tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19380655
04.11.2011
Vũ Bằng
Văn Cao: Một nghệ sĩ tài hoa, có hai đầu mà không nói được

Phải rồi, cứ ăn ngay nói thẳng là hơn. Nói đến Văn Cao, ai cũng nhận là anh duyên dáng, quyến rũ người nghe chuyện từ buổi đầu gặp gỡ và có những cử chỉ mã thượng dễ làm cho các cô gái mến yêu như người ta đã yêu mến các bản nhạc Thiên Thai, Bến xuân, Suối mơ của anh lúc mới tung ra đời cũng như bây giờ người ta vẫn còn say mê khi nghe thấy tivi hay rađiô hát những bài đó “mà người ta xếp vào loại nhạc tiền chiến”.


Nhạc tiền chiến, cũng như văn tiền chiến có một lúc bị người ta “ghét muốn đào đất đổ đi”. Không hiểu “một biến cố mới gì của tư tưởng”, hay một “tréo cẳng ngỗng mới nào của trào lưu” lại xui khiến cho người ta có cảm tình với cái thứ thơ văn và nhạc già nua ấy. Coi là già, bởi vì bây giờ có một thứ nhạc, thơ và văn trẻ. Các nhà lãnh đạo “tiến bộ” muốn đưa cái thứ thơ, văn, nhạc trẻ ấy lên, đã có một lúc cấm, nhưng không cấm hẳn thơ văn, nhạc già mà không cho biết lý do gì hết. Tại vì tác giả của những thơ văn, nhạc ấy không ở phía chúng ta! Tại vì cái lối làm chính trị xưa nay vẫn buộc người ta phải thế: bất cứ cái gì của địch cũng là dở hết, không thèm dùng. Có lẽ đó cũng là một quan niệm rất hay, rất đúng, nhưng hiềm một nỗi là trong khi các nhà lãnh đạo văn hóa nước ta([1]) cấm thơ văn và nhạc tiền chiến như thế thì hàng ngày, các cụ, các quan, các ông, các bà cao cấp cứ động thở ra lời nào là sặc một mùi kháng chiến, cho rằng có dùng nhiều danh từ kháng chiến mới oai, thậm chí đến bản kêu là quốc ca vẫn cứ dùng đến một bản cũ của một anh kháng chiến!


Trong khi đó, văn kỳ thanh có kẻ lại “bơm” rằng không nên nói đến các nhạc sĩ, văn sĩ, thi sĩ của thời tiền chiến! Tôi nhận rằng nếu nhà văn, nhà thơ, nhà nhạc tiền chiến nào đó viết ra những tác phẩm có tính chất Cộng sản, đề cao chủ nghĩa Mác-Lê, mà cấm nói đến, cấm trích đăng, cấm phê bình thì không ai nói vào đâu được. Nhưng văn sĩ tiền chiến kêu là thứ “vô hại” mà cũng cấm nữa thì thực... “quá trời”.


Không biết có phải vì các nhà lãnh đạo văn hóa sáng suốt “của hôm nay” nhận thức như thế hay không mà nhạc tiền chiến lại được đưa ra in bán, sách báo lại được nói đến văn nhân thi sĩ tiền chiến - trớ trêu thay, trong số đó lại có người được liệt vào chương trình giáo khoa trung học và cao đẳng! Và đài phát thanh và tivi lại hát lại những bài tiền chiến. Âu cũng là một điểm đáng cho người ta suy nghĩ và đỡ buồn một chút là vì, trước đây, trong khi các thứ đó bị cấm đoán thì người dân ham đọc, ham học cảm thấy như các nhà văn tiền chiến không còn phải là người Việt Nam nữa và các nhà văn nhà thơ ấy mặc dầu đã góp công trình vào văn học sử Việt Nam cũng bị coi như là nước lã ra sông.


Sở dĩ tôi nói hơi dài dòng như thế là vì từ khi nhạc tiền chiến được người ta cho phép “sống lại”, đa số bạn hữu cho hay rằng người nghe nhạc - đừng nói đến lớp trẻ thích nhạc trẻ, nhạc khích động, nhạc sun (soul) - người nghe nhạc “tầm thường” vẫn còn cứ thích những bài như Gánh lúa về, Nương chiều, Suối mơ, Hòn vọng phu, Buồn tàn thu...


