang và con đẻ để bảo vệ tôn ti trật tự trong gia đình.


- Nghĩa là - đại tá Aurêlianô Buênđya mỉm cười khi các sứ giả ngừng lại - chúng ta đang chiến đấu chỉ để giành chính quyền thôi.


- Đó chỉ là những cải cách tạm thời - một đại biểu cãi lại - Lúc này hơn lúc nào hết, điều căn bản là mở rộng cơ sở quần chúng của cuộc chiến. Sau đó chúng ta sẽ xem lại.


Một cố vấn chính trị của đại tá Aurêlianô Buênđya vội vã chen vào, hấp tấp nói:


- Thật là nhảm nhí, nếu những cải cách này là đúng đắn thì điều đó muốn nói rằng chế độ Bảo hoàng là tốt đẹp. Nếu bằng những cải cách này chúng ta mở rộng được cơ sở quần chúng của cuộc chiến thì điều đó muốn nói rằng chế độ Bảo hoàng đang có cơ sở quần chúng rộng lớn. Và nhìn chung, điều đó muốn nói rằng trong gần hai mươi năm nay chúng tôi đã chiến đấu chống lại lương tri dân tộc mình.


Ông ta còn tiếp tục nếu đại tá Aurêlianô Buênđya không ra hiệu dừng lại. "Xin tiến sĩ đừng làm mất thời gian. Điều có ý nghĩa quan trọng là kể từ bây giờ trở đi chúng ta chiến đấu với mục đích duy nhất là giành lấy chính quyền". Chàng vẫn mỉm cười, cầm những tờ giấy do các sứ giả đưa cho và sẵn sàng định ký.


- Gặp thời thế này thì phải có cách này thôi - chàng kết thúc - chúng tôi hoàn toàn chấp nhận mà.


Những người thuộc phe chàng thảng thốt nhìn nhau.


- Xin đại tá thứ lỗi cho - đại tá Hêrinênđô Mackêt nhỏ nhẹ nói - Đó là một sự phản bội ạ!


Đại tá Aurêlianô Buênđya dừng ở trên không ngọn bút đã chấm mực và trút lên đầu đại tá Hêrinênđô Mackêt tất cả sức nặng quyền uy của mình:


- Nộp vũ khí cho ta - chàng ra lệnh.


Đại tá Hêrinênđô Mackêt đứng dậy, đặt vũ khí lên bàn.


- Hãy trình diện ở trại lính - đại tá Aurêlianô Buênđya nói như ra lệnh - Anh sẽ phải chịu sự định đoạt của tòa án cách mạng.


Sau đó chàng ký bản tuyên bố, trao giấy má cho các sứ giả và bảo họ:


- Hỡi các ngài, các ngài đã có những gì mình muốn ở đây cả rồi. Mong các ngài hãy tận hưởng chúng.


Hai ngày sau đó, đại tá Hêrinênđô Mackêt bị tố cáo là kẻ phản bội, và bị kết án tử hình. Nằm đu đưa trên võng, đại tá Aurêlianô Buênđya trơ lì ra trước mọi lời van xin khoan hồng cho đại tá Hêrinênđô Mackêt. Đêm trước ngày hành hình, bất chấp lệnh không được làm phiền, Ucsula vào gặp chàng ngay trong phòng ngủ. Mặc bộ đồ đen tuyền phủ từ đầu đến chân, vẻ trịnh trọng khác thường, cụ đứng suốt ba phút trong lúc dõng dạc nói với chàng. "Ta biết mày sẽ bắn thằng Hêrinênđô, và ta không thể làm gì để ngăn chặn vụ hành hình này. Nhưng ta nói cho mày biết, ngay khi thấy tử thi nó, ta sẽ thề trước hài cốt của cha mẹ ta, trước vong linh của Hôsê Accađiô Buênđya, ta sẽ thề trước Thượng đế rằng dù mày trốn đi bất kỳ đâu ta cũng lôi ra và ta sẽ tự tay giết mày". Trước khi ra khỏi phòng, không đợi nghe con mình cãi lại, cụ kết thúc:


- Cũng như ta sẽ giết mày nếu mày sinh ra với cái đuôi con lợn.


