tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20527088
Lý luận phê bình văn học
22.11.2011
Vũ Bằng
Khảo về tiểu thuyết (8)

 Chương XV: Cái nhục của nhà tiểu thuyết 


Có lẽ sang chương này, tôi nên xin lỗi trước các bạn đọc và tất cả các nhà tiểu thuyết ở đây, vì sắp phải đem phơi bày một ít điều đáng lý nên giữ lấy trong lòng, một ít điều không đáng nói vì có thể làm phiền lòng những ai không phải là người trong cuộc.


Xưa nay, tôi vẫn chủ trương như Ratner Maria Rilke rằng nhà sáng tạo nguyên mình đối với mình đã là cả một vũ trụ rồi thì cần gì phải đợi một cái phần thưởng ở ngoài mang tới, mà cũng chả phải kêu gào nỗi khổ mình lên, hoặc oán trách ai làm gì. Nhưng tôi không thể không buồn rầu mà nhận thấy rằng, ít lâu nay, ở nước ta, có nhiều người nông nổi, không chịu suy xét kỹ, đã nói nhiều câu quá đáng về những nhà tiểu thuyết, và đã đành là những lời quá đáng đó không có lợi gì cho họ. Người ta bảo rằng những nhà tiểu thuyết hầu hết đều là những người học lóp lép, dở dang, không biết làm nghề gì khác thì đi làm nghề viết tiểu thuyết; chỉ có những nhà phê bình, nghiên cứu, khảo cứu mới là những người có học thức mà thôi, mới đáng để cho người ta kính phục.


Tôi không cãi lại những người nông nổi đó làm gì và không phải viết mấy dòng này để tranh giành với những nhà nghiên cứu cái địa vị cho những nhà tiểu thuyết đâu. Không. Tôi chỉ muốn nhận rằng những lời bình phẩm đó cũng có khi sai thực. Nhưng nghề gì chả vậy, chả có người hay kẻ dở, mà nếu trong nghề tiểu thuyết có người dở thì chắc đâu trong cái nghề khác đã hoàn toàn những người hay? Điều cốt yếu là ta không nên mạt sát hẳn một nghề gì, mà chỉ nên công kích, nếu cần lắm, một phần tử hay những phần tử xét ra không tốt. Mà riêng đối với nghề tiểu thuyết, làm như thế chưa chắc đã là phải, bởi vì như đã nói trong chương trước, những văn nhân, dầu bất tài, dầu thất bại đi nữa, cũng đều là những người đã giúp ích cho văn chương, cho công cuộc xây nền đắp móng cho văn hóa, cho linh hồn đất nước.


Nhà tư tưởng, nhà nghị luận giúp ích cho văn chương về một phương diện; nhà tiểu thuyết giúp ích về một phương diện khác; ta không thể đem ra so sánh được. Có so sánh chăng là ta đem cuốn tiểu thuyết này so sánh với tiểu thuyết kia để xem nhà tiểu thuyết này khác với nhà tiểu thuyết kia thế nào, vậy thôi. Chứ so sánh hai nhà tiểu thuyết để yêu người này, ghét người nọ, việc đó ta cũng không nên làm. Điều tối kỵ cho một người đọc sách là có thành kiến sẵn, họ cầm một cuốn tiểu thuyết lên tay là chỉ rình để khinh miệt tác giả, là để công kích, xem tác giả lầm chỗ nào, hỏng chỗ nào. Người ta không thể làm được việc gì tốt đẹp cả, nếu không có tình thương yêu. Cái mà ta cần phải tìm kiếm không phải là sự lầm lẫn của tác giả đâu: ta phải tìm xem tác giả hay ở chỗ nào, phải ở chỗ nào, tài tình ở chỗ nào, cũng như một nhà phê bình, muốn nói về một tác phẩm, công việc không phải là ở chỗ đem trưng bày bóng tối nhưng chính là ánh sáng. Chateaubriand há chẳng đã nói rằng: “Ta không nên dùng lối phê bình khó khăn để chê những nết xấu, nhưng phải dùng lối phê bình phong phú, phê bình những tính tốt”(1) đó ru? Vậy đọc một quyển sách, ta phải tìm cách đi sâu vào sách đó, hòa mình vào với tác giả. Chỉ có cách đó, người ta mới là một người đọc sách tốt, một người đọc sách thông minh vậy.


