tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19994647
30.11.2011
Vũ Bằng
Nguyễn Nhược Pháp, một nhân tài yểu mệnh

Có những đêm không ngủ, nằm vặn cái móng “tép” hay quay cái nút rađiô, tivi nghe dớ dẩn xem có gì lạ không mà bất chợt thấy có một ca sĩ ngâm lên bài thơ ngũ ngôn Chùa Hương  của Nguyễn Nhược Pháp, tôi buồn không chịu nổi.


Không phải là vì thơ của Pháp buồn mà mình thấy se sắt cõi lòng; không phải buồn vì người ta cấm nói về các nhà thơ văn tiền chiến mà cứ ngâm oang oang thơ tiền chiến, cũng không phải vì do bài thơ đó mà mình nhớ lại ngày nào thiên hạ thái bình, cứ vào tháng Giêng tháng Hai mình lại đi trẩy hội chùa Hương mà bây giờ có lẽ đến chết cũng không còn bao giờ được đặt chân lên những bậc đá chạm trời của cái dãy núi thơm tho đó nữa.


Không phải cả! Tôi buồn là vì cái nỗi khi nghe thấy ngâm lên bài thơ đó, tôi lại nhớ đến người bạn đã qua đời, người bạn ngây thơ, cả một hài nhi vô tội.


Người bạn đó, Nguyễn Nhược Pháp, hiện ra như một tia sáng chưa kịp lóe ra thì đã tắt đi. Chết trẻ đã khổ rồi mà chết giữa lúc đời đang xanh hy vọng không còn gì thảm hơn, hai mươi bốn tuổi... Chết như thế quả là sớm quá.


 


Buổi đầu gặp gỡ


Thật ra, Nguyễn Nhược Pháp và tôi cùng học với nhau một trường, nhưng trong khi đi học tôi không biết Pháp, tôi biết chị Pháp là chị Nội vì chúng tôi cùng học một lớp B1, còn Pháp thì học lớp khác, loại A, tức là thêm tiếng Latinh và Hy Lạp. Ít lâu sau, tôi thôi học, theo đuổi cái nghề báo chí, còn Pháp thì tiếp tục học luật. Vì làm tờ Trung Bắc Tân Văn của Nguyễn Văn Vĩnh - là thân phụ của các anh Nguyễn Hải, Nguyễn Giản, Nguyễn Dương, Nguyễn Phổ, Nguyễn Kỳ, Nguyễn Dục, Nguyễn Hồ... và hai chị Nội và Vân, thỉnh thoảng tôi có đến nhà cụ Vĩnh, nhưng không bao giờ gặp Pháp, mặc dầu tôi vẫn biết Pháp là một người con mà cụ Vĩnh thương xót nhiều hơn.


Không phải là cụ thương con này ít, thương con kia nhiều. Không phải thế. Nhưng lòng thương xót ấy hình như bắt nguồn từ một lý do khác mà mãi tới sau này tôi mới biết.


Trong khi ấy Nguyễn Nhược Pháp không mấy khi đến nhà báo (lúc ấy thiết lập ở đầu Hàng Bông tại góc phố trông ra đền Kim Cổ, về sau này là tửu lầu Asia). Không hiểu vì có công việc gì nói với ông cụ hay là đi qua lại đấy tạt vào chơi, Nguyễn Nhược Pháp sợ sệt bước vào tòa soạn, chào các cụ Dương Phượng Dực, Sở Bảo Doãn Kế Thiện, Tuyết Huy Dương Bá Trạc, Mai Đăng Đệ, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Đỗ Mục... theo lối Đông phương nghĩa là chắp tay lại xá. Chỉ có tôi là tên lính trẻ nhất trong bọn, Nguyễn Nhược Pháp lại gần rụt rè bắt tay tôi. Cảm giác đầu tiên của tôi đối với anh là: anh là thứ con nhà gia giáo, lễ phép, dễ thương hết sức, mà tôi chắc ai thấy Pháp cũng phải yêu thương như  thế.