Trong cái đêm ấy, khi đại tá Hêrinênđô Mackêt nhớ lại những chiều êm đẹp trong phòng máy may của Amaranta thì đại tá Aurêlianô Buênđya bức bối dằn vặt, cố cấu xé cho vỡ nát cái đêm dài dằng dặc, cái vỏ dai dẳng bọc quanh nỗi cô đơn của mình. Quãng đời hạnh phúc duy nhất của chàng, kể từ buổi chiều xa xưa ấy, khi được cha dẫn đi xem nước đá, đã diễn ra trong xưởng kim hoàn, nơi thời gian cứ trôi đi trong lúc chàng miệt mài đúc những con cá vàng. Chàng đã phải khơi dậy ba mươi hai cuộc nội chiến, đã nhiều lần thoát chết, và đã phải tìm kiếm vinh quang như con lợn dũi đống rác tìm kiếm thức ăn, để gần bốn mươi năm sau mới phát hiện ra ý nghĩa của câu phương ngôn "ngu si hưởng thái bình", một đức tính vốn có của sự nhẹ dạ cả tin.


Vào lúc trời rạng sáng, người phờ phạc mệt mỏi bởi đêm mất ngủ hành hạ, đại tá Aurêlianô Buênđya xuất hiện trong xà lim tử tù trước lúc hành hình một giờ. "Trò hề đã hết rồi, anh bạn ạ"  chàng nói với đại tá Hêrinênđô Mackêt. "Chúng mình sẽ ra khỏi đây trước khi muỗi kịp hành hình anh". Đại tá Hêrinênđô Mackêt không thể kìm được sự khinh bỉ của mình trước thái độ ngạo mạn kia.


- Không đi đâu hết, Aurêlianô ạ - chàng đáp - Tôi thà chết còn hơn phải nhìn thấy anh trở thành con dao đẫm máu.


- Anh sẽ không thấy tôi nữa mà - đại tá Aurêlianô Buênđya nói - Anh hãy đi giày vào và hãy giúp tôi kết thúc cuộc chiến bẩn thỉu này.


Ngay trong lúc nói chàng vẫn chưa hình dung nổi rằng khởi sự một cuộc chiến bao giờ cũng dễ dàng hơn nhiều so với việc kết thúc nó. Chàng cần tới một năm chiến đấu đẫm máu để buộc chính phủ phải đưa ra những đề nghị hòa bình có lợi cho quân khởi nghĩa và một năm nữa để thuyết phục phe cánh mình nhất trí chấp nhận những điều kiện đó. Chàng đã bước tới những thái cực không muốn của tội ác để dìm tắt các cuộc khởi nghĩa của chính các sĩ quan dưới quyền mình, những người vẫn ngoan cường chiến đấu chống lại sự bán rẻ thắng lợi của cuộc khởi nghĩa, để rồi kết thúc bằng việc chính chàng giúp đỡ cho các lực lượng thù địch hoàn toàn thống trị họ.


Chưa bao giờ chàng là một chiến binh dũng mãnh như lúc ấy. Sự nhận thức sáng rõ rằng cuối cùng mình chiến đấu vì chính sự giải phóng mình chứ không phải vì những tư tưởng trừu tượng, vì những khẩu hiệu do các chính khách có thể phất phải hoặc phất trái tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể, đã truyền cho chàng một phấn khích mới. Đại tá Hêrinênđô Mackêt, người chiến đấu cho sự thất bại với tất cả lòng hăng say và trung thành như trước đây từng chiến đấu vì thắng lợi, đã phản đối sự sợ hãi vô tích sự của chàng. "Anh đừng lo"  chàng nói. "Chết đâu có phải là quá dễ dàng như người ta tưởng". Trong trường hợp của chàng, đó là sự thật. Niềm tin vững chắc rằng ngày chết của mình sẽ được báo trước đã phú cho chàng tính bất khả xâm phạm kỳ lạ, một sự bất tử, chắc chắn đến mức khiến chàng không thể bị thương trong những lúc xông trận nguy hiểm và cuối cùng đã cho phép chàng giành được một sự thất bại còn khó khăn hơn nhiều, còn đẫm máu và phải trả giá đắt hơn nhiều so với việc giành lấy một thắng lợi.