Chính vì lẽ đó, các nhạc sĩ tiền chiến lại được “đặt thành vấn đề” và nhạc sĩ được lưu ý nhất là Văn Cao, Đỗ Nhuận, Văn Chung... và cũng vì thế một vài tờ báo ở đây đã nhận xét Văn Cao duyên dáng, mã thượng và đáng yêu “không chỗ nói”.


Không mấy cảm tình


Muốn cho thực thành thật với lòng mình, với bạn đọc, tôi phải nói ngay rằng riêng tôi không có cảm tình nhiều với Văn Cao. Rất có thể đối với người khác, Văn Cao mã thượng duyên dáng và đáng yêu thật. Nhưng theo tôi thì bè bạn giao du với nhau một phần lớn vì cái “duyên”. Nói cho có vẻ “trẻ” một chút, ta gọi nó là “nhân điện”, cái điện của người này hợp với người kia thì thân yêu, nhường nhịn nhau, còn nếu hai cái điện ấy không hợp nhau thì lạnh lẽo, lơ là, ghét bỏ. “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng” là vì thế hay chăng?


Đối với Văn Cao, hình như hai cái điện của chúng tôi không hợp nhau mấy chút. Bảo là thất cảm tình không đúng; nhưng bảo là có cảm tình là nói “bố vờ”. Ngay lần đầu gặp Văn Cao, tôi đã dửng dưng với anh rồi. Tôi không nhớ đó là năm nào, tháng nào, nhưng đó là một buổi sáng mùa thu, trời đất xám một mầu bạc rỉ. Ở một tiệm ăn ở Hàng Buồm ra, tối hôm trước chúng tôi gặp hai anh láng cháng đi lại phía trước chúng tôi. Trần Huyền Trân và Ngọc Giao giới thiệu tôi một anh là Văn Cao và một anh là Lan Sơn. Trò chuyện mấy câu, Văn Cao hứa sẽ lại chơi “tán chuyện” với chúng tôi ở 73 phố Hàng Bông tức là trụ sở mấy tờ báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Ích Hữu, Phổ Thông Bán Nguyệt San, Truyền Bá.


Do đó, có cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Văn Cao và tôi vào buổi sáng nói trên kia. Thực ra, tôi vẫn nghe thấy các văn hữu nói đến tên anh; thêm nữa, tôi cũng đã từng chọn một số thơ của anh đăng lên Tiểu Thuyết Thứ Bảy, nhưng thơ của Văn Cao không được ai nói tới lúc bấy giờ. Ngoài ra, Văn Cao cũng có một vài truyện ngắn và kịch ngắn nữa nhưng cũng như thơ, cách kết cấu, lối diễn đạt cũng như thuật trình bày ý tưởng không có gì đặc biệt.


Lâu ngày, tôi không nhớ, nhưng hình như Văn Cao có nói về việc viết một phóng sự tả về đời sống công nhân các nhà máy ở Hải Phòng. Tôi ngỏ ý tiếc vì Tiểu Thuyết Thứ Bảy không đăng phóng sự, mà có đăng phóng sự chăng nữa thì cũng không đăng những cái gì đen tối, nặng nề quá vì Tiểu Thuyết Thứ Bảy là một tờ báo đẹp chuyên về tiểu thuyết, thơ, kịch để cho đàn bà con gái đọc. Câu chuyện quanh đi quẩn lại có thế. Uống nước và hút thuốc lá “gẫu” với nhau, lần ấy tôi được nhìn mặt mũi và dáng điệu Văn Cao - Văn Cao trẻ tuổi, Văn Cao mười tám, đôi mươi  - rất kỹ.


