tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21047013
31.10.2011
Vũ Bằng
Song An Hoàng Ngọc Phách, người của một cuốn sách

“Tôi sợ người của một cuốn sách”. Bây giờ, tôi cũng chẳng còn nhớ ai đã nói lên câu nói ý vị đó, nhưng cứ mỗi khi đọc lại bài thơ Lòng ta chôn một khối tình của thi sĩ Arvers, hay có lúc nào chợt nhớ đến tập Essais của Montaigne thì tôi lại tự nhủ “cái ông nào nói lên câu ấy thật là chí lý”. Thì ra người văn nghệ sĩ có cần gì phải viết nhiều đâu mà người đọc sách có cần gì phải đọc lắm đâu. Có khi đọc sách mà chỉ đọc một quyển như Ẩm Băng(1) rồi nghiền ngẫm học tập và suy tư, người ta cũng có thể trở nên một người thông suốt, mà viết văn, làm thơ, cứ gì phải trước tác cho nhiều, tham bác cho lắm, chỉ một cuốn sách, một bài thơ cũng có thể lưu truyền hậu thế, truyền tụng hết đời nọ đến đời kia. Thi sĩ Arvers và nhà thông thái Montaigne chính là những người “của một bài thơ, một cuốn sách” nói trên kia vậy.


Trái lại, có những nhà tiểu thuyết, nhà văn trước tác rất nhiều mà qua một thời gian, không còn được ai nhắc tới. Tôi không nói những nhà văn “bất đắc dĩ”, những nhà văn không có tiếng tăm. Văn học sử thế giới còn ghi lại rất nhiều văn gia, tiểu thuyết nổi tiếng một thời được thiên hạ tranh nhau tìm đọc, ra cuốn sách nào đều bán chạy như tôm tươi giữa chợ, ấy thế mà qua một thời gian bị chìm dần, chìm dần rồi rơi vào cái hố lãng quên để rồi kết cục không còn được ai nói tới. Điển hình cho loại văn gia, tiểu thuyết này, ta có thể kể ra đây Paul de Kock.


Sinh năm 1793, mất năm 1871, Paul de Kock là con trai của một chủ ngân hàng Hòa Lan bị xử tử vì tham gia phong trào cách mạng. Năm mười bảy tuổi, Paul de Kock bắt đầu nổi tiếng ngay với cuốn tiểu thuyết hồi ký đầu tiên nhan đề là Con của vợ tôi (L’enfant de ma femme). Cuốn sách ấy, tự ông bỏ tiền ra in lấy và tự phát hành. Được cái đà, Paul de Kock lần lượt xuất bản hàng trăm cuốn tiểu thuyết khác, cuốn nào đọc cũng say mê mà không phải chỉ có bình dân tranh nhau mua đọc. Người ta kể chuyện rằng các vị vua chúa thời đó như vua Đan Mạch, các tướng tá cao cấp Na Uy, Thụy Điển… cũng đều say mê các truyện của ông, nhất là mấy tiểu thuyết như Cô ả bán sữa ở Montfermeil, Người mọc sừng, Cô ả tứ thời ở Belleville… Ấy vậy mà nhà tiểu thuyết lừng lẫy tiếng tăm đó chỉ sáng chói được một thời kỳ rất ngắn rồi bị quên đi để đến bây giờ có lẽ không còn được ai nhớ tới, trong khi Arvers chỉ viết có một bài thơ:


Lòng ta chôn một khối tình


Tình trong giây lát mà thành thiên thu


Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu


Mà người gieo thảm như hầu không hay.


Mà đến bây giờ vẫn còn được ghi tên vào văn học sử và được người đời nhắc nhở luôn mỗi khi thở dài ôn lại một mối tình tuyệt vọng.


Song An, ông là ai?


Trong cái rừng văn chương tương đối rậm rạp có trăm ngàn bông hoa đua nở, sản xuất ra những nhà văn viết đủ các loại truyện, thể văn, lão thành như Trọng Khiêm Cấn Vũ Ích, tác giả tiểu thuyết nổi tiếng một thời như Kim Anh lệ sử, trẻ trung như Văn Thu, tác giả không biết bao nhiêu truyện ngắn, truyện trinh thám, truyện gián điệp, truyện võ hiệp, truyện lịch sử như Đảng Hắc Long, Hóa Châu nghĩa sĩ… Song An Hoàng Ngọc Phách chính là một thứ văn gia tiểu thuyết “của một cuốn sách” trong văn học sử nước ta.