Anh nhỏ bé, môi mỏng, mắt hơi xếch “như quả hạnh nhân”, cử chỉ chậm rãi, nói năng nhỏ nhẹ, và bất cứ nói với ai cũng cúi đầu như sợ sệt và kính trọng một cách chân thành chứ không phải là cái thứ sợ hãi giả dối như một số thiếu niên khác lúc bấy giờ cũng như bây giờ. Anh mặc bộ áo dạ tím, theo đúng học trò trường Lycée cổ bẻ “đăng tông”, trông toàn thân thì không gầy quá, nhưng không mập, tuy nhiên nếu nhận kỹ hơn về đôi môi và làn da thì anh có vẻ không khỏe mạnh là vì cổ nhỏ, môi hơi tím mà làn da thì trắng xanh mai mái.


Dẫu sao cái bề ngoài đó không đủ làm cho báo chí ai dám nghĩ rằng anh là người mang bịnh hoạn trong thớ thịt hay buồng phổi vì lúc đó thiếu nữ và thanh niên ít có người khỏe mạnh, phần nhiều đều ốm và da cũng xanh như thế.


Câu chuyện đầu tiên là câu chuyện xã giao: anh hỏi tôi về việc viết lách cho báo ra sao, còn tôi thì... đứng sì ra đó không biết hỏi anh gì cả, ngoài mấy câu hỏi thăm sức khỏe và việc học luật có mệt quá không.


Thế rồi bẵng đi vài tháng... Một hôm, Pháp lại đến báo Trung Bắc Tân Văn nhưng lần này anh đến vì công việc. Công việc đó làm cho anh bẽn lẽn và đỏ cả mắt lên: anh biếu tất cả tòa soạn mỗi người một tập thơ Ngày xưa, biếu mà không nói thêm một câu gì cả, ngoài ra lại có vẻ như muốn làm “phiêm phiếm” công việc đó để về cho lẹ, vì hình như anh sợ nếu đứng lại lâu mà các cụ chất vấn thì “nguy” quá.


Nguyễn Nhược Pháp nghĩ như thế, thế ra cũng đúng một phần nào. Là vì lúc đó viết văn viết báo in sách in vở không phải là chuyện chơi. Dưới ba mươi tuổi, người ta dễ bị coi là “lau nhau”, theo các cụ thì phải già mới viết được văn, mới in được sách, mà Nguyễn Nhược Pháp lúc ấy mới chỉ có hai mươi tuổi. Cố nhiên một anh bạch diện thư sinh “chưa sạch máu đầu” mà dám chờn vờn làm tác giả mà lại viết thơ in thành sách, trong khi các cụ đã đầu râu tóc bạc cả rồi mà chưa được cuốn sách nào mà anh bạch diện như thế không được.


Mặc dầu các cụ trịnh trọng cầm cuốn sách vái một vái ngắn để cảm ơn tác giả, tôi tưởng như cảm thấy các cụ đang đánh một cái dấu hỏi lớn trong đầu: “Cậu Pháp mà làm thơ in sách?” - “Ờ, mà thật, cậu Pháp làm thơ?” - “Thơ gì? Thơ ngày xưa! Để đọc thử xem ra thế nào?”.


 


Mai Đăng Đệ, người đầu tiên khám phá ra Nguyễn Nhược Pháp


Nói thế mà thôi, chớ nói xong các cụ xếp cuốn Ngày xưa lại cho vào ngăn kéo. Là vì chưa đọc, các cụ hình như đã quan niệm tập thơ của Nguyễn Nhược Pháp “không ra cái chết gì” - làm thơ còn chẳng ăn ai huống chi là một cậu bé học trò chỉ biết chữ Pháp “không biết dùng chữ Nho” mà lại chơi trèo, dám công khai lẻn vào làng bút mực thì khỏi phải nói, ai cũng biết là không đáng đếm xỉa “một ly ông cụ”.


Cụ Mai Đăng Đệ bút hiệu Trúc Sơn, Tam Hữu, một tay cử nhân đã từng tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục chống Pháp, không biết có nghĩ như thế hay không? Nhưng bởi vì công việc làm ăn bắt buộc cụ không thể im luôn như các cụ khác trong tòa soạn. Lúc ấy, cụ phụ trách viết xã thuyết và thường xuyên viết một bài trào phúng theo kiểu “phim” ký tên là Lẩn Thẩn Tiên Sinh, ngoài ra có thời giờ thì đọc các sách người ta gửi biếu và viết dăm ba câu giới thiệu.