Anh bé nhỏ, ốm như Thâm Tâm mà cũng cao hơn Thâm Tâm một chút, da hơi tai tái. Tóc anh xòa xuống trán như một cái lưỡi trai, bơ phờ rũ xuống gần đến cặp lông mày hơi rậm, mũi cao, tiếng nói rụt rè và nhỏ. Cổ anh nhỏ và điều làm cho người ta lưu ý nhất là anh lộ hầu và mắt cũng hơi lộ nữa. Bây giờ ngồi nhớ lại buổi ban đầu trò chuyện ấy, tôi thấy Văn Cao không có một cái gì nổi bật, cho nên sau đó tôi cũng quên đi... Cho tới một ngày kia, lúc Nhật đổ bộ vào Đông Dương, tôi mới lại nghe nói đến Văn Cao hai lần nữa. Đó là lần Nghiêm Xuân Huyến báo tin cho tôi biết con gái anh sắp lấy chồng, mà người chồng đó là Văn Cao, và một lần sau khi Việt Minh “át”(1) cô Nga “giao du” với một sĩ quan Nhật bị bắn chết liền, ở Hải Phòng lại xảy ra vụ bắn Đỗ Đức Phin mà lúc đó ai cũng bảo người bắn là Văn Cao.


Nghiêm Xuân Huyến, tước hiệu là Voi Đen (vì anh ta to như một con voi mà lại đen nhay nháy) nguyên là chủ tiệm chụp hình Artistic photo ở Hàng Đàn. Tiệm này chia làm hai gian, một gian làm hình, một gian làm đồ gỗ như bàn, tủ, ghế, bình phong... Tôi đi lại thường xuyên ở nhà Voi Đen vì anh có ra một tờ tuần báo mười hai trang - tờ Rạng Đông. Sau này, lúc tôi làm Vịt Đực, đêm nào anh cũng lại nhà báo “nói phét” và sau đó một thời gian, anh ra tờ tuần báo trào phúng tên là Con Ong do Tam Lang Vũ Đình Chí chủ biên, còn trợ bút thì có Thượng Sỹ Nguyễn Đức Long, Việt Quyên Trần Văn Lượng, Côn Sinh Đỗ Mộng Ngọc, Nguyễn Quốc Ân, Nguyễn Đình Lạp... Xa nhau được ít lâu, tôi nghe thấy Nghiêm Xuân Huyến bị Nhật bắt và “xin âm dương” cho đến chết ở nhà lao. Anh em hồi đó bảo rằng anh bị Nhật giết vì nhà in của anh in truyền đơn cho Việt Minh. Cho đến bây giờ, tôi vẫn không hiểu cái vụ Nhật bắt và đánh đập tàn ác Huyến cho đến chết có liên quan gì đến vụ con gái Huyến lấy Văn Cao không, hay là Văn Cao có dính líu gì đến việc in truyền đơn đó hay không - nếu quả có in truyền đơn tại nhà in của Huyến - chỉ biết sau đó Văn Cao im lìm, không ai biết hành tung ra sao hết cho đến lúc xảy ra vụ ám sát Đỗ Đức Phin trong một tiệm hút ở Hải Phòng.


Ngay sau đó vài ngày ai cũng nói Văn Cao là người đã bắn chết Phin. Theo lời thuật của các anh em “tự nhận là biết rõ hết cả đầu đuôi chi tiết vụ này”, Văn Cao - lúc đó đã hoạt động bí mật cho Việt Minh - vào tiệm hút của Phin từ lâu và đã nghiên cứu rất kỹ càng giờ giấc và các thói quen của Đỗ Đức Phin như thế nào. Lúc ấy Phin bị coi là làm mật thám cho phát xít Nhật. Hôm xảy ra vụ ám sát, Văn Cao nằm một cái giường ngay sát giường của Phin. Đợi Phin hút xong xuôi rồi, nằm lơ mơ, Văn Cao gọi: “Phin ơi”. Phin quay lại xem có gì xảy ra thì Văn Cao nói tiếp: “Phin ơi, tao giết mày”. Bắn xong, Văn Cao đứng dậy đi ra, nhảy lên một chiếc xe đạp đi thong thả một chút rồi ở trong tiệm người ta mới hô hoán Phin bị bắn.