Trong gần hai mươi năm chiến tranh, đại tá Aurêlianô Buênđya đã nhiều lần có mặt ở nhà, nhưng tình trạng vội vã mỗi lần chàng trở về, cái bộ máy quân sự ồn ĩ hộ tống chàng đi khắp các miền đất nước cũng như vầng hào quang huyền thoại ôm tỏa hình ảnh chàng và ngay đối với hình ảnh chàng trong ánh hào quang huyền thoại ấy khiến không ai cảm thấy gần gũi, kể ngay cả Ucsula, tất cả những cái đó đã biến chàng thành một kẻ lạ lẫm. Lần cuối cùng chàng có mặt ở Macônđô và đã sử dụng một ngôi nhà cho ba ả nhân tình của mình ở, ngoài ra chỉ thấy chàng ở nhà mình hai hoặc ba lần, khi có thời gian về nhà ăn cơm theo lời mời của gia đình. Rêmêđiôt - Người đẹp và hai cậu bé sinh đôi, những kẻ sinh ra ở giữa thời buổi loạn lạc, hầu như không quen biết chàng. Amaranta không tìm ra mối tương đồng giữa hình ảnh ông anh đã để cả tuổi trẻ mình trôi đi trong xưởng kim hoàn đúc những con cá vàng với hình ảnh một chiến binh huyền thoại từng cách ly mình với phần còn lại của nhân loại bởi một khoảng cách dài ba mét. Nhưng khi cô biết sắp có đình chiến và nghĩ rằng một lần nữa chàng trở về làm người bình thường, và cuối cùng chàng được tự do trở lại với trái tim của những người thân, thì tình cảm gia đình, bị ngủ quên đã khá lâu, nay sống lại mạnh mẽ hơn bao giờ hết.


- Cuối cùng - Ucsula nói - một lần nữa chúng ta lại có người đàn ông trong nhà.


Amaranta là người đầu tiên hồ nghi rằng người ta đã làm cho chàng thất bại vĩnh viễn. Một tuần trước khi đình chiến, khi chàng bước vào nhà không có lính hộ vệ, theo sau là hai lính dõng đi chân đất, những người này đặt xuống hành lang tất cả các thứ đồ do la chở, và một hòm đựng thơ, vật còn lại duy nhất trong số tư trang đẹp đẽ của chàng, thì cô thấy chàng đi qua trước phòng máy may và gọi chàng. Đại tá Aurêlianô Buênđya dường như khó nhận ra cô.


- Em là Amaranta đây! - Cô đùa, vui vẻ vì ông anh trở về, và chìa cho xem tấm băng đen - Hãy nhìn này, anh.


Đại tá Aurêlianô Buênđya nhoẻn một nụ cười y hệt nụ cười khi nhìn thấy cô băng tay lần đầu tiên, cái lần chàng trở về Macônđô bị kết án tử hình.


- Ôi, thật khủng khiếp - chàng nói - thời gian trôi đi sao mà nhanh thế!