Vả chăng, ta cũng nên biết rằng viết ra được một cuốn tiểu thuyết, dù là một quyển tiểu thuyết không hay, cũng không phải là một việc dễ dãi như người đời vẫn tưởng đâu. Có người viết dễ, có người viết khó, có người viết nhanh, có người viết chậm, nhưng đã viết thì ai cũng phải dụng công cả, cũng phải đau khổ cả, cũng phải kiên tâm cả: một vài trăm trang sách, in lên không có nghĩa gì, chứ lúc viết ra trên bản thảo, có khi đó là cả một sự nỗ lực, cả một sự đau khổ, cả một sự hy sinh ghê gớm. Nhục nhằn nhất là lúc nào nhà văn cũng bị lâm vào một tình cảnh nghi ngờ mình, cũng bị băn khoăn vì chính mình. Có khi chắc rằng mình viết cuốn tiểu thuyết này thì sẽ thành công và sẽ mở một kỷ nguyên mới trong làng tiểu thuyết; có khi lại ngờ ngợ rằng mình sẽ bị người ta mạt sát kịch liệt và sách bán sẽ không ai mua cả. Nỗi lo âu của Flaubert có chăng là đúng như hệt cuộc đời của tất cả những văn nhân có lương tâm với nghề?


Trong công việc trứ tác, mỗi lúc một khác, không bao giờ giống nhau hết. Ta nghĩ ra một đầu đề viết tiểu thuyết, ta lấy óc vuốt ve trong tưởng tượng cuốn sách ta chưa viết và ta nói rằng: “Cuốn tiểu thuyết này cần phải viết ngay, và viết thực hay mới được!”. Không gì đẹp đẽ và cao thượng bằng sự nghĩ ngợi đó, nhưng lấy tưởng tượng ra mà xây dựng câu chuyện thế nào cho nó “đứng” được, rồi cất bút viết, rồi tìm tòi kỳ cho được một lối diễn đạt tài tình, rồi mình tự hỏi mình đã diễn đạt được hết những điều mình định diễn đạt chưa, rồi nghi ngờ không biết mình diễn đạt như thế thì người đọc đã hiểu được chưa, đó là những vấn đề nan giải mà mỗi nhà tiểu thuyết đều đem ra tự vấn ở từng dòng từng chữ, từng trang, mà khốn khổ, không biết trả lời ra thế nào.


Tchékov, trong ngữ vật La Mouette, có vẽ lại nỗi băn khoăn đau khổ của nhà sáng tạo Trigorine bằng nét bút tài tình, tưởng nên dịch ra đây để chúng ta đồng lãm. Nhà sáng tạo của Tchékov nói như sau này:


“Ngày đêm, một tư tưởng theo đuổi tôi, thu hết tâm lực tôi: phải viết, phải viết, cần phải viết. Vì viết xong một truyện, tôi lại thấy cần phải viết một truyện khác rồi. Tôi không hiểu vì sao, nhưng tôi viết không ngừng như người phu trạm chạy, và tôi không thể làm khác được. Thế thì ở trong việc viết đó có cái gì tuyệt diệu vậy, tôi xin hỏi anh? Đây này, tôi đương đứng trước mặt ông, tôi băn khoăn trằn trọc và lúc nào tôi cũng nhớ rằng có một cái tiểu thuyết đang chờ đợi tôi. Tôi nhìn thấy có một đám mây trông giống hệt một chiếc dương cầm và tôi nghĩ rằng phải nên ghi lại rằng có một đám mây trông giống như chiếc dương cầm. Lá kia ngửi như mùi hoa hướng dương và lập tức, tôi nghĩ ngay đến hoa hướng dương mùi lạt lạt… “Nhớ lấy để dùng vào một đoạn tả cảnh mùa hạ”. Tôi rình ông và tôi rình cả tôi nữa, rình từng câu, rình từng chữ; tôi vội ghi vào trong ký ức tất cả những câu đó, chữ đó, có lẽ một ngày kia tôi sẽ đem ra dùng. Và khi nào công việc xong rồi, tôi phải nghỉ ngơi, quên đi; nhưng ở trong đầu tôi quay lông lốc một hòn gang, một đề tài truyện mới, và tôi lại nhảy xổ đến bàn viết, và tôi cứ phải viết hấp ta hấp tấp như thế, và tôi không được nghỉ ngơi lúc nào, đó là tự tôi làm tôi như vậy. Tôi thấy rằng chính mình lại tiêu hủy đời mình, và lấy được mật ong để đem cho những người không quen biết ở khắp bốn phương trời, chính tôi đã lấy hương nhị những bông hoa đẹp nhất của tôi, tôi vò xé, tôi chà đạp gốc rễ của những cây hoa đó. Có phải tôi điên không? Những bạn bè quyến thuộc của tôi có coi tôi như một người ốm không?