Một vài người khác, cũng là dân hút và cũng ở Hải Phòng lúc đó, lại nói khác đi một chút. Theo họ, Văn Cao không nằm hút ở giường cạnh Phin. Người nằm ở sau Phin là L., con một ông thư ký bưu điện. Phin hút xong, ngồi dậy ăn cái bánh xong nằm hút tiếp thì từ cầu thang, Văn Cao và một thanh niên nữa bước lên đứng chắn lối đi. L. đương nằm ngồi dậy chuẩn bị, đồng thời từ trên mái nhà có hai người nữa leo ống máng xuống đứng dự kiến và phòng ngừa những bất trắc xảy ra. Văn Cao rút túi lấy bản “cáo trạng” đọc cho Phin nghe, kể hết tội “Việt gian” của Phin. Xong xuôi, L. bắn hai phát, Phin chết liền tại chỗ.


Về cái chết của Phin, ngay hồi đó có hai giả thuyết như vậy về Văn Cao. Tuy nhiên, dù L. bắn hay Văn Cao bắn, ai cũng yên trí là Văn Cao đã thủ vai chính trong vụ này. Cái tên Văn Cao nổi bật lên từ hồi đó. Đối với các anh em văn nghệ, và có một số anh em nói cho đúng, đã lấy làm hãnh diện về điểm đó.


 


Sau ngày 19-8, tiếng của Văn Cao nổi như cồn


Đúng như thế. Một số anh em lấy làm hãnh diện về điểm đó không phải vì Văn Cao tham gia phong trào diệt phát xít, chống Pháp thực dân (vì bọn văn nghệ sĩ, nhất là nhóm Tiểu Thuyết Thứ Bảy hoạt động bí mật, tham gia phong trào rất đông và điều đó không có gì lạ hết) nhưng chính là vì lúc ấy anh em chưa mấy người thạo bắn mà có anh bắn hay như thế, ít ra cũng làm đẹp mày đẹp mặt cho bọn văn nghệ sĩ (lúc ấy vẫn còn mang lấy cái tiếng là chơi bời, nghiện hút, trói con gà không chặt!).


Sau đó, im bặt, không ai nói đến Văn Cao nữa. Kẻ trước người sau, các văn nghệ sĩ đi dần dần ra chiến khu chiến đấu gian khổ cho đến “19-8 là ngày khởi nghĩa” cả nước vùng lên mở hội, từ thôn quê đến thành thị, từ ngõ hẻm đến hang cùng, cuồn cuộn những làn sóng gớm ghê, đâu đâu cũng vang âm những tiếng hát Tiến quân caDiệt phát xít.


Diệt phát xít của Nguyễn Đình Thi được hoan nghinh vào bực nhì, chớ đến bài Tiến quân ca của Văn Cao thì có thể nói là... vô địch. Suốt ngày, suốt đêm, từ ông già đến đứa trẻ tập giọng biết nói, hết thảy đều hát “Đoàn quân Việt Nam đi chung lòng cứu quốc”. Chỉ trong một ngày, danh tiếng của Văn Cao nổi lên như cồn. Nhà thi sĩ bé nhỏ ấy, từng bắn chết Việt gian Đỗ Đức Phin, bây giờ lại thành ra một nhạc sĩ chỉ mới đưa ra sơ sơ có một bản nhạc thôi mà đã làm cho cả Âu Á đều biết tiếng.


Thực ra, bản quốc ca Tiến quân ca của Văn Cao không phải là bản nhạc đầu tiên của anh. Trước đó, anh đã từng soạn nhiều bản nhạc lúc còn làm anh thi sĩ lang thang trên vỉa hè ở thành phố Hải Phòng. Nhân bài Tiến quân ca, những nhạc phẩm ấy cũng “lên” theo: trai gái trẻ già đâu đâu cũng hát Trương Chi, Thiên thai, Suối mơ, Bến xuân, lời đã nên thơ mà nét nhạc lại mềm mại, uyển chuyển, đúng với tinh thần chuộng đẹp của người Việt Nam muôn thuở. Đài phát thanh lúc ấy hát các bản nhạc của Văn Cao suốt ngày, nghe cách mấy cũng không chán. Ở ngoài đường, ở trong nhà, ai cũng hát những bản nhạc “thần diệu của Văn Cao”. Trong các bản đó có hai bản ghi là cộng tác với Phạm Duy: Bến xuânSuối mơ. Nhưng ngôi sao của Văn Cao lúc ấy sáng chói quá làm mờ hẳn Phạm Duy đi. Thực ra theo chỗ biết của tôi, Phạm Duy nói rằng cộng tác với Văn Cao, chớ thực ra hai bài ấy đều do Văn Cao tạo nên cả, Phạm Duy chỉ góp thêm ý kiến lúc đã soạn xong và đem hai bản ấy ra hát và phổ biến, và cái công của Phạm Duy đối với Văn Cao là khéo biết trình diễn quảng bá để tạo một ảnh hưởng rộng rãi và tốt đẹp.