Song An là ai? Nói đến ông, người nào cũng phải nhớ ngay đến một cuốn truyện nhan đề là Tố Tâm và ai cũng biết ông chỉ trước tác có một cuốn truyện đó mà thôi. Thực ra, Song An Hoàng Ngọc Phách chỉ viết có một cuốn truyện Tố Tâm, nhưng ngoài sách đó ông còn viết một cuốn nữa như Thời thế và văn chương(1) dường như luận về nền giáo dục, do nhà Đời Mới hay Cộng Lực ở Hà Nội xuất bản nhưng không có mấy ai nhớ tới. Cuốn sách này cũng ký là Song An Hoàng Ngọc Phách. Sau này, trên tờ báo Đông Tây do Hoàng Tích Chu làm chủ nhiệm và Lãng Nhân Phùng Tất Đắc làm chủ bút, Song An Hoàng Ngọc Phách cũng có viết vài ba truyện ngắn nhưng không ký tên thực mà lấy một biệt hiệu khác: Hoàng Tùng. Nhiều người đọc những truyện ngắn như Gò cô Mít hay Cô chị dắt cô em đăng tám cột trang 2 báo Đông Tây lúc đó tưởng đâu Hoàng Tùng là một nhà văn mới, một cây bút trẻ, chớ không biết rằng Hoàng Tùng là Song An Hoàng Phách, tác giả cuốn tiểu thuyết Tố Tâm bất hủ.


Tôi sở dĩ được biết bí mật đó là vì hồi ấy tôi có cái hân hạnh được ông Phùng Tất Đắc đưa vào viết mục “Bút mới” và “Cuốn phim” trên báo Đông Tây, và cũng chính vì lẽ được biết hai ông Hoàng Tích Chu và Lãng Nhân Phùng Tất Đắc mà tôi được diện kiến Song An Hoàng Ngọc Phách hai lần ở trụ sở báo Đông Tây tại 12 phố Nhà Thờ (Lamblot) Hà Nội.


Tôi được biết Song An Hoàng Ngọc Phách là Hoàng Tùng, tác giả các truyện Gò cô Mít, Cô chị dắt cô em cũng nhân dịp đó và bây giờ mỗi khi nhớ đến Hoàng Ngọc Phách, ngoài truyện Tố Tâm ra, tôi hãy còn nhớ truyện vừa vừa Gò cô Mít làm cho tôi khâm phục vì cách trình bày mới lạ và giọng văn trong sáng, ngây thơ, thành thực, chưa từng thấy lúc bấy giờ.


Truyện Gò cô Mít chia làm hai phần: một phần trình bày nhân vật và một phần kể chuyện. Truyện rất bình thường, tả một mối tình tuyệt vọng ở thôn quê. Thoạt tiên tác giả giới thiệu thành phần xã hội, tâm tình và tính nết của mỗi nhân vật, theo kiểu một nhà đạo diễn giới thiệu các diễn viên; sau đó, các nhân vật vào truyện. Cô Mít yêu một chàng trai, hai người gặp nhau bẽn lẽn, e lệ dưới bụi hoa dâm bụt và thề núi hẹn sông. Nhưng số kiếp chẳng may, cha mẹ cô Mít lại nhận lời gả cô cho một ông chánh tổng hay lý trưởng gì đó: cô tuyệt vọng. Cặp trai gái ra bờ rào dâm bụt khóc với nhau một chút rồi hẹn một đêm trèo lên một cái gò để vĩnh biệt nhau. Họ đem theo hai cái chén, một bình rượu nhỏ ra ngồi trên cái mả, khóc với nhau rồi uống thật say, rồi đập chai rượu ra, lấy mảnh chai cùng cứa cổ chết. Hồn họ oan ức không siêu thoát được cứ phảng phất chung quanh đó. Nhiều đứa trẻ chăn trâu quả quyết trông thấy cô Mít hiện lên đi lại trên gò. Người làng lập đền thờ, kêu gò ấy là gò cô Mít và truyền tụng rằng những đêm tối trời, nhất là những đêm lất phất mưa phùn, cô Mít vẫn hiện lên và bưng mặt khóc, nghe ai oán lắm…


Vào thời đó, Gò cô Mít được coi là một truyện mới và hay, nhưng cũng như truyện Cô chị dắt cô em chỉ được người ta bàn tán rất ít rồi thôi. Nói tới Song An Hoàng Ngọc Phách, người ta chỉ biết có một truyện, một cuốn sách tức là Tố Tâm.