“Họ hỏi tôi:


“- Anh viết gì? Anh sẽ cho chúng tôi đọc gì?


“Bao giờ cũng vẫn một câu hỏi đó. Và tôi ngờ rằng những sự chú ý, những lời khen lao, những niềm cảm phục, tất cả những cái đó chỉ là phỉnh gạt… Phải, trong khi tôi viết, thực tôi dễ chịu, và tôi sung sướng được sửa những bản in thử; nhưng một khi tác phẩm đã ra đời thì tôi đã thấy ngay là không thể nào chịu được. Tôi thấy rằng tôi không định viết như thế, tôi lầm mất rồi, đáng lý tôi không viết lầm gì cả, và tôi thấy chán nản vô cùng, tôi đau đớn trong tâm hồn quá. Và công chúng kêu lên:


“- Ừ, cũng hay đấy. Y cũng có tài. Được! Nhưng còn kém xa Tolstoi!


“Hay là:


“- Cứ kể thì cũng khá đấy, nhưng Tourguenev còn khá hơn nhiều!


“Từ đó cho đến khi chết, “Được! Khá!” và không có gì thêm nữa. Và khi nào tôi chết, những ai quen biết tôi, đi qua mả tôi, sẽ nói rằng:


“- Ở đây, Trigorine yên nghỉ giấc ngàn thu. Đó là một văn nhân khá, nhưng y còn kém Tolstoi nhiều!”.


Tchékov đã xét đúng: đời văn nhân là thế, và hỡi hỡi các người đọc sách, thỉnh thoảng các người cũng nên nghĩ đến những nỗi băn khoăn đó, những sự phiền khổ đó, những công cuộc tìm tòi đó!


Mỗi khi các người nghe văn nhân, thi sĩ, tiểu thuyết gia kể lể nỗi niềm tâm sự - mà nếu quả những văn nhân đó, thi sĩ đó, tiểu thuyết gia đó, đi sâu vào lòng họ thực - các người sẽ thấy rằng họ không bao giờ được vui; họ buồn rầu cho số phận buồn rầu của họ, cho số phận buồn rầu của tất cả những người sáng tạo làm việc không ai biết, mà không lúc nào kiểm tra được mình, lúc nào cũng lo sợ cho những điều mình viết ra, vì không có cách nào để kiểm tra được cả. Trong khoa học giới, một vị bác sĩ thí nghiệm: nếu công cuộc thí nghiệm bị thất bại, đó là một sự không may, một niềm đau đớn, nhưng bác sĩ biết chắc rằng công cuộc thí nghiệm của mình đã hỏng rồi. Một văn nhân khổ đến nỗi không biết chắc chắn rằng có phải tác phẩm của mình có hỏng thực không. Sự nghi ngờ đó thật tai hại: biết chắc chắn là hỏng có khi còn có ích, vì sự chắc chắn đó có thể là một kinh nghiệm cho mình và cho những người chung quanh. Văn nhân luôn luôn sống ở trong sự nghi ngờ, trong sự bất trắc, bấp bênh. Khổ đến thế là cùng vậy! Tiền bạc không làm dịu được nỗi đau khổ đó bao giờ. Thi sĩ François Mayard, có chân trong Hàn lâm viện, mệnh một ở Aurillac năm 1646 một cách vô cùng trưởng giả, đã ngâm câu tuyệt diệu sau này trước khi từ biệt cõi đời:


O siecle ingrat! O saison diffamée


Où la vertu pauvre et mésestimée


Chez les puissants ne trouve que des croix.