Quân đội thường trực có nhiệm vụ bảo vệ ngôi nhà. Chàng trở về trong tư thế bị áp giải, bị phỉ nhổ, bị buộc tội đã làm cho chiến tranh tái phát với mục đích bán nó đắt hơn. Chàng run lẩy bẩy vì sốt và vì rét và một lần nữa hai nách chàng lại sưng tấy lên. Sáu tháng trước khi nghe tin sẽ có đình chiến, Ucsula đã mở cửa và quét dọn phòng của vợ chồng chàng rồi xông trầm hương khắp các xó xỉnh mà nghĩ rằng chàng sẽ trở về tĩnh dưỡng tuổi già bên cạnh những con búp bê lâu ngày không dùng đến của Rêmêđiôt. Nhưng thực ra, trong hai năm cuối cùng chàng đã trả cho cuộc đời những gì mình được hưởng, kể cả phần mình hưởng trong tuổi già. Vào lúc đi qua xưởng kim hoàn từng được Ucsula chuẩn bị khéo léo, chàng không nhận ra ngay cả đến chùm chìa khóa đã cài sẵn ở ổ khóa. Chàng không cảm nhận gì hết ngay cả những hư hỏng dù lớn dù nhỏ, do thời gian trôi đi đã để lại trong ngôi nhà và rằng sau một thời gian vắng nhà dài dặc ấy nếu một người vẫn giữ sống nguyên những kỷ niệm của mình hẳn phải thấy đó là một tai họa. Chàng không mảy may đau khổ trước những vết vôi lở trên tường, trước những mạng nhện giăng khắp các xó xỉnh, trước bụi bậm phủ trên các cây thu hải đường, trước những vết mọt lỗ chỗ mắt sàng trên xà nhà, trước rêu bám trên bậu cửa. Chàng ngồi ở ngoài hiên, vẫn đi ủng và cuộn mình trong chiếc áo khoác, như thể đang đợi trời tạnh mưa, và cứ ngồi nguyên như thế suốt buổi chiều ngắm mưa rơi trên những cây thu hải đường. Lúc ấy, Ucsula  mới thật sự hiểu rằng đã lâu lắm cụ không có đứa con trai này ở nhà. "Nếu không phải là chiến tranh"  cụ nghĩ, “thì chỉ có thể là thần chết". Đó là một dự đoán hết sức sáng rõ, có sức thuyết phục đến mức cụ đồng nhất nó với một điềm báo.


Đêm ấy, trong lúc ăn tối, cậu bé mạo danh Aurêlianô Sêgunđô cầm bánh tay trái và múc xúp bằng tay phải. Người anh em sinh đôi với cậu, mạo danh Hôsê Accađiô Sêgunđô, cầm bánh tay phải và múc xúp bằng tay trái. Hai đứa cử động thật nhịp nhàng, đến mức không thể nghĩ là hai người ngồi đối diện mà đó như là một người ngồi nhìn vào gương. Cảnh tượng hai đứa trẻ sinh đôi đồng cảm với nhau kể từ khi chúng có ý thức rằng mình giống nhau như đúc được lặp lại để chào đón người trở về. Nhưng đại tá Aurêlianô Buênđya cũng không nhận ra nó. Dường như chàng xa lạ với tất cả, ngay đến việc Rêmêđiôt - Người đẹp khỏa thân đi qua để vào phòng ngủ cũng không khiến chàng để ý. Duy nhất Ucsula là dám làm khuấy đảo cơn trầm tư mặc tưởng của chàng:


- Nếu cần phải ra đi nữa - cụ nói vào lúc giữa bữa ăn - thì ít ra con cũng phải làm cái gì để chúng ta còn nhớ đêm nay gia đình ta đã sống như thế nào nữa chứ!