Về sau này, bình phẩm nhạc của Văn Cao nhiều nhà chuyên môn nhận rằng anh còn vài điểm kém về nhạc lý, nhạc điệu (sau này Văn Cao có học thêm nhạc lý ở lớp nhạc Tạ Phước, chớ lúc đầu anh soạn nhạc là do anh tự học và bắt chước ngoại quốc) nhưng dù sao hết thảy đều phải nhận anh là một người đa tài không học mà cái gì cũng biết, thêm một điểm nữa là có sáng kiến dám làm mà làm là thành công ngay. Thế là sau văn thơ, sau tài bắn, Văn Cao không nhờ trường nào huấn luyện, không nhờ thầy nào giáo huấn lại nổi tiếng lẫm liệt nữa về môn nhạc.


Nhưng chưa hết. Nếu theo các cụ ta ngày trước một người tài hoa là một người phải biết đủ cầm, kỳ, thi, họa thì ngày nay Văn Cao quả là một người tài hoa số một. Đến lúc Văn Cao nổi tiếng về nhạc và vụ ám sát Đỗ Đức Phin, người ta mới giở lại những bài thơ anh đăng tải trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy và một hai tờ báo khác, và đến lúc đó người ta mới thấy thơ Văn Cao cũng hay như nhạc của anh. Chẳng qua chỉ vì Văn Cao không quan niệm cái gì là quan trọng, không kéo bè kéo đảng để đưa nhau lên, suy tôn nhau là thi hào “lớn”, văn sĩ “lớn” nên lúc bước vào làng văn nghệ anh không được quảng cáo nhiều, do đó thơ anh bị chìm. Nhưng văn hay, thơ hay cũng như người đẹp: dù giặt lụa nơi thâm sơn cùng cốc hay sống nghèo nàn ở rừng núi thâm u, mà đẹp nghiêng nước nghiêng thành thì cũng có sứ thần của nhà vua đến triệu về để làm mẫu nghi thiên hạ; trái lại, vô tài vô sắc mà cố đút tiền cho kẻ gian thần, quảng cáo vào lỗ tai của nhà vua thì cũng chẳng ai “ngôn” tới. Thơ Văn Cao cũng như nhạc, sau thời cách mạng, được người ta đưa ra mổ xẻ, ca ngợi ầm lên, Văn Cao thành ra một thứ “sản phẩm trác tuyệt của những năm bốn mươi”. Tuy nhiên cái tài hoa của anh phát động trong mấy lãnh vực đó, hình như vẫn bị anh cho là chưa đủ. Uống rượu, phải uống cho hết cấn; Văn Cao còn đánh đàn, còn ngâm thơ, còn ca hát. Ba môn này Văn Cao chơi chỉ thường thôi, nhưng về họa thì Văn Cao tỏ ra một cái tài cũng đặc biệt lắm trong môn phái lập thể. Về điểm này, tôi là một anh mù, nhưng theo các họa sĩ lớp ấy như Lương Xuân Nhị, Tô Ngọc Vân, Tạ Tỵ, Nguyễn Đỗ Cung thì Văn Cao, tuy chỉ học có hai năm ở trường Mỹ thuật Hà Nội với tư cách là thính giả tự do, nhưng đã tỏ ra có một tài họa kỳ lạ, khó tả, hứa hẹn rất nhiều. Mấy bức họa mà anh trưng bày trong “Cuộc triển lãm độc nhất” (Salon unique) hồi 1943 bây giờ vẫn còn được anh em nói tới, nhất là bức họa Cuộc vũ của những người tự sát.