(Hỡi ôi cái thế kỷ bạc bẽo! Hỡi ôi cái thời đại bị phỉ báng mà đức tháo, nghèo nàn và không được các nhà quyền thế kính trọng, chỉ toàn gặp những điều khổ sở!).


Tiếng kêu than đó không bao giờ ngớt. Nỗi đau xót của văn nhân, thi sĩ không bao giờ vơi. Ở nước ta, hình như lúc này những tiếng than oán đó não nùng bi thiết hơn cả bao giờ hết. Có lẽ bởi thế chăng mà các bậc cha mẹ sinh ra con không bao giờ lại muốn cho con theo đòi cái nghiệp văn chương cả? Tôi đã từng biết nhiều văn nhân, ngoài cái đau khổ xảy ra vì nghề nghiệp, lại còn đau khổ thêm vì gia đình nữa! Một bên là văn nhân bị ám ảnh bởi nghề nghiệp, một bên là các bậc làm cha làm mẹ không muốn cho con phải mắc mứu vào cái dây oan nghiệt, vào “những nỗi đoạn trường” của văn chương; hai bọn người đó không bao giờ hiểu nhau, họ làm khổ nhau và cái hố xa cách, vì vậy, không bao giờ lấp được. Có phải vì thế chăng mà có những văn nhân thường bị coi như là những của quái trong nhà? Người Á Đông ta, vốn thâm trầm và gan góc, thường không hay kêu nỗi thống khổ lên; và đến tận đầu thế kỷ XX vẫn không nghĩ chuyện lấy văn chương làm một nghề, chỉ cho là một thứ tiêu khiển lúc trà dư tửu hậu, nên các cụ không để lại cho ta những bài “Văn nhân thán” bên cạnh những bài Cung oán, Chinh phụ, Bần nữ thán, Thu dạ lữ hoài ngâm… Ở Âu Tây thì khác. Những nỗi thống khổ của nhà văn đọc không bao giờ hết, bởi lúc nào họ cũng mới bắt đầu. Chắc các bạn đọc đã biết nhiều, đây tôi chỉ xin lấy mấy câu thơ của thi sĩ Baudelaire thốt lên để tả thống khổ của thi nhân, nỗi lo âu của những bậc làm cha mẹ có con làm văn nhân, thi sĩ:


Lorsque, par un décret des puissances suprêmes,


Le poète apparait en ce monde ennuyé,


Sa mère épouvantée et pleine de blasphèmes,


Crispe ses poings vers Dieu, qui la prend en pitié.


(Mỗi khi, do sắc lệnh của những quyền thế tối cao, một thi nhân xuất hiện trên cõi trần hoàn chán nản này, người mẹ thi nhân run sợ, không ngớt lời báng bổ, và giơ nắm tay lên Thượng đế: Thượng đế, thương xót người mẹ đó).


Trong bài tựa thi tập “Les fleurs du mal”, Théophile Gautier đã bình phẩm như sau này: “Những bậc làm cha mẹ linh cảm những nỗi gian nan vất vả, những sự tan ruột nát lòng của cái đời văn chương nghệ thuật; họ muốn tránh cho con cái mà họ yêu quý những điều đó và mong rằng chúng có một địa vị sung sướng và hợp với người ta”.


Bọn văn nhân không hề nghĩ thế; họ biết là làm nghề “nhả tơ” - nói theo lối thi sĩ Tản Đà - thì khổ nhưng họ cứ làm, biết là mình sẽ chết vì nghề, nhưng họ cứ làm: họ cứ làm dù họ tin chắc rằng:


Một mối tơ tình buộc chết ai,


Buôn văn bán chữ kiếp nào thôi!


Ruột tằm rút mãi chưa thành kén,


Có lẽ lôi thôi suốt cả đời!