Vậy là, đại tá Aurêlianô Buênđya nhận ra, không chút ngạc nhiên, rằng Ucsula là người duy nhất đã đoán biết được nỗi đau của lòng mình, và lần đầu tiên trong rất nhiều năm chàng dám nhìn thẳng vào mắt cụ. Da cụ nhăn nheo, răng cụ khấp khiễng, tóc cụ khô héo và cái nhìn trên mắt cụ đầy vẻ thảng thốt. Chàng so sánh cụ với hình ảnh xa xưa mà chàng vẫn giữ được, trong buổi chiều chàng nói ra điềm báo rằng cái nồi canh vừa sôi sẽ đổ khỏi bàn và quả nhiên nó đã đổ xuống đất, vỡ tan từng mảnh. Ngay lập tức, chàng nhận ra những vết nhăn nheo, những vết sần sùi, những vết chai, những vết sẹo đã để lại trên làn da cụ trong hơn một nửa thế kỷ làm lụng vất vả và chàng cũng nhận thấy rằng những dấu vết ấy không mảy may làm lay động lòng mình. Ngay lập tức, chàng cố vội tìm trong trái tim cái nơi có những tình cảm đã bị mục ruỗng, song không thể tìm ra. Chí ít, trong lúc khác, chàng cảm thấy xấu hổ khi bỗng nhiên bắt gặp hơi hám của Ucsula trên làn da mình và nhiều lần chàng cảm thấy những suy tư của cụ đã giao thoa vào những suy tư của mình. Song tất cả những cái đó đều bị chiến tranh choán hết chỗ. Ngay trong thời điểm ấy, chính Rêmêđiôt, vợ chàng, cũng là hình ảnh mờ nhạt của một người nào đó có thể là con gái chàng. Những cô gái chàng quen biết trong nỗi hiu quạnh của tình yêu và là những người để chàng gieo rắc nòi giống mình trên khắp miền duyên hải, không một ai để lại dấu ấn trong tình cảm của chàng. Phần lớn các cô ấy đi vào phòng chàng ngủ lúc trời tối và ra đi trước khi trời sáng, rồi ngay hôm sau họ chỉ còn là một chút hoài nhớ bâng khuâng trong ký ức chàng. Tình cảm duy nhất vẫn trụ lại trước sức tàn phá của thời gian và chiến tranh là tình cảm chàng nhớ thương người anh trai Hôsê Accađiô khi cả hai người còn là trẻ thơ, chưa hề biết đến yêu đương mà chỉ cùng nghịch ngợm thôi.


- Xin mẹ thứ lỗi cho - chàng nói để đáp lại yêu cầu của Ucsula - Chỉ vì cuộc chiến tranh này đã hủy hoại hết cả.


Những ngày sau đó, chàng loay hoay lo xóa sạch dấu ấn của mình từng hiện hữu trên cõi đời này. Chàng dọn quang quẻ xưởng kim hoàn, chỉ để lại những đồ dùng nào không gợi nhớ mình, phân phát quần áo của mình cho những người lính gác, rồi với chính ý nghĩ hối hận mà cha chàng đã có khi chôn ngọn giáo đâm chết Pruđênxiô Aghila, chàng chôn vũ khí của mình ở ngoài sân, chỉ giữ lại khẩu súng lục với độc một viên đạn. Ucsula không dám can dự vào công việc của chàng. Chỉ một lần duy nhất cụ khuyên giải, ấy là lúc chàng sắp xé bức ảnh Rêmêđiôt được giữ gìn cẩn thận ở trong phòng và được ngọn đèn lúc nào cũng thắp sáng chiếu vào. "Bức chân dung này đã từ lâu không thuộc về con nữa"  cụ nói. "Đó là một bảo vật của gia đình". Đêm trước ngày ký Hiệp định đình chiến, khi trong nhà không còn lấy một vật gợi người khác nhớ tới mình, chàng cắp chiếc hòm đựng năm tập thơ mang đến lò nướng bánh trong lúc Santa Sôphia đê la Piêđat đang chuẩn bị nhóm lò.


- Lấy cái này mà nhóm - chàng nói rồi đưa cho cô cuộn giấy đã ố vàng - Sẽ mau bốc lửa hơn bởi vì toàn là của đã lâu ngày rồi.


(còn tiếp)


Nguồn: Trăm năm cô đơn. Tiểu thuyết của GABRIEL GARCÍA MÁRQUEZ (Nobel Văn chương 1982). Nguyễn Trung Đức, Phạm Đình Lợi, Nguyễn Quốc Dũng dịch. Nguyễn Trung Đức giới thiệu. Dịch từ nguyên bản tiếng Tây Ban Nha Cien años de soledad do Viện Sách Cuba xuất bản tại La Habana, năm 1968. Theo bản sửa chữa cuối cùng của cố dịch giả Nguyễn Trung Đức, tháng 9-2000. Tủ sách Danh tác Thế giới do nhà văn Triệu Xuân tuyển chọn - NXB Văn học liên kết cùng Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


 


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 24.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 09.03.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 09.03.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.03.2017
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.02.2017
xem thêm »