Cụ cử Mai ít nói, thừa thì giờ thì vuốt râu nói chuyện một mình, thỉnh thoảng lại cười lên khanh khách. Biết rằng Nguyễn Nhược Pháp là con trai cụ Nguyễn Văn Vĩnh, cụ cử lưu ý cuốn Ngày xưa hơn các cuốn văn thơ khác, thỉnh thoảng lại giở ra đọc một bài để hỏi ý viết một bài giới thiệu. Đọc nhởn nha như thế chừng hơn một tuần, một hôm cụ đập tay đánh đét một cái xuống bàn, vén ống quần lên, đội lại cái mũ nồi rồi bảo tôi (vì lúc ấy tòa soạn ngồi chung một bàn dài mà tôi ngồi ngay sát cụ):


- Gớm chết! Thơ hay quá, ông Thiên Tướng ơi! Phải đọc đi, đọc ngay đi mới được.


Thơ gì hay quá? Thơ ai hay quá? Tôi phải thú thực một điều: chính tôi cũng quên chưa giở đến cuốn Ngày xưa của Pháp ra đọc lấy một bài. Bởi thế nghe thấy cụ cử Mai khen thơ hay quá, tôi sửng sốt không hiểu là thơ ai, thơ gì; đến tận khi cụ cầm cuốn Ngày xưa giơ lên trời như múa, tôi mới biết là cụ khen Nguyễn Nhược Pháp và cùng lúc đó cả tòa soạn quay cả lại nhìn cụ cử, không nói gì nhưng lắng tai nghe. Cụ cử Mai nói:


- Thơ hay thật. Ra cái cậu Pháp này gớm thật, tưởng là viết đùa một vài câu, nào ai có biết đâu bài thơ nào cũng khá, nếu không toàn bích thì bài nào cũng được vài ba câu... gia dụng!


Sau này, bàn về thơ Nguyễn Nhược Pháp, nhiều người ca tụng hết lời, không mấy ai chê, nhưng tôi biết chắc người “đưa” Nguyễn Nhược Pháp từ chỗ tối ra chỗ sáng, từ một cậu học trò nhút nhát lên văn đàn rực rỡ hào quang, người đã “tìm” ra Nguyễn Nhược Pháp - người ấy chính là cụ cử Mai Đăng Đệ. Cụ cử giới thiệu Ngày xưa trong một bài đăng trang nhất báo Trung Bắc Tân Văn, cũng nên ghi thêm rằng hồi ấy cụ Nguyễn Văn Vĩnh vì bận kinh doanh một phần, mà phần khác là lo trang trải công nợ nên không bao giờ trông lên báo. Vào hôm sau, vì có người thóc mách nói đến tai cụ sau khi xem bài giới thiệu, cụ Vĩnh mới tạt vào tòa soạn xem bài đó và nhân tiện mượn một cuốn Ngày xưa để coi xem thế nào.


Thì ra Nguyễn Nhược Pháp làm thơ, in sách, cụ Vĩnh ông cũng như cụ Vĩnh bà hoàn toàn không biết gì cả. Nguyễn Nhược Pháp in sách bằng tiền của chính anh dành dụm và trả trước hết cả cho nhà in lúc này do cụ Nguyễn Hữu Như quản nhiệm. Pháp in tất cả đâu chừng một ngàn cuốn bìa giấy màu xám, chữ đề ở ngoài có hai chữ Ngày xưa và tên tác giả, không có trang ở ngoài bìa nhưng bên trong tôi nhớ chừng như có hai ba bức phụ bản in trên giấy láng do anh ruột Pháp là Nguyễn Giang (lúc ấy vừa ở Pháp du học về) minh họa.


Cuốn Ngày xưa tuy được giới thiệu đặc biệt như thế nhưng ngay lúc đó không được mấy ai chú ý - một phần có lẽ vì lúc ấy người ta đang thích thơ Đường than mây khóc gió, nhớ nước thương nhà một cách xa xôi bóng bẩy, hay những thơ lục bát chan chứa một tình thương giống nòi như Nguyễn Trãi, Nguyễn Phi Khanh chẳng hạn, chớ văn thơ thuần túy nghệ thuật thì chưa mấy ai biết thưởng thức như bây giờ.