Tản Đà, lúc bỏ bút lông, cầm bút sắt để làm nghề trước tác, có ngâm:


Mười mấy năm trời ngọn bút lông,


Xác xơ chẳng bợn chút hơi đồng.


Bây giờ anh đổi lông ra sắt,


Cách kiếm ăn đời có nhọn không?


Ta chớ nên tưởng rằng ông không biết trước sự thiệt thòi dành sẵn cho người làm nghề đâu. Ông biết trước cả, “nhưng cái nghiệp đã thế” thì cứ làm đó thôi. Chính cái đó đã nâng văn nhân, thi sĩ lên một chỗ rất cao của thế giới tinh thần: họ là những người tử vì đạo, họ là những bậc thánh đem mình hứng chịu tất cả những sự đau khổ để làm cho người khác sướng, họ thức để cho người khác ngủ. Ở đời này, không có sự xả thân, không có lòng hy sinh, thì nước mắt chúng sinh bao giờ ráo được? Thế nhân còn đáng sống làm gì? Tôi muốn mượn mấy dòng khắc trên mộ chí của một văn nhân khốn nạn bị tàn tật, Scarron, để làm hình ảnh cho tất cả những nhà sáng tạo, những nhà thi sĩ, những nhà tiểu thuyết:


Celui qui maintenant dort,


Fit plus de pitié qu’envie


Et souffrit mille fois la mort


Avant que de perdre la vie.


Passant, ne fais ici de bruit,


Prends garde qu’aucun ne l’éveille,


Car voici la première nuit


Que la pauvre Scarron sommeille.


(Người hiện đương ngủ ở dưới này đáng cho ta thương hại hơn là cho chúng ta mong ước, đã đau khổ ngàn vạn lần vì cái chết trước khi từ biệt cõi đời. Hỡi hỡi khách bộ hành, đừng làm rộn, coi chừng đừng để ai đánh thức người bởi vì đây là đêm thứ nhất và Scarron đáng thương hại được nhắm mắt mà ngủ vậy).


Tất cả văn nhân, thi sĩ, tiểu thuyết gia ở dưới cõi đời này, về phương diện tinh thần đều là những ông Scarron không được ngủ luôn luôn, nhưng ta chớ nên tưởng rằng chỉ vì thế mà không có Scarron nữa. Đức Phật Thế Tôn có nói: “Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật”. (Nếu địa ngục mà chưa hết người thì nguyện chưa thành Phật). Văn nhân, thi sĩ và tiểu thuyết gia cũng vậy, còn cõi đời này, vẫn còn cứ phải sáng tạo và còn cứ phải như chim đường nga rút ruột nuôi con - một đứa con lắm khi không đáng được hưởng sự hy sinh đó!


Chương XVI: Kết luận 


Sinh trong cõi đời vật chất này, văn nhân, thi sĩ, tiểu thuyết gia không còn thể là những ông Tolstoi được nữa; họ cũng phải sống, họ cũng cần phải có tiền; nhưng ta không nên vì thế mà giảm lòng kính họ.


Bao giờ và ở nước nào cũng vậy, địa vị của văn nhân cũng đặc biệt trong một nền văn minh, thường thường cái sứ mệnh của văn nhân cũng được định đoạt rõ rệt bởi chính những nhu cầu của người dân. Văn nhân sẽ là, và chính bây giờ cũng đã là một chuyên gia trong một xã hội có toàn những chuyên gia. Xin các ngài chớ vội hấp tấp tưởng rằng đó là những chuyên gia như những chuyên gia mà ta thường thấy đăng quảng cáo trên báo chí; nhưng là những chuyên gia cao thượng hơn, nhận một sứ mệnh tốt tươi hơn hết. Nói riêng về tiểu thuyết, một người xứng đáng với hai chữ “văn nhân”, không phải chỉ đem ý kiến, tư tưởng đến cho ta, đem những câu, những chữ và những hình ảnh đến cho ta, nhưng chính là một người giúp ta tư tưởng những tư tưởng của ta, những người đã dùng phép thuật riêng để giúp chúng ta làm chủ linh hồn của chúng ta.