Riêng tôi, không dám phê bình gì cả. Chỉ biết rằng trong thời kháng chiến, có một lần gặp anh cùng đi với Nguyễn Hữu Đang đem tiền về chi dùng ở khu Ba, anh có cho tôi một bức vẽ Văn Cao vẽ Văn Cao. Thật là kỳ lạ: trông tranh thì xấu mà lại quái gở vì anh vẽ anh hai đầu nhưng không có miệng, nhưng không hiểu tại sao tôi thấy thích thú lạ lùng, có lẽ chỉ vì nó “lạ” mà lại ngụ nhiều ý nghĩa rất thú vị, đối với tôi.


Hai Văn Cao giết lẫn nhau


Dù sao, tôi cũng cứ phải nhận rằng cho đến giữa cái thời kỳ tôi tâm phục Văn Cao, tôi cũng vẫn không thể nào có cảm tình đặc biệt với anh. Ở giữa chúng tôi, hình như vẫn có một tấm màn sương mù lạnh lẽo ngăn cản sự cởi mở, sự thân tình triệt để: phục là một việc mà yêu lại là một việc khác. Có lẽ đúng là tại hai cái nhân điện của chúng tôi không hợp nhau vì cùng một loại, mà muốn cho hai cái điện nảy lửa thì cần phải tương phản, một âm một dương, chứ cùng âm cả hay cùng dương cả thì không gây được xúc động mạnh mà người ta mong đợi.


Đến lúc ấy, để ý và suy nghĩ về Văn Cao kỹ hơn, tôi thấy anh là một thứ văn nghệ sĩ đầy mâu thuẫn: cái gì cũng muốn “tri”, cái gì cũng muốn “hành”, nhưng “hành” và “tri” rồi thì bỏ liền để bước sang lãnh vực khác mà anh ngờ là sẽ đem lại cho anh nhiều thỏa mãn hơn cho con tim và trí óc. Nói một cách khác, anh là một thứ người tò mò, không hề có ý muốn làm thứ người trác tuyệt, nhưng luôn luôn muốn tìm biết, tìm hiểu cuộc đời, tìm cách sống nào cho thật đầy đủ, thật vội vàng, nhưng thật thú vị và thỏa mãn.


Có những người tôi quen, sống một thiếu thời túng thiếu, đói khổ, gian nan, cực nhục, đến lúc danh bắt đầu tạm đạt, đời sống vật chất tạm yên thì yêu đời một cách lạ lùng, tiếc nuối từng phút quang ấm bay đi mau lẹ quá, thậm chí ngủ cũng tiếc thì giờ, chỉ muốn thức để mà tận hưởng cuộc sống, để mà học hỏi, để mà làm việc. Có lúc tôi nghĩ Văn Cao có lẽ cũng thuộc vào hạng người đó, chưa học xong cái này đã học tới cái kia, vừa bước vào lãnh vực này đã nghĩ cách đi sang lãnh vực khác.


Một người như thế quả là một thứ người lang thang, một thứ người Bohémiens về cả vật chất lẫn tinh thần. Bắt những người như thế cố định một nơi và bắt theo những kỷ luật khắc khổ, tức là ám sát họ. Vì vậy, ở khu Ba, tôi tức cười và cũng tức giận luôn những cú chê Văn Cao lãng mạn và trác táng, muốn cho Văn Cao, với cái tài đa diện ấy, phải sống một cuộc đời kiểu mẫu ngăn nắp để làm một thứ thần tượng cho người khác nhìn vào đó mà thờ phụng. Không hiểu những người nghĩ như thế thì có lúc nào họ nghĩ rằng họ ích kỷ không? Họ muốn Văn Cao phải thế này, thế nọ nhưng có lúc nào họ nhớ rằng Văn Cao từ thuở nhỏ sống ở vỉa hè hải cảng, đến chiều về chui rúc trong một cái nhà máy hút nước suốt ngày có tiếng kêu o o, ầm ầm như muốn xé “con ráy”, làm điên cả đầu, lớn lên thì phiêu bạt giang hồ nay chỗ này mai chỗ khác, Văn Cao khổ cực như thế mà lại còn không muốn cho anh ta được hưởng một chút - một chút thôi - cái hương vị của đời nữa sao?


Phàm tôi không lấy làm lạ một người như thế thấy cái gì cũng thích, thấy thú vui gì cũng ham. Thực vậy, Văn Cao ham thích bất cứ thú vui nào đến trước anh: thuốc phiện hút dăm chục điếu, rượu uống vài ba chai, cờ bạc không chê, trai gái lại càng ưa quá, nhưng về thứ giải phiền chót này, Văn Cao có một điểm đặc biệt mà riêng nhạc sĩ Phạm Duy biết rõ.


Văn Cao, một nghệ sĩ tên tuổi được cả nước kinh hướng, được bao nhiêu thiếu nữ mến yêu tìm gặp, lại là một anh chàng nhút nhát hết sức với những người chưa quen biết, nhất là với đàn bà, con gái. Tính nhút nhát ấy nhiều khi tiến tới một cái độ gần như gàn dở. Phạm Duy thuật lại rằng hồi anh sống với Văn Cao ở Hải Phòng và Hà Nội, có nhiều lần có nhiều thiếu nữ yểu điệu, diễm kiều tìm đến anh để cùng anh nói chuyện “xây nhà bên suối”, “nghe suối róc rách trôi” và nhìn ra “đàn nai vàng đùa trong ánh nắng vàng tươi” nhưng Văn Cao... sợ, không nói được ra lời, thậm chí không dám nhận mình là... Văn Cao nữa!


Về điểm này, Phạm Duy cho rằng có lẽ tại Văn Cao muốn nuôi cái “thần tượng Văn Cao” chớ không muốn để cho chính mình lại trông thấy mình... vỡ mộng.


Có lẽ cũng một phần tại thế mà có một số người khác chê Văn Cao sống rất thực tế trong cảnh nghèo khổ túng đói ở Hải Phòng, Hà Nội mà lại mâu thuẫn đến cái độ không thực tế một ly trong đời sống tinh thần.


Trên kia tôi đã nói về bức họa của Văn Cao cho tôi do Văn Cao vẽ Văn Cao có hai đầu mà không có miệng. Tôi thích bức họa đó lạ lùng có lẽ tại vì tôi, đối với riêng tôi, thấy có một ý nghĩa lạ lùng hợp với ý nghĩ của nhiều người nói trên. Tôi thấy quả là có hai Văn Cao thực: một Văn Cao nghệ sĩ và một Văn Cao xã hội. Văn Cao theo chủ nghĩa xã hội, ở vào thành phần của anh, không có gì lạ, tôi không dám lạm bàn, nhưng tôi cũng như nhiều bạn bè cũ, có lúc thành thực tiếc rằng hai con người ấy đã trộn lộn vào nhau mật thiết quá, làm cho “Văn Cao xã hội” đã thui chột mất “Văn Cao văn nghệ”, và cũng chính vì thế mà anh đã phải sống những giờ khó khăn, gay gắt trong thời kỳ kháng chiến.


“Con người văn nghệ” của Văn Cao bị đè nén thỉnh thoảng lại vùng lên làm cách mạng với “con người xã hội”, cuộc đời anh vì thế là một cuộc chiến đấu cam go, một mặt thì vẫn phải theo kỷ luật, một mặt thì lại muốn sống hoàn toàn tự do, hoàn toàn cởi mở, không bị cái gì kềm chế. Cuộc chiến đấu ấy sẽ còn kéo dài mãi mãi nếu vào khoảng 1950-1951, không có những anh em cực đoan quá chèn ếm Văn Cao, liệt Văn Cao vào cái hạng người không có nhiệt tình với cách mạng, không tận tụy trung thành với chủ nghĩa Mác Lê. Đó là hồi ở Đại Từ, Văn Cao bắt đầu không được trọng dụng nữa vì có những người ‘tố” anh hủ hóa, vô kỷ luật và báo cáo Văn Cao có những hành động phản cách mạng như chơi bời, chè rượu, hút sách. Thậm chí Văn Cao có một cái thú là quấn thuốc lá Cẩm Lệ hay thuốc “sừng bò” rất dài, dài quá khổ để hút, họ cũng cho là “không được” và đề nghị phải có “một thái độ dứt khoát và nghiêm chỉnh” với anh.


Nhưng bao nhiêu chèn ép, mánh khóe “chơi” nhà văn đều không đi tới đâu hết là vì các lãnh đạo hiểu biết đều cho rằng cái con người văn nghệ ấy không có tội tình gì hết, mà ví có tội thật “thì cũng chẳng nên động đến anh vì riêng một cái việc làm bài quốc ca cũng đủ kể là một cái công lớn với kháng chiến rồi, nếu đưa anh ra phạt và hạ công tác thì thế giới họ làm rùm beng lên và cho rằng kháng chiến vắt cam rồi bỏ vỏ, tai tiếng bao giờ nhòa được”. Vì thế, chính giữa lúc kháng chiến chống Pháp hăng say, toàn dân nhịn đói chiến đấu và tự bắt buộc phải bỏ hết mọi xa xỉ lãng phí, bỏ hết các thú vui dù là rất rẻ tiền, bỏ hết các ham mê để nhốt mình vào kỷ luật, Văn Cao vẫn cứ uống rượu, hút thuốc phiện, sống một cuộc sống tự do theo ý muốn, nhưng dù sao thì cái buồn cũng đã gậm nhấm tim óc Văn Cao rồi. Không hiểu năm nay cũng vào khoảng bốn mươi chín, năm mươi tuổi rồi, Văn Cao có còn phần nào sự lanh lẹn và tinh thần ham học, ham sống nữa không? Chỉ biết rằng từ khi ở Vĩnh Yên từ biệt nhau lần chót để về Hà Nội, cho đến nay, tôi ít nghe thấy nói về sáng tác của Văn Cao. Có người lại bảo anh không sáng tác nữa cả về thơ, nhạc và cả họa.


Chẳng biết những lời đồn ấy có đúng không? Riêng tôi, nhớ đến Văn Cao ở ngoài kia mà lại gặp Phạm Duy trong này, thỉnh thoảng tôi ưa nghĩ rằng Văn Cao gặp hoàn cảnh thuận tiện như Phạm Duy, có lẽ công việc trước tác của anh đến bây giờ vẫn phồn thịnh, bằng Phạm Duy hay hơn Phạm Duy chưa biết chừng.


Hoàn cảnh không thuận lợi là một yếu tố hại Văn Cao. Sự thành công sớm quá cũng làm cho Văn Cao bất lợi. Cái nghèo túng là yếu tố thứ ba làm cho Văn Cao không vượt được lên. Một người như anh mà có hoàn cảnh thuận lợi, có tư cách để học hỏi thêm, để trau dồi thêm cái tài Trời cho để đem áp dụng cái thông minh vào các ngành văn nghệ thì sự hứa hẹn còn to lớn không biết bao nhiêu, chớ đâu chỉ có quy vào có mấy tác phẩm như Trường ca sông Lô, Ngày mùa... tương đối ít so với Phạm Duy, Đỗ Nhuận, Văn Chung.


Đó là một sự thiệt thòi cho văn nghệ nước ta... Nhưng biết làm sao được? Cái đẹp nhiều khi nó nở lộng lẫy như hoa hồng chỉ một buổi sáng rồi tàn như thế đấy; nhưng hãy thận trọng mà nghe, hỏi những người yêu hoa vì có những loài hoa kỳ lạ lắm, nhiều khi chỉ vào những lúc sắp tàn lại trở lại đẹp một cách ác liệt và tiết ra một mùi kỳ ảo mê ly hết sức.


Phải rồi... Biết đâu đấy ạ, Văn Cao!


 


Văn Học số 114 (1-11-1970)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. Tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








1 Chỉ những người lãnh đạo văn hóa trong chế độ Ngụy ở Sài Gòn năm 1970-1971 - (NBS).




2 Tức là ám sát – (NBT).



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nói có sách (2) - Vũ Bằng 29.05.2017
Nguồn gốc người Việt - người Mường: Nước Xích Quỷ - Tạ Đức 21.05.2017
Nói có sách (1) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (6) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (5) - Vũ Bằng 18.05.2017
OIJ chấm dứt hoạt động, sự nghiệp OIJ trường tồn - Phan Quang 17.05.2017
Ký ức tháng Tư - Trần Đăng Khoa 02.05.2017
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
xem thêm »