 


Cuộc đời như bóng mây


Bây giờ còn nhớ được điều gì giữa cụ Vĩnh và Nguyễn Nhược Pháp, tôi chỉ nhớ là sau khi đọc cuốn Ngày xưa, cụ Vĩnh một hôm cười ha hả đến giữa tòa soạn nói rằng:


- Cũng hay, tôi không ngờ lại có con thi sĩ. Nhờ các tiên sinh dìu dắt cháu sau này chịu khó là nhờ ơn các tiên sinh.


Thế rồi ba năm qua đi mau lẹ không ai hay gì cả. Một ngày mùa rét năm 1938, chính nơi trang nhất của tờ báo vừa khen thơ Nguyễn Nhược Pháp, người ta thấy một tin buồn: Nguyễn Nhược Pháp đã qua đời, hưởng dương hai mươi bốn tuổi.


Riêng tôi lúc ấy chưa hề bao giờ lại cảm thấy câu “cuộc đời như bóng mây” mà các cụ vẫn thường vung trong thơ lại đúng và buồn đến thế. Nguyễn Nhược Pháp qua đi như một cái bóng mây không hơn không kém: lớn lên, đi học, viết một cuốn thơ, vài cái kịch, ít truyện ngắn đăng trên các báo Tinh Hoa, Ngày Nay Đông Dương Tạp Chí ([1]) rồi chết, chưa kịp hưởng thụ một tí gì cho cuộc đời đầy nước mắt này mà trái lại, lại chỉ được uống nước mắt từ lúc lọt lòng cho tới khi nhắm mắt.


Trên kia tôi có nói Nguyễn Văn Vĩnh, dường như xót xa Pháp nhất. Vốn là bạn của Nguyễn Hải qua Nguyễn Giang đến Nguyễn Dương, Nguyễn Phổ, Nguyễn Kỳ, Nguyễn Diệu, tôi biết: Cụ Vĩnh chiều hết thảy các con và con nào cũng biết tiêu tiền rất kỹ. Nhưng hình như chỉ có Nguyễn Nhược Pháp là không may...


Đó là vì Pháp sinh trong một hoàn cảnh bất thường. Những anh mà tôi vừa kể trên kia là con cụ cả, Pháp là con của cụ hai. Thực ra không có vấn đề con cụ cả, cụ hai nhưng mối tình giữa cụ Vĩnh và cụ hai (tên thật là bà Lựu) có một cái gì bi đát. Trước khi thuật lại chuyện này, tôi hết sức đắn đo, nhưng sau khi tham khảo ý kiến với mấy bạn già còn sót lại của Nguyễn Văn Vĩnh tiên sinh, tôi đánh liều thuật ra đây, biết đâu sự kiện đó lại chẳng ảnh hưởng một phần nào đến cái thi tài của Pháp.


Bà Lựu sanh ra Nguyễn Nhược Pháp là một bà gốc Thổ sinh trưởng ở nơi núi cao rừng rậm, trong một bầu không khí khoảng khoát tự do. Không ai rõ bà về trung châu để buôn bán làm ăn hay tại cụ thân sinh ra bà đổi về đồng bằng làm việc, chỉ biết rằng bà biết cụ Vĩnh là do một người bạn một thời nổi tiếng ở Bắc thành: Francois Nguyễn Huy Hợi, mà một dạo báo Phong Hóa, Ngày Nay đã đem ra riễu thường xuyên. Hai cụ bà ở riêng: cụ cả ở trong Mã Mây, còn cụ hai thì ở Hàng Trống, một gian nhà rộng có vườn ao cây cảnh trông ra ngõ Hồ (sau này là trường Hoài Đức). Bây giờ, không có ai biết rõ mối tình oan trái này có đem lại nhiều hạnh phúc cho cụ Vĩnh không, nhưng người ta biết một điều là mối tình duyên ấy kết thúc một cách não nề đau đớn: bà Lựu trong một cơn sầu khổ không chế ngự được, đã dùng một khẩu súng lục tự bắn vào cuống họng và đã mệnh một([2]) ngay lúc đó, không kịp chở vào nhà thương cứu chữa. Sau này, nhà chức trách điều tra được cây súng lục đó thì biết rằng do ông phủ Trọng (lúc ông quản trị đồn điền Sallé) cho cụ Vĩnh mượn dùng. Sự việc đó hoàn toàn có thực, nếu nhà chức trách cố tình làm lôi thôi thì hẳn cụ Vĩnh lẫn ông phủ Trọng cũng bị phiền, nhưng vì cả hai đều là người có thế lực lúc bấy giờ đối với Tây nên vụ này được dàn xếp ổn thỏa liền và không ai còn nhắc đến vụ bà Lựu nữa. Chỉ tội nghiệp cho Nguyễn Nhược Pháp, người con trai độc nhất của bà Lựu bị bồ côi sớm quá. Lúc ấy anh chưa được ba tuổi. Có người bảo rằng cái chết của người mẹ bạc phận đó ảnh hưởng đến anh ngay từ khi đó, chẳng biết có đúng không? Nhưng tất cả những người hiểu câu chuyện kín đáo này hồi đó đều nhận thấy rằng sau khi bà Lựu mất, cuộc đời của Pháp chỉ là một chuỗi đau khổ mang mang bất tuyệt.