Từ trước đến nay, như các bạn đã biết, xã hội Việt Nam ta là một vườn hoa chỉ chuyên giồng một thứ văn chương đạo đức, văn nhân thi sĩ hình như chỉ nuôi có mỗi một hy vọng, chỉ thực hành có mỗi một công việc là miêu tả phong tục để mà sửa đổi lại phong tục vậy. Tiền bán thế kỷ XX này, đưa chúng ta tiếp giáp mật thiết hơn với Tây Âu, đã đem cho chúng ta một bài kinh nghiệm mà người phương Tây đã trả bằng xương máu và nước mắt.


Tiểu thuyết du nhập vào làng văn ta và tiểu thuyết “gần đời, thiết thực” mở một kỷ nguyên mới mẻ: nhà tiểu thuyết muốn bỏ cái mơ mộng cải cách để đi theo một quan niệm mới, một quan niệm mà tôi xin tạm gọi là “quan niệm tìm hiểu, tìm biết” và chỉ tìm hiểu để mà biết thôi.


Chẳng rõ sự thay đổi đó có ích lợi hơn cho chúng ta không? Thời gian sẽ trả lời cho ta câu hỏi đó; riêng ý tôi, thì một sự biết ở đời này, kể đã to lắm rồi. “Biết mình, biết người” há chẳng phải là cái chìa khóa để cho người ta mở cửa cuộc đời? Có nên nói thêm rằng nhà “tiểu thuyết mới”, một chuyên gia trong một cuộc đời sống toàn những chuyên gia, bao giờ cũng giữ đặc quyền và thiên chức cố hữu mà địa vị của mình dành cho? Nhà tiểu thuyết bây giờ không là ông thầy ngồi quá cao nữa, nhưng vẫn là một người bạn, một người tin cẩn để cho ta gửi những nỗi niềm tâm sự, một người đưa đường chỉ lối, và - điều này mới là điều quan trọng hơn hết - một người an ủi lòng chúng ta.


Thường thường ở đời, ta không bao giờ lại nỡ đi hạ thấp địa vị của những người như các ông làng chả hạn - tôi nói đây là nói những ông làng chân chính - đã cứu tử chúng ta, đã cho chúng ta uống những liều thuốc đắng và bắt kiêng khem nhiều thức ăn. Chúng ta biết rằng đó là những chuyên gia làm dịu nỗi đau đớn vật chất của ta, ta kính phục và biết ơn cả những chuyên gia chứng nhận cái trách nhiệm uốn nắn linh hồn của con cái chúng ta, dạy dỗ cho chúng nên những người có học và có ích cho đất nước. Vậy không thể vì một lẽ gì mà những nhà tiểu thuyết gánh một trách nhiệm nặng như thế, ảnh hưởng to như thế, lại không dự vào một phần của sự kính mến và biết ơn của người ta được.


Tuy vậy, cũng nên biết rằng tiểu thuyết sở dĩ gây nên được những ảnh hưởng to, tiểu thuyết đã tạo những bóng mây hơi nước khả dĩ nuôi được tâm hồn đất nước, công đó không phải là toàn của những nhà tiểu thuyết đâu, nhưng còn là công của những người đọc tiểu thuyết và những người yêu tiểu thuyết nữa.


Nhà tiểu thuyết viết ra để làm gì? Chúng ta đã biết họ viết bởi vì cần phải viết, nhưng nói như thế chưa đủ; bởi vì viết thì phải xem, mà họ viết thì họ không xem bao giờ. Họ còn viết vì độc giả. Họ đã nghĩ đến các ông, các bà và các cô. Các bạn có biết sự liên quan mật thiết, lạ lùng giữa nhà tiểu thuyết và độc giả ra thế nào không? Một nhà tiểu thuyết đem mình phơi bầy ra trong truyện; hạnh phúc của nhà tiểu thuyết là làm cho mọi người đọc trông thấy lý tưởng của mình, gửi tấm lòng mình cho độc giả và bầy cho độc giả tất cả những cái kết tinh trong hồn mình, nói tóm lại, nhà tiểu thuyết tin độc giả, dâng tất cả những cái gì cao quý nhất cho độc giả, cũng như một xử nữ dâng cái trinh tiết cho người yêu vậy.