Tại sao thiên hạ lại mê truyện Tố Tâm?


Thế thì tại sao truyện Tố Tâm lại được thiên hạ lưu ý và tìm đọc say sưa như vậy? Thực ra, tình tiết truyện Tố Tâm không lạ mà lời văn cũng như các câu đối thoại trong truyện cũng không có gì mới lắm - so với bây giờ - nhưng phải đặt mình vào làng báo làng văn của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ ta mới có thể quan niệm được tất cả cái kỳ lạ của một cuốn truyện như cuốn truyện Tố Tâm đối với tâm hồn người đọc lúc bấy giờ ra sao. Quả là như một trái bom nổ giữa khung trời tình cảm. Nguyên xã hội ta từ 1914-1915 trở về trước chỉ mới là ở trong giai đoạn đầu của chế độ bảo hộ của thực dân Pháp: các cụ vẫn hăng say chống Pháp. Sau đó công cuộc chống Pháp tiếp tục nhưng âm ỉ, trong khi đó thì tâm hồn và tình cảm của ta chuyển mình: biết rằng ta không thể chống Pháp bằng võ khí, ta chiến đấu bằng văn hóa và chấp nhận nền văn minh của Âu Tây. Thanh niên bắt đầu tìm học, tìm hiểu cái tinh hoa Âu Tây. Cùng lúc đó, cảm xúc, tâm hồn của người Việt Nam - nhất là thanh niên cũng chuyển mình mà chính người trong cuộc nhiều khi không biết. Sự suy tư, tự cảm nghĩ cộng với bao nhiêu quan niệm cũ thay đổi dần một cách nhẹ nhàng, mà rõ rệt nhất là quan niệm về sự yêu thương và hạnh phúc, về đời sống tinh thần của mỗi người. Trai gái muốn phá xiềng xích gia đình trói buộc con người lại nhưng chưa dám, thì chính lúc đó Tố Tâm ra đời nói lên sự đau đớn của con tim bị áp bức và thiết tha đòi một cách gián tiếp quyền sống cho những tâm hồn đói khát tự do và yêu thương. Đó là cái tâm sự u ẩn của muôn đời nghìn kiếp, còn bất công xã hội thì còn áp bức, còn đè nén; còn đè nén thì con tim của người ta vẫn kêu thương; vì thế những người đọcTố Tâm đều thấy mình hoặc ở trong Tố Tâm hoặc ở trong Đạm Thủy, và cũng vì thế người nào cũng coi Tố Tâm là chuyện của chính mình và sau này vẫn đầy rẫy những người tin như thế. Chính vì thế ngay khi ra đời, Tố Tâm được hoan nghênh đáo để và cũng chính vì thế, có nhiều bà, nhiều cô bây giờ vẫn tìm Tố Tâm để đọc mà vẫn thấy hay, vẫn thấy câu chuyện buồn thảm đó đi sâu vào trí óc, tâm trí của mình.


Riêng một sự việc đó thôi cũng đủ làm cho Tố Tâm thành một cuốn sách bán chạy nhất lúc bấy giờ, nhưng Tố Tâm còn một yếu tố khác để làm cho chạy nữa. Không hiểu vì tình cờ hay là vì một chiến thuật của một nhân tài nào, ngay lúc sách ra đời được ít lâu, người ta lại tung ra trong xã hội Bắc Việt hồi đó một truyền thuyết về cuốn truyện.