Được cụ Vĩnh đưa về ở chung với các con cụ cả, Nguyễn Nhược Pháp ngay từ lúc lên sáu lên bảy tuổi đã cảm thấy mình cô độc, bơ vơ, tuy rằng các anh Hải, Giang, Dương, Phổ... không bao giờ có óc kỳ thị, phân chia con cụ cả, cụ hai... Nguyễn Nhược Pháp, thực ra, có biết hết cả câu chuyện thảm khốc của bà mẹ quý đó không? Không ai biết hết. Nhưng Pháp thì ngay lúc bé đã có nét mặt rầu rĩ, ít nói, ít cười. Một người bạn già của tôi, hiện giờ ở Hà Nội, thuật rằng Pháp là một thanh niên có học mà thông minh lắm; chắc chắn là biết hết đầu đuôi câu chuyện đó, nhưng không than thở cùng ai, chỉ giữ ở trong lòng để cho một mình mình biết. Bằng chứng là vụ sau đây.


Nhà cụ Vĩnh đông con, thường dọn hai ba bàn để cho con cái ăn riêng. Vì lý do ấy, thiếu mâm, một chị người làm, không hiểu vì vụng dại hay cố tình, lấy cái khung ảnh của bà thân sinh ra Pháp làm mâm cơm. Pháp trông thấy, đứng dậy, lấy cớ là khó chịu trong người, không ăn và cầm sách vào phòng riêng, để học - thực ra là để khóc mà không cho ai biết.


Có người về sau này bình phẩm thơ của Nguyễn Nhược Pháp cho rằng thơ anh đượm một màu trào phúng thú vị. Thực tình tôi không bao giờ thấy bất cứ trong thơ văn nào của Nguyễn Nhược Pháp lại có một tinh thần trào phúng như các nhà phê bình kia đã nói, mà chỉ thấy một cái gì buồn man mác, như nhớ đến một hiền kiệt xa xôi, nhớ rừng, nhớ núi, nhớ một mối tình lặng lẽ, nhớ một bàn tay ngà ngọc đã mất rồi không còn thấy nữa... Có lẽ cái gì đó mà người ta gọi là trào phúng trong thơ văn của Pháp chỉ là một thứ trí khôn, một kết quả của tưởng tượng phát xuất từ một đầu óc ngây thơ, vô tội nhìn đời một cách chân thành như một con chim non nằm trong tổ ở trên cao nhìn xuống cõi trần cát bụi.


Một người như thế quả thực là chưa biết đời và cũng không bao giờ lại quan niệm đời là xấu nên nói ra câu gì viết ra chữ gì là thành thực cả, chớ không bao giờ lại chế bác, cười cợt, hay nghĩ làm điều ác, dù nói con chó, con mèo, con sâu, con kiến...


 


Nhân chứng còn kia, chứng tỏ lời tôi vừa nói


Trong các bạn hữu còn lại đến bây giờ của Nguyễn Nhược Pháp, hiện giờ còn ở nơi đây, anh Nguyễn Doãn Vượng, nguyên chủ nhiệm báo Trung Bắc Chủ Nhật có thể làm chứng cho những lời tôi vừa nói. Có thể nói Vượng là một trong những người bạn thân nhất của Pháp được Pháp tâm sự khá nhiều, nhưng theo lời Vượng nói với tôi thì chưa bao giờ Nguyễn Nhược Pháp tâm sự với anh về tình cảnh gia đình của anh.