Đem trình một tác phẩm, nhà tiểu thuyết nghĩ thầm: “Không biết họ nghĩ về tác phẩm của ta ra thế nào? Nghĩ về ta ra thế nào?”. Nếu bạn yêu tác phẩm đó, ở giữa bạn và nhà tiểu thuyết có một sự thương yêu trong sạch, một dải đồng tâm không thể có cái gì cắt đứt và ở đời này có lẽ không có cái gì so sánh được với cái tình đó, bởi một tác phẩm chính là tác giả. Chính vì lẽ đó, mỗi khi nhà tiểu thuyết viết một tác phẩm, họ phải nghĩ ngay đến số phận tác phẩm đó và cũng chính vì lẽ đó mà nhà tiểu thuyết, dù nghiêm khắc, dù độc lập đến đâu cũng không thể quên được độc giả - những người quen nhưng không biết.


Một nhà tiểu thuyết không cảm thông với độc giả - xin đừng lầm với nhà tiểu thuyết ham danh tiếng - chả mấy lúc sẽ mất bình quân, sẽ mất tiêu chuẩn và phương hướng. Tôi biết rằng các nhà văn “nát óc”, những “nhà văn không cần đời hiểu” sẽ đem ra một thí dụ để bẻ tôi: Saint Simon. Tôi xin chịu là cái thí dụ trưng ra rất đúng, rằng tất cả sự nghiệp của tác giả này hình như đã “cao siêu, bồng bột trong cái bí hiểm của một cái hầm”; nhưng chúng ta nên biết rằng sự nghiệp đó là một sự nghiệp vĩ đại phi thường, một sự nghiệp đứng ra ngoài quy tắc, mãnh liệt nhưng không có tiếng vang gì cả. Người ta không thấy hơi thở của đám dân chúng, cái hơi thở vẫn thường phát hiện trong những tác phẩm tuyệt tác như cuốn Kim Vân Kiều chả hạn.


“Hỡi, hỡi vị tinh tú to lớn kia ơi - Zarathoustra vừa tiếng lên ngửng nhìn mặt trời vừa kêu lên như vậy - nếu mi không có những người mà mi soi sáng thì chả biết hạnh phúc của mi sẽ ra thế nào?”.


Một tác giả, một thiên tài không thể tạo ra được một thời đại văn chương tốt đẹp. Một tác giả Pháp đã nói vậy. Tôi muốn viết thêm rằng những nghệ sĩ cũng không đủ tạo ra một thời đại tốt đẹp, dù họ nhiều, dù họ giỏi. Phải cần có một lớp độc giả thông minh, xứng đáng với những tài nhân đó. Ở Pháp, thế kỷ XVII, được tiếng là thế kỷ ánh sáng có phải chỉ do một lớp nghệ sĩ đáng kính phục đâu, nhưng còn do một xã hội biết yêu tài, có thể hiểu được những nhân tài đó, biết khuyến khích họ, biết suy tôn họ và biết mở đường cho họ.


Nietzche có một câu dũng mãnh: “Bình giá, đó là sáng tạo”(1). Một nước có nhiều người có học giúp công vào trong công cuộc sáng tạo của văn nhân bằng cách định giá, bằng cách xét đoán, bằng cách tiếp đón niềm nở những tác phẩm văn chương hay.


Hiện nay, tiểu thuyết “gần đời, thiết thực”, tiểu thuyết theo đúng nghĩa của nó, nói cho thực, chưa được người mình ưa mấy bởi vì không hiểu mấy. Mai sau, sức tiến triển của nó ví được mạnh hơn bây giờ, cũng là nhờ ở các nghệ sĩ làm việc cho nó, và một phần lớn nhờ ở độc giả thông minh và có thiện ý chịu tìm hiểu những thú vui tinh thần thiết thực, thanh lịch và cao thượng.


Hậu bạt 


Các bạn vừa đọc xong một ít nhận xét của tôi về tiểu thuyết và có thể nói là một quan niệm về cách viết tiểu thuyết nữa.