Nguyên ở Hà Nội lúc đó, tại số nhà 52 phố Hàng Ngang có hai chị em kia đẹp nõn nà, đẹp cao quý, đẹp rất ư lịch sự, nổi tiếng là “hoa khôi Hà Nội”. Không biết thực hư thế nào, đại đa số thanh niên quả quyết là nàng Tố Tâm đau khổ chính là cô hoa khôi chị, thành ra, ngoài cái hay của truyện, người đọc lại thấy Tố Tâm là một tiểu thuyết sống, tiểu thuyết có thực, khả dĩ làm thỏa được trí tò mò của người đọc xưa nay bao giờ cũng hiếu kỳ. Người đọc truyện thương cho nhân vật trong truyện, thương cho mình, lại thương luôn cho cả người đẹp ở Hàng Ngang nữa: thương một lúc nhiều đến như thế, người ta không lấy làm lạ khi Tố Tâm ra đời, trai gái - nhất là các cô gái cập kê - khóc sướt mướt, khóc âm thầm, khóc tấm tức và một làn không khí yếm thế, chán đời, muốn quyên sinh bao phủ khung trời tình cảm của thanh niên nam nữ.


Đã lâu lắm, tôi đọc thấy trong báo cũ của Pháp hai bài hát: một bài nói về bản nhạc Ngày chủ nhật buồn (Sombre dimanche) và một nói về vở kịch Chatterton(1) của Alfred de Vigny. Khi bản nhạc Sombre dimanche ra đời, theo bài báo, các cô thiếu nữ chán đời uống thuốc ngủ tự tử vô số kể, còn về vở kịch Chatterton thì các cô các cậu xem về, chán đời không chỗ nói cũng tự tử dây chuyền. Cuốn tiểu thuyết Tố Tâm làm cho trai gái chán nản sự sống, có một ao ước bộ da xanh mét và mơ được đau ngực và mắc bệnh thổ huyết để “tạ lòng” người tình không được trăm năm đầu bạc, sống một mối tình “đẹp như tuyết núi trăng thu”.


Có lẽ ông Song An Hoàng Ngọc Phách cũng không biết tác phẩm của mình lại có thể gây ra những tai ương cho thanh niên thiếu nữ lúc bấy giờ như thế, nhưng qua những lời văn ông viết ở đầu cuốn truyện hồi tháng Tám năm 1922(2) thì chính ông cũng dường như cảm thấy sách của mình ra đời có thể là “một sự việc không lành”. Có lẽ vì thế ông đã rào trước đón sau lúc đưa in cuốn sách để gián tiếp cảnh cáo những người đọc truyện Tố Tâm!


Nguyên do những lúc có văn chương tư tưởng như vậy, bên cạnh cái hy vọng to lớn về việc công ích, thường vẫn hay mơ màng những cảnh tuyệt vời của ái tình, cố tìm cho được một người cùng mình mà đi tới những cảnh mơ màng ấy, không nghĩ cho rằng phàm những cảnh viển vông phảng phất tự ta mơ tưởng đường đời cũng như giọt sương buổi sáng, lóng lánh trên ngọn cây, như ánh nắng buổi chiều thướt tha trên đỉnh núi, xa trông thì đẹp lạ thường, mơ tìm đến tận nơi thì tan đi hết, không còn thấy gì là đẹp nữa, cho nên lúc hai người nam nữ rủ nhau mơ màng đi tìm những cảnh ấy, chợt gặp một quãng gai góc đầy đường, dễ lầm lạc lối, hoặc vì lứa đôi trắc trở với người biết trước, hoặc vì duyên nài phận ép với người đến sau, mà ra đời khoảng 1924-1925 cùng tạo nên một ảnh hưởng tương tự nhưng trong một phạm vi nhỏ hẹp và kín đáo hơn. Điển hình cho ảnh hưởng chán đời, cho ảnh hưởng phục vụ tự do cá nhân do Tố Tâm đã tạo nên, riêng tôi được biết vụ cô Đinh Thị Tuyết Hồng (dòng nhà thi sĩ Đinh Hùng) tự trầm ở hồ Trúc Bạch sau khi lấy chồng là anh V.A.Đ. (em ruột một nhiếp ảnh gia nổi tiếng). Cái chết của cô Tuyết Hồng rập theo đúng như in cái chết của Tố Tâm: yêu một người âu sầu héo hắt đi. Duy hai đàng khác nhau một chút: Tố Tâm chết vì chứng thổ huyết, còn Tuyết Hồng thì chết vì một cái chết tự mình tạo ra - nhưng chung quy cũng chỉ là “chết vì hai chữ ái tình” như Tố Tâm đã viết cho Đạm Thủy trong bức thư cuối cùng, bắt đầu bằng một câu thê thảm y như Tuyết Hồng lệ sử trong bức thư Lê Ảnh vĩnh biệt Mộng Hà:


“Anh Đạm Thủy ơi, em không thể sống được nữa, đã đến lúc từ trần rồi. Em ho ra nhiều huyết quá. Thôi mấy dòng không thành chữ này là em chào anh đây. Em chào anh, chào cả văn chương tư tưởng, chào cả non nước cỏ cây…”.


Ngoài cái chết của Tuyết Hồng còn bao nhiêu thiếu nữ chán đời khác mà người ta không biết vì không đăng lên báo?


Tựu trung, có thể nói rằng tiểu thuyết Tố Tâm lúc mới ra đời đã tạo nên một phong trào kỳ lạ: phong trào đi tìm tự do cá nhân, nhưng tranh đấu tiêu cực, chưa thấy tự do đâu đã thấy cái chết kề bên. Thiếu nữ yêu đương không lấy được người lý tưởng cho diễn nên bi kịch, bởi một nỗi tính tình không hợp với người đến sau đó, hay lòng đã đem gửi đi cho người biết trước kia rồi, không lấy lại được nữa nên thất vọng, ngã lòng, điều đau đớn đem ngay đến.


Song An Hoàng Ngọc Phách cố trình bày, cố viện lý lẽ để chứng minh rằng ông phân tách tâm lý thanh niên, trưng ra các u ẩn của tâm tình để cho các nhà đạo đức, bác học tìm phương bổ cứu, nhưng vô ích, cũng như bạn ông viết ở đầu sách mấy câu này, mà thực tình suy xét thì cũng vô ích luôn!


“… Nhưng tác giả vẫn có ý ngần ngại, một là ông không muốn xuất bản tiểu thuyết như ta thường thấy hàng ngày, hai là ông cho rằng truyện Tố Tâm ra đời khí sớm quá, lại viết theo một thể mới, ta chưa từng xem quen, tất cả người hiểu nhầm thì cái hay chưa thấy đâu, đã thấy cái dở…”.


Quả như ông lo sợ, truyện Tố Tâm ra đời, đã đánh dấu một cách mạng trong làng văn về tư tưởng, về lối viết, nhưng ta không thể không nhận nó đã tạo nên một phong trào không hay cho thanh niên lúc bấy giờ - nhưng biết làm sao được? Bao giờ trong những buổi giao thời lại chẳng có những con vật bị hy sinh? Bao giờ lại chẳng có những người chết oan uổng vì những chuyển mình của thời thế, của văn minh, văn hóa? Cái dở ấy là một cái “dở” cần thiết, dù ở dưới khung trời nào, ở bất cứ nước nào trên trái đất cũng không tránh được.


Song An Hoàng Ngọc Phách tạo nên truyện Tố Tâm trong trường hợp nào?