Nguyễn Nhược Pháp, theo lời Nguyễn Doãn Vượng, không dám nói một câu làm mếch lòng ai, không dám nói một câu gì mà anh cho là hại đến âm đức. Hình như anh có một cái gì như tự ti mặc cảm: gặp ai anh cũng e dè, xấu hổ như sợ kém người ta, anh đỏ mặt và bao giờ cũng lấy bàn tay che miệng, tuồng như nghĩ rằng nếu nói mà há miệng ra, để hở răng ra thì là vô lễ vì có thể bắn vi trùng vào người khác!


Một phần vì thế, Pháp rất ít bạn, chỉ giao du với một số người mà anh biết rõ. Nhưng dường như cái thú giao thiệp với bạn, đối với anh chỉ là thứ yếu. Pháp thích sống một mình, tự giam mình vào một nơi rất kín để đọc sách và viết văn hay suy nghĩ.


Nguyễn Doãn Vượng tiết lộ với tôi:


- Sinh thời, Pháp có một ước vọng mà không thực hiện được là trình diễn vở kịch Người học vẽ. Chính anh đã nhiều lần gặp riêng tôi để yêu cầu tôi chọn mấy ban chơi vở kịch này, nhưng về sau, không biết vì lý do gì, kịch ấy không được mang lên sân khấu.


Pháp lấy làm tiếc lắm, nhưng không kiểu cách như một số thanh niên khác, anh nói thực là anh rất lấy làm ân hận.


- Bao giờ, và bất cứ việc gì, Pháp cũng chân thật như thế.


Tôi còn nhớ có một hôm, đương làm việc trong phòng tối, lúc ấy Vượng còn làm ảnh kẽm, Pháp hớt hơ hớt hoảng đến tìm tôi, cố nèo kỳ được “đi ăn cái gì”. Tôi hỏi: “Sao hôm nay giàu thế?”. Pháp móc túi, cầm mấy đồng bạc giấy giơ lên trời và khoe: “Tôi vừa đến Ngày Nay, họ trả cho hai đồng tiền nhuận bút cái truyện ngắn họ đăng tháng trước. Tôi vội chạy về đây mời anh đi “mổ” cái gì chơi cho thú!”.


Cái thú của Pháp chỉ giản dị có thế nhưng ít khi anh được hưởng. Hầu hết cuộc đời của anh chỉ là một cái sầu liên miên, sầu vô cớ, hỏi tại sao sầu thì không biết tại sao. Nhưng bởi vì thọ hưởng một nền giáo dục vừa Á vừa Âu, anh theo đúng tác phong của cụ thân sinh từng viết ra trong truyện Miếng da lừa, theo đó người quân tử thường “đau cảm sầu nín” nên ít ai gặp Pháp lại thấy Pháp lộ vẻ buồn, trái lại, lại tỏ ra bặt thiệp đon đả và ham cười nửa miệng.


Đó là đối với các bạn trai quen biết. Lúc học luật, có nhiều cô có cảm tình với Pháp thường đến với anh để bàn chuyện học hành và bàn về chuyện trời mây trăng nước; Pháp không dám chối từ nhưng đã tỏ ra hết sức nhát, thành thử cho đến khi mất, có thể nói anh chưa biết kỹ một cô nào cả.


Chưa được hưởng lộc của đời một chút gì, chưa biết tình yêu trai gái, chưa bước ra khỏi Bắc Việt một ngày, bỗng nhiên nhuốm bịnh, mất tiếng đi rồi chết thực là ai oán. Ngay lúc anh nằm xuống, các người thân thích và một số anh em cho rằng anh bị thần trùng bắt (vì lúc này gia đình cụ Vĩnh bắt đầu xuống, mấy năm liền có những người kế tiếp nhau qua đời), theo các người có óc “khoa học” hơn, thì Pháp mất không phải vì thần trùng hay ma quỷ gì hết mà chính vì anh đã mắc bịnh lao mà người thứ nhất bị chứng lao sát hại chính là bác sĩ Hải, con lớn của cụ Vĩnh, từng ở lâu năm tại Pháp.


Bác sĩ Hải mất lúc hãy còn trẻ lắm. Người ta ngờ anh bị lao từ khi còn ở Pháp vì anh nổi tiếng là con nhà giàu có ở Việt Nam, hơn thế lại được cụ Vĩnh nuông chiều hết sức, cứ mỗi lần Hải gửi thư về xin tiền thì dù ở nhà túng đến đâu, cụ Vĩnh cũng đi vay đi mượn cho đủ số để làm vừa lòng người con du học, nhưng nổi tiếng là một tay “du” về môn chơi bời, ghiền hút, chè rượu và trai gái.