Nhưng tôi cần phải nói ở đây một điều trước khi từ giã bạn đọc: tập Khảo về tiểu thuyết này tôi viết hồi năm 1941-1942, và hồi đó tôi viết để đăng từng kỳ trên báo Trung Bắc Chủ Nhật. Bây giờ đem in, tất cũng có nhiều chỗ không có tính chất để dùng trong một cuốn sách, xin độc giả lượng xét. Sở dĩ đem in thế này là vì tôi thấy rằng từ khi có cuộc chiến tranh đến giờ, văn tiểu thuyết ở những vùng quốc gia không phát triển được mạnh, tiểu thuyết in ra nhiều nhưng có lẽ không mấy cuốn có giá trị, tôi muốn cho xuất bản ra để góp một ý kiến nhỏ mọn, may có giúp ích trong việc làm xúc tiến lối văn tiểu thuyết phần nào chăng.


Tôi không giấu rằng có nhiều nhà xuất bản và cả những bạn trẻ mới tập viết văn, đã đọc tập Khảo về tiểu thuyết này lúc còn in từng kỳ báo, gần đây, thương giục tôi cho xuất bản thành sách. Bây giờ, tôi để xuất bản, một phần cũng là để đền đáp lại tấm thịnh tình của các bạn đã quá yêu mà khuyến khích tôi. Đến tận bây giờ, tôi mới làm được công việc này, chính là vì những sách báo cũ mất mát hết cả; may mà tôi sưu tầm lại được thế này, thật cũng là nhờ mấy người bạn đã tận tâm tận lực giúp cho tôi vậy.


Tôi xin cám ơn những ông bạn ở đây.


Còn sự thực thì một quyển sách này chưa có thể gọi là đủ để cống hiến những ý kiến của tôi về tiểu thuyết. 1942-1955! Mười ba năm đã trôi qua, mà mười ba năm đó là những năm gì? Bao nhiêu sự thay đổi, bao nhiêu sự tiến triển về tất cả mọi ngành văn hóa cũng như quân sự, chính trị và khoa học!


Trong mười ba năm đó, riêng về môn tiểu thuyết đối với thế giới cũng như đối với cá nhân, cũng có thay đổi rất nhiều, không thể viết tiếp nốt trong sách được. Từ quan niệm của người viết tiểu thuyết cho đến tư tưởng, nghệ thuật và kết quả cũng thay đổi khác hẳn đi với những biến chuyển không ngừng của thế giới; cho nên tôi thiết nghĩ phải có một quyển sách khác viết về “Một quan niệm mới về tiểu thuyết” để bù vào những chỗ thiếu sót ở trong sách này, hầu có trình bày với bạn đọc một cách tường tận hơn những sự tiến triển của tiểu thuyết, lợi khí của tiểu thuyết, những loại tiểu thuyết mới và những quan niệm mới, của những nhà tiểu thuyết mới trong thế giới.


Cuốn sách đó, tôi mong sẽ có một dịp rất gần đem trình chính cùng bạn đọc.


Ngày mồng 4 tháng hai năm 1955


VŨ BẰNG


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 







(1) A la critique sterile des défauts, il faut substituer la critique féconde des beautés (Chateaubriand).




(1) Evaluer, c’est créer.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 20.09.2017
Thanh Tùng – Xanh mãi Thời hoa đỏ - Trần Mạnh Hảo 18.09.2017
Tiểu thuyết Thủy Hử theo quan điểm một học giả phương Tây - Bill Jenner 18.09.2017
Lời cảnh cáo các nhà học phiệt - Đoàn Lê Giang 08.09.2017
Dấu ấn Chủ nghĩa nhân văn của Erasmus trong tiểu thuyết Don Quixote - Linh Lan 08.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (tiếp và hết) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (1) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Lại bàn về Nguyễn Khắc Viện và sách “Việt Nam một thiên lịch sử” - Nguyễn Khắc Phê 31.08.2017
Thế giới phi lý trong tiểu thuyết đô thị miền nam 1954-1975 - Nguyễn Thị Việt Nga 27.08.2017
Thơ Phùng Cung – Lời cuối của quê - Thu Tứ 27.08.2017
xem thêm »