Đúng như mấy lời “vào truyện”, Song An Hoàng Ngọc Phách đã thai nghén truyện Tố Tâm từ lúc hãy còn ở trường đại học(1). Mặc dầu ông là một người hiền lành, đạo đức lúc bấy giờ, nhưng không ai cấm được ông cũng bị một hình bóng người đẹp cám dỗ, và cũng như hầu hết các văn nhân thi sĩ, “người đẹp lý tưởng ấy” đã ám ảnh ông và là cái nguồn gốc cho “yên sĩ phi lý thuần”(1) của ông. Người đẹp ấy, theo lời các anh em thân của ông kể lại, chính là hoa khôi ở 52 phố Hàng Ngang (trong truyện ông nói chệch ra là số 58 và không đề tên phố). Không ai biết ông đã có lần nào dám thổ lộ mối tình ấy với người đẹp hay không, nhưng có nhiều phần chắc chắn ông đã viết Tố Tâm trong lúc tâm hồn hướng về người đẹp ấy, lấy người đẹp làm một nhân vật sống để viết nên câu chuyện hận tình, sầu thảm. Sau khi học xong ở trường Cao đẳng Sư phạm rồi, Hoàng Ngọc Phách về dạy học trường Thành Chung ở Nam Định (trường này sau chuyển từ đường Brierè de l’Isle sang đường Cửa Đông). Trước thời kỳ này, chưa có cô giáo, các ông giáo đảm trách nhiệm vụ dạy dỗ cả các nữ sinh. Từ lúc Hoàng Ngọc Phách về Nam Định, mới có các nữ giáo viên như cô giáo Định, cô Trinh Thị Thục Viên. Về phần nam giáo viên, chúng tôi còn nhớ có Hoàng Ngọc Phách, Mai Phương, ông Doãn, ông Tập… Nam giáo sư dạy một trường, còn nữ giáo viên dạy trường tiểu học, sớm tối gặp nhau. Vì thế, do một người em cô giáo Định là anh Thượng Sỹ Nguyễn Đức Long, chúng tôi được biết rằng Hoàng Ngọc Phách, sau những giờ dạy học đã viết hết cuốn Tố Tâm.


Bản thảo sách này viết trên những cuốn vở học trò (paladium) cắt xén cẩn thận, mỗi tờ giấy chỉ viết có một nửa, theo hàng dọc, còn một nửa để trắng nhằm hai mục đích: một là để cho tác giả sửa chữa lời văn sang bên cạnh, hai là để cho bạn bè ghi chú những cảm nghĩ hay đề nghị. Là vì Hoàng Ngọc Phách là người rất cẩn thận: viết xong truyện Tố Tâm rồi, ông không dám tin ở mình, đưa bản thảo cho các bạn thân coi và nhờ cho biết cảm nghĩ hay đánh dấu những đoạn nào cần sửa chữa hay hủy bỏ.


Trong số các bạn đọc trước truyện Tố Tâm người ta biết chắc chắn có ba người: một người bạn cùng học trường Cao đẳng Sư phạm với ông là Lê Hữu Phúc và hai giáo viên là giáo sư Mai Phương và cô giáo Định. Chính bà Hoàng Ngọc Phách không biết gì về cuốn đó: bà là một người đàn bà cũ, buôn hàng tấm ở chợ Rồng để giúp đỡ chồng và chỉ biết buôn bán mà thôi.


Thực ra Tố Tâm không phải in ngay thành sách. Thoạt đầu, trước khi sửa chữa lại, truyện này đăng từng kỳ vào kỷ yếu của hội Cao đẳng Ái hữu, nhưng viết chưa hết, vừa lúc đó, tập kỷ yếu ngưng xuất bản, truyện đang in đành bỏ dở. Mãi đến lúc ông về dạy học ở Nam Định, ông mới viết tiếp hết và sửa chữa những đoạn đã đăng trong kỷ yếu.


Bây giờ, tôi không còn nhớ rõ lắm nhưng dường như ấn bản đầu tiên truyện Tố Tâm do Nam Ký in và phát hành, sách trình bày đơn giản, khổ tiểu thuyết thông thường, không có vẽ, không có phù hiệu, bìa trắng, in hai chữ Tố Tâm màu đỏ. Ngay lúc phát hành có một vài thức giả chê trách, trong số đó có Lương Đường Phạm Quỳnh nhưng đại đa số thanh niên thì tán thưởng, hoan nghênh và được coi như là “sách gối đầu giường” của các cô thiếu nữ đa sầu đa cảm, như trên kia đã nói.