Cái tạng và vóc dáng của Nguyễn Nhược Pháp cũng từa tựa như Nguyễn Hải, nhưng cả hai anh em ấy là hai thái cực: một người nếm đủ mọi mùi đời, một người không hề được biết mùi đời là cái gì hết. Về phần Nguyễn Phổ, em ruột Nguyễn Hải và Nguyễn Giang, và cũng là người bạn thân nhất của tôi, không ngày nào không gặp nhau, Nguyễn Phổ rất ít nói về Nguyễn Nhược Pháp, mặc dầu tôi đã nhiều lần hỏi anh. Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu tại sao Phổ lại không muốn nói nhiều về Pháp. Không biết có phải đó là một phương diện của tình thương không, một cách tránh né vì sợ nói với tôi thì gợi thêm sầu khổ cho lòng mình? - Phổ chỉ nói vắn tắt:


- Nó không khỏe thành ít đi ra ngoài. Thỉnh thoảng tôi vẫn rủ nó đi đây đi đó cho mạnh lên nhưng nó không chịu, hết học lại đọc sách và làm thơ, viết kịch. Thực tình kịch của nó hay, nhưng tôi e rằng ít người hiểu được cái tế nhị của nó ẩn trong những câu đối thoại... Phải nhận Pháp nó là một thằng khá lắm, nhưng nó tiến hơi nhanh quá.


Câu bình luận của Phổ rất là xác đáng. Là bạn với anh từ nhỏ, lớn lên lại cùng viết văn xuất bản và làm báo với nhau, tôi vẫn có biết nhỡ Phổ vì anh là một thứ “bách khoa từ điển”, cái gì cũng nói được, cái gì cũng biết tí ti, nhất là về vấn đề phân tách, mổ xẻ người và việc thì anh tỏ ra hết sức là thông suốt và thông minh.


Đối với người ngoài, cũng như đối với anh em bè bạn, Phổ không bao giờ vị tình, chỉ cần nói ra sự thật do mình nghĩ thật và cảm thật: ông cụ có lỗi anh cũng chê, nhưng ai có tài mà phải nhận hay cố ý làm ra mù óc và để hạ người lạ xuống, Nguyễn Phổ quyết đấu lý cho tới cùng và cãi cùng cho đến khi nào, trong hai người có một người được, một người thua mới chịu thôi.


Quả đúng như lời Nguyễn Phổ: Nguyễn Nhược Pháp tiến hơi nhanh quá. Văn thơ của anh, lúc ra đời, không mấy ai thấy rằng hay; con người của anh, lúc sinh thời không mấy ai buồn để ý; đến lúc biết thì đã muộn. Nguyễn Nhược Pháp chết “cũng hơi nhanh quá”.


Những đêm buồn sực nghe thấy có ca sĩ ngâm lên bài thơ Chùa Hương, Sơn Tinh - Thủy Tinh hay bài Đi cống, nhớ đến Nguyễn Nhược Pháp, tôi thường lấy câu “Mỹ nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạch đầu”([3]) ra để an ủi lòng mình. Rồi đến khi chập chờn sắp ngủ, tôi lại nghĩ đến một đoạn chót trong truyện Đông Chu liệt quốc nói về mưu sĩ Cam La lên bảy tuổi đã làm cho Lã Bất Vi phải kinh sợ vì đã thuyết phục nổi danh tướng Trương Đường.


Tạo hóa ghen ghét người tài: đó là một cái luật từ ngàn xưa để lại.


Nguyễn Nhược Pháp, có phải là người tài hay không, mà sao cũng không tránh được cái luật khắt khe đó của ông Tạo đố tài, đố sắc?


 


19-11-1970


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. Tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








([1] ) Loại mới do Nguyễn Giang làm chủ nhiệm, loại cũ do cụ Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương.




([2]) Chết.




([3]) Giai nhân như vị tướng tài


    Từ xưa chẳng hẹn cùng ai bạc đầu.


                                                (Hoàng Ly dịch)



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (2) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Lượm lặt ở đám giỗ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Lưu Trọng Văn 06.06.2017
xem thêm »