Sau Tố Tâm, Hoàng Ngọc Phách yên phận với nghề dạy học


Theo những chỗ biết của tôi, Hoàng Ngọc Phách không hề lên tiếng về những lời tán thưởng hay chê trách tác phẩm của ông. Ông Phách sống một cuộc đời được coi như là kín đáo, yên phận với nghề dạy học và mặc dù có nhiều anh em thúc giục, ông không viết thêm cuốn gì khác nữa. Có người bảo là tại ông không được khỏe vì nghề dạy học đã làm hại hai lá phổi của ông, nhưng cũng có người cho rằng ông run sợ trước vinh quang của sự thành công rực rỡ của tác phẩm đầu tiên, không dám viết cuốn thứ hai, vì e rằng cuốn thứ hai, thứ ba sẽ làm hại đến tiếng tăm tác phẩm đầu tay của ông là tiểu thuyết Tố Tâm. Hoàng Ngọc Phách cũng không hề thổ lộ cho ai biết lý do tại sao “treo bút”. Mãi đến tận lúc ông Hoàng Tích Chu ra tuần báo Đông Tây (sau này báo ấy xuất bản hàng ngày), Hoàng Ngọc Phách mới lại viết vài ba truyện ngắn, truyện vừa vừa như Gò cô MítCô chị dắt cô em nhưng, như trên đã nói, không ký tên thật là Song An Hoàng Ngọc Phách nữa mà ký một biệt hiệu khác là Hoàng Tùng. Ông Phách trở lại làng văn bút như thế là vì cái nghiệp buộc ông nhớ đến nghề, cũng như các người khất thực ở miền Trung muốn đi làm ăn ở đâu cũng vậy, lâu lâu cũng phải về quê hương bản quán để lễ tổ một lần. Hay là ông viết vì cảm tình riêng với hai ông Hoàng Tích Chu và Phùng Tất Đắc? Hoặc là vì ông muốn “thăm dò” tài lực của mình đưa ra một vài cái mới lạ để xem có thể chiếm được lại cái tiếng tăm của thời kỳ 1924 -1925 tức là thời kỳ Tố Tâm ra đời?


Về điểm này, cũng không mấy ai được biết. Đó là thời kỳ 1934 -1936: ông Hoàng Ngọc Phách vẫn vui với nghề dạy học, thỉnh thoảng lại về chơi Hà Nội và lần nào về ông cũng nghỉ ở trụ sở báo Đông Tây tại 12 đường Lamblot. Lúc này ông Phách bắt đầu yếu. Anh em e rằng ông không thể thọ lâu, nhưng cho tới lúc Nhật đổ bộ vào Việt Nam, ông vẫn cứ tằng tằng như thế, không yếu hơn mà cũng chẳng mạnh hơn. Vào thời kỳ này, ông có bán cả bản quyền cho một nhà xuất bản ở Hà thành. Cuốn sách nói về luân lý giáo dục theo tân học vốn là môn “tủ” của ông, cuốn sách khảo luận này ông lại ký tên thật là Song An Hoàng Ngọc Phách. Cuốn sách này không được mấy ai chú ý - có lẽ tại vì sách bàn về một vấn đề không có tính cách thời sự mấy chút là vấn đề giáo dục, trong khi dân nước căm thù quân phiệt Nhật và thực Pháp chỉ lo nổi dậy đánh đuổi xâm lăng.


Trong suốt thời kỳ kháng chiến, đi kể đã nhiều làng, tôi không gặp Song An Hoàng Ngọc Phách một lần nào mà cũng không nghe thấy nói đến tên ông. Nhiều người cho rằng ông đã mệnh một rồi, nhưng theo chỗ biết của tôi, ông vẫn còn sống, ở Hà Nội, vẫn khỏe mạnh mặc dầu năm nay đã bảy mươi mốt, bảy mươi hai và sau khi về hưu rồi, lại viết, nhưng lần này thì không viết truyện tình thê thảm như Tố Tâm mà lại viết Giai thoại Việt Nam (Trần Thanh Mại viết tựa, Văn Học xuất bản) nói về những chuyện lý thú thâu lượm trong văn sử học Việt Nam để đề cao tinh thần phóng khoáng và bất khuất của các văn nhân thi sĩ Việt Nam qua các biến thiên của giang sơn đất nước.


 


Văn Học số 113 (1-10-1970)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. Tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








(1) Tác phm ca Lương Khi Siêu (1873-1929), nhà văn, hc gi Trung Quc – (NBT).




(1) Nxb Cộng Lực, H. 1941 (NBS).




(1) Bi kch, viết năm 1835.




(2) Tiu thuyết T Tâm được Nam Ký xut bn năm 1925 – (NBS).




(1) Đúng ra là trường Cao đẳng Sư phạm.




(1) Cảm hứng, do chữ Pháp inspiration đọc chệch mà thành – (VTN).



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »