tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19002120
Tiểu thuyết
31.10.2011
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

Đọc lại Bắc sử thấy nhan nhản những chuyện ngoại thích chuyên quyền cường thần cướp ngôi, Minh Mạng càng thấy chủ trương “tam bất”: Không lập hoàng hầu, không cử tể tướng, không lấy trạng nguyên của phụ hoàng là đúng. Lã hậu vợ Hán Cao Tổ, Võ Tắc Thiên vợ Đường Thái Tông… đều đưa người họ mình vào nắm quyền chính trong triều. Vương Mãng sở di cướp được ngôi của nhà Tây Hán là bởi cô ruột ông ta là thái hoàng thái hậu Tân Chính Quân bà nội của Hán Ai Đế, Vương Mãng lại đưa con gái mình vào làm hoàng hậu của Hán Bình Đế; Dương Kiên cướp được ngôi nhà Bắc Chu là bởi có con gái là hoàng hậu của Chu Tuyên Đế; ở nước ta Hồ Quý Ly sở dĩ cướp được ngôi nhà Trần là bởi vì có hai người cô được vào cung, một người đẻ ra Nghệ Tông, một người đẻ ra Duệ Tông. Còn những chuyện tể tướng mưu cướp ngôi vua thì nhiều không kể xiết, chẳng hạn như Tào Phi, Tư Mã Viêm. Có ông vua khôn ngoan, không giao toàn quyền cho một người nào, mà dùng cả hai người một lúc để họ khiêm chế lẫn nhau, như Tề Hoàn Công dùng Quân Bằng trị lý sự vụ bên trong, triều đình, dùng Quản Trọng trị lý sự vụ bên ngoài triều đình.


Tuy vậy Tề Hoàn Công vẫn có sơ hở là tin dùng hoạn quan. Thụ Điêu, để có thể gần gũi Hoàn Công vào cung đình mưu một chức vị, liền đem thiến dịch hoàn của mình, biến thành thái giám, đến bên mình Hoàn Công. Hoàn Công cho rằng Thụ Điêu quả là quá trung thực với mình, cũng lưu y lại bên mình.


Thụ Điêu cấu kết với Dịch Nha, Khai Phương, trong cung đình ngầm kết thành một phe nhóm, chuyên xúi giục Hoàn Công làm điều bậy bạ. Quản Trọng sớm đã nhận thấy.


Tề Hoàn Công năm thứ 41, Quản Trọng bệnh nặng, vô cùng nguy kịch. Khi Tề Hoàn Công đến thăm, hỏi Quản Trọng: “Trọng phụ có điều gì cần nói với quả nhân không?”.


Quản Trọng nói: “Hy vọng nhà vua có thể xa lánh Dịch Nha và Thụ Điêu, đuổi chúng ra khỏi cung đình”.


Hoàn Công không hiểu nói: “Dịch Nha giết con y làm thành món ăn ngon cho ta thưởng thức, chẳng lẽ con có gì có thể nghi ngờ hay sao?


- Coi là một con người, ai là không có cái tình yêu con? Dịch Nha có thể nhẫn tâm giết cốt nhục thân thiết của mình để lấy lòng nhà vua, cái đó đâu coi được là yêu mến vua? Không yêu con ruột của mình, làm sao có thể yêu vua! - Quản Trọng lời đầy hàm ý nói với Hoàn Công.


Hoàn Công thấy Quản Trọng nói cũng có lý, tiếp đó lại hỏi: “Thụ Điêu tự thiến mình để gần gũi ta, giúp việc cho ta, chẳng lẽ còn có gì đáng nghi ngờ hay sao?”.


Quản Trọng lại nói: “Bản tính con người lẽ nên yêu tiếc thân thể của mình. Hiện tại, Thụ Điêu ngay cả thân thể của mình còn nhẫn tâm hủy hoại, sao có thể trông cậy y sẽ bảo hộ vua?”.


Mới đầu, Hoàn Công nghe lời Quản Trọng đuổi Dịch Nha, Thụ Điêu ra khỏi cung đình. Nhưng sau khi Quản Trọng chết ít lâu, Hoàn Công lại cho đón bọn chúng về.


Năm sau, Hoàn Công bệnh nặng, nằm trên giường bệnh không dậy được. Dịch Nha và Thụ Điêu cùng mưu phản làm loạn, lấp cửa Thọ cung lại, đồng thời xây tường cao xung quanh chỗ ở của Hoàn Công, không cho bất kỳ người nào vào, cuối cùng Hoàn Công bị chết đói.


Hầu như bất cứ triều đại nào ở Trung Quốc cũng có hoạn quan chuyên quyền hại nước. Đời Hán Nguyên Đế có Thạch Hiển, đời Hán Hoàn Đế có Trương Nhượng, đời Đường Huyền Tông có Cao Lực sĩ, đời Đường Hi Tông có Điền Lệnh Tử, đời Minh Anh Tông có Vương Chấn, đơi Minh Vũ Tông có Lưu Cẩn.


Lưu Cẩn vốn họ Đàm, tự thiến vào làm môn hạ Lưu thái giám, đổi họ là Lưu. Khi Minh Vũ Tông lên ngôi, mới 15 tuổi, lúc đó Lưu Cẩn chẳng qua là thái giám ở Ty Chung cổ địa vị thấp kém. Nhưng Lưu Cẩn từ sáng đến tối cùng 8 người trong phe đảng của y dùng chó ngựa chim ưng, ca múa đấu chọi để làm vui cho Vũ Tông. Vũ Tông đối với lời can gián của một số đại thần không những không thu nạp, ngược lại cử Lưu Cẩn chưởng quản Tư lễ giám để mình tha hồ vui chơi. Sau khi Lưu Cẩn đắc thế, một đám quan lớn lại bị bức từ chức hoặc bị cách chức, Tiêu Phương phe đảng của Lưu Cẩn thì vào Nội các. Từ đó, Lưu Cẩn tiếp tục dẫn dắt Vũ Tông dâm lạc, đồng thời liền khống chế triều chính. Rất nhiều chính sách lớn đều do Lưu Cẩn một mình quyết đoán, phiếu nghĩ của Nội các đều trước hết phải hỏi ý kiến của Lưu Cẩn. Sau đó Lưu Cẩn ngang nhiên mang chương tấu văn thư về nhà xử lý. Mỗi ngày có một đám quan lớn ở cổng nhà Lưu Cẩn đợi xử lý việc công. Chương tấu của các đại thần cũng phải viết thành hai bảng, trước dùng “hồng bản” nộp cho Lưu Cẩn, lại dùng “bạch bản” giao cho Thông chính tư chuyển trình Vũ Tông. Bởi vậy đương thời đều nói có hai Hoàng đế, một vị Chu hoàng đế, một vị Lưu hoàng đế. Sau có Lưu Vĩnh tố cáo Lưu Cẩn âm mưu phản loạn. Vũ Tông mới hạ lệnh bắt Lưu Cẩn, lăng trì xử tử, khi khám nhà y tìm ra 240.000 đĩnh và 57.8000 lạng vàng, 500 vạn đĩnh và 1.583.600 lạng tiền đồng, cùng lượng lớn bảo vật, còn tìm ra không ít y giáp cung nỏ. Hết Lưu Cẩn lại đến Ngụy Trung Hiền.


Ngụy Trung Hiền nhân đánh bạc thiếu nợ không biết xoay sở cách nào buộc phải tự thiến vào cung. Trong cung, y thân mật với nhũ mẫu của Hy Tông, Khách thị. Hy Tông lên ngôi hoàng đế, Ngụy Trung Hiền và Khách thị cùng được sủng ái. Ngụy Trung Hiền từ ty Tích tân thăng làm Thái giám Tư lễ giám, từ đó liền khống chế bộ máy yếu hại. Y ngày ngày dẫn dắt Hy Tông đam mê ca múa, săn bắn, để được vua yêu quý, đồng thời kết bè đảng bài xích hãm hai người không ăn cánh với mình, phàm người chính kiến bất đồng đều bị ghép thành đảng Đông lâm để bức hại. Ngụy Trung Hiền còn tuyển lựa quan trong nội cung, tập võ, lấy “thao luyện bên trong” làm danh nghĩa xây dựng lực lượng vũ trang của mình. Y lại dùng thủ đoạn đặc vụ khống chế trong ngoài, hễ ai có lời lẽ bất mãn, thì tìm cách bức hại. Hy Tông tuy rất thông minh nhưng không lo chính sự, thích dùng búa, cưa, chế tác đồ gỗ. Ngụy Trung Hiền lại thừa lúc Hy Tông đang cưa gỗ, tâu việc. Hy Tông chán ghét không lý đến, Ngụy Trung Hiền liền có thể làm theo ý muốn. Ngụy Trung Hiền nắm được quyền lớn, tấu chương của các nha môn đều phải đưa gấp đến trước mặt Ngụy Trung Hiền thỉnh thị. Ngụy Trung Hiền ra ngoài, sĩ đại phu đón đường sụp lạy. Ngụy Trung Hiền không thèm liếc mắt tới. Thậm chí các địa phương trong toàn quốc lục tục lập sinh từ cho y, sĩ phu, trăm họ đều phải vào đền quỳ lạy. Có người còn thỉnh cầu tôn Ngụy Trung Hiền ngang với Khổng Tử, thờ ở nhà Quốc học. Vua Sùng Trinh lên ngôi cách chức Ngụy Trung Hiền, nhưng vẫn dựa vào hoạn quan, từ đó dẫn tới nhà Minh mất nước.


Nhưng hoạn quan gian ác nhất phải nói tới Triệu Cao, đời Tần Thủy Hoàng. Nguyên cha Triệu Cao từng phạm tội mà bị xử cung hình (thiến), mẹ y cũng bị bán vào nhà quan làm nô tì. Sau đó, cha y lại nhân phạm thêm tội, mà bị xử tử hình. Mấy anh em Triệu Cao có người không phải là đích thực do cha y sinh ra, nhưng đều họ Triệu, sau đó cũng từ nhỏ đã bị thiến, đưa vào trong cung làm tiểu thái giám. Xuất thân hèn mọn càng khơi dậy ý thức cầu sống cạnh tranh mạnh mẽ, y ngầm luyện thư pháp, học tập ngục quy hình pháp lúc bấy giờ còn thuộc vào Hiển học, và chú trọng rèn luyện thân thể cho khỏe mạnh. Sau đó, cuối cùng được Tần Thủy Hoàng coi trọng, gọi y là một nhân tài. Tần Thủy Hoàng sai y cùng Lý Tư viết bài “Ái lịch thiên”, Triệu Cao quả nhiên viết được rất đẹp. Tần Thủy Hoàng càng quý mến, liền đề bạt y làm Trung xa phủ lệnh của mình, trực tiếp nắm công việc như xe ngựa của hoàng đế. Vì lợi ích lâu dài, Triệu Cao bình thời có ý thức lôi kéo Hồ Hợi người con nhỏ được Tần Thủy Hoàng yêu quý nhất. Rất nhanh Hồ Hợi và Triệu Cao cấu kết với nhau.


Khi Tần Thủy Hoàng đi tuần thú thiên hạ, đến bến Bình Nguyên đột nhiên bị mắc bệnh nặng, liền quay trở về Hàm Dương, đến Sa Khâu thì chết. Trước khi chết viết chiếu thư, ra lệnh cho con trưởng là Phù Tô đang cùng đại tướng Mông Điềm cầm quân ở phương Bắc, phải hỏa tốc về Hàm Dương, chờ đợi chủ trì việc tang. Ý tứ của ông ta khá rõ ràng, là đã xác lập Phù Tô làm người kế thừa ngôi vua. Chiếu thư viết xong liền phong lại để Triệu Cao mang đi đóng ngự tỷ. Triệu Cao sau khi cầm chiếu thư của hoàng đế, đã không đóng ngự tỷ, lại không phái người mang đi, mà bàn bạc với thừa tướng Lý Tư viết giả chiếu thư bắt Phù Tô và Mông Điềm phải tự tận. Đội xe quay về Hàm Dương. Lý Tư lập tức triệu tập văn võ bá quan, tuyên bố Tần Thủy Hoàng chết ở dọc đường, và ra chiếu thư giả mạo, tuyên bố lập Hồ Hợi làm Thái Tử, lên nối ngôi vua, tức Tần Nhị Thế. Sau đó Triệu Cao lại xui Tần Nhị Thế bắt Lý Tứ phải chết, để mình nắm trọn quyền hành, thả sức chuyên quyền độc đoán. Muốn dò ý quần thần, giữa triều y thả ra một con hươu và bảo đó là con ngựa, hễ ai nói là hươu thì y tìm cách trừng trị. Sau đó Triệu Cao lại giết Nhị Thế, lập con nhỏ của Nhị Thế là Tử Anh lên làm vua, để dễ bề khống chế, dẫn đến việc nhà Tần mất nước.


Minh Mạng suy nghĩ thấy nguyên nhân việc dùng hoạn quan là bởi các hoàng đế thấy hoạn quan do mất cân bằng về cơ cấu sinh lý nên dễ dẫn tới sự hình thành tính cách như lạnh lùng, tàn khốc, nham hiểm, vô liêm sỉ. Họ lại không có con nối dõi nên không nghĩ đến chuyện cướp ngôi mà chỉ tận lực trung thành với vua. Do đó các hoàng đế thường giao cho hoạn quan công tác đặc vụ dò xét các quan lại. Ở nước ta, Chúa Trịnh cũng thành lập Giám ban, với ý đồ dùng hoạn quan để giám sát quan lại văn võ. Năm Tân Mùi(1) xuất hiện một nhân vật hoạn quan có tên là Hoàng Công Phụ (nguyên quán Thăng Long, khuyết tật từ bé, đến năm 14 tuổi được đưa vào nội cung của Chúa Trịnh), hoạn quan này chiếm được lòng tin của các sủng phi của Chúa và tạo cho mình có quyền lực rất lớn. Nhờ sự can thiệp của Phụ mà Trịnh Huệ đậu cao trong kỳ thi Hội và thăng lên hàng Thượng Thư. Phụ đồng lõa với Huệ thoán đoạt quyền.


Nhưng tại sao phụ hoàng mình trước đây lại chưa nghĩ đến cái hại của việc dùng hoạn quan? Có thể vì phụ hoàng thấy hoạn quan như Lê Văn Duyệt đánh trận giỏi, lại không có con nên không lo sẽ có chuyện cướp ngôi. Nhưng Hoàng Ngũ Phúc thời họ Trịnh cầm quân giỏi không kém gì Lê Văn Duyệt, từng đem quân vào Nam đánh diệt ông cha mình, tuy Phúc không có con, nhưng con nuôi Phúc là Hoàng Đinh Bảo lại dựa thế cha nuôi làm đến chức Chưởng phủ sự Huy quận công, y tư thông với ái phi của Trịnh Sâm là Đặng Thị Huệ, gây nên biết bao chuyện tranh giành lục đục trong cung cấm và triều đỉnh, dẫn tới sự sụp đổ của họ Trịnh. Minh Mạng được biết con nuôi Duyệt là Lê Văn Khôi rất dũng mãnh, trước ở trong đám giặc được Duyệt thu nạp.


Ngay cả viên tổng thái giám trong cung cũng có điều đáng ngờ. Y từng báo cho mình biết chuyện Tống Thị Quyên thông dâm với con là Hoàng tôn Đán. Ngoài chuyện y muốn lấy lòng mình ra, biết đâu bên trong chẳng có chuyện khuất tất. Chẳng hạn như y có chuyện mờ ám gì mà mẹ con Hoàng tôn Đán biết, nên y tố cáo họ trước để họ bị trị tội, nhằm mục đích sát nhân diệt khẩu. Minh Mạng tự nhủ mình phải bãi miễn công tác đặc vụ của tổng thái giám và đồng bọn, giao công tác này cho Cẩm y vệ làm nhiệm vụ theo dõi các quan lại bên ngoài và đám nội giám bên trong. Nếu thấy có gì khả nghi lập tức báo cho mình biết.


Sau một thời gian, cơ quan đặc vụ của cẩm y vệ báo cho Minh Mạng biết: Viên tổng thái giám sau khi dò biết một số tội lỗi của các quan, không báo cho vua biết, mà lợi dụng việc đã nắm được chuôi của viên quan đó để tống tiền, buộc viên quan đó phải đút lót cho mình, mình sẽ ỉm chuyện cho. Nếu viên quan nào muốn được thăng chức, y sẽ bảo viên quan đó đút lót cho y để y nhờ các phi tần được vua sủng ái lợi dụng lúc hầu Ngư nói lót giúp cho.


Biết chuyện đó, Minh Mạng liền quy định thái giám từ nay chỉ có nhiệm vụ phục vụ sinh hoạt nội đình từ khâu dọn dẹp cho đến truyền mệnh lệnh.


Tiếp đó, Minh Mạng ra đạo dụ “Sơ định thái giám đẳng đệ” chuẩn định năm cấp bậc cho hoạn quan với mức lệ bổng rõ ràng. Thủ đẳng gồm Quảng vụ - Điển sự thái giám, được lĩnh 6 quan tiền và 4 vuông gạo một tháng. Thứ đẳng gồm Kiểm sự - Phụng nghi thái giám, lĩnh 5 quan tiền và 3 vuông gạo một tháng. Trung đẳng gồm Thừa vụ - Điển nô thái giám, lĩnh 4 quan tiền và 3 vuông gạo một tháng. Á đẳng gồm Cung sự - Hộ nô thái giám lĩnh 3 quan tiền, 2 vuông gạo. Hạ đẳng gồm Cung phụng - Thừa biện thái giám chỉ lãnh 2 quan tiền, 2 vuông gạo. Lại chỉ rõ: Chức của hoạn quan chỉ để sai khiến, truyền lệnh ở nội đình, không được dự vào việc triều chính. Kẻ nào phạm phải, sẽ bị trừng trị nặng không tha. Chỉ dụ này được khắc trên một tấm bia đá và đặt ngay tại Trường Quốc Tử Giám để mọi người cùng biết.


Hai bên sân điện Cần Chánh có hai nhà Tả vu và Hữu vu là nơi các quan ngồi chờ buổi sớm trước khi vua ra triều. Hai nhà này làm năm Gia Long thứ 18 (1819), mỗi nhà 5 gian 2 chái, lợp ngói lưu ly.


Mỗi khi có việc quan trọng và cần kíp, các quan cũng họp bất thường tại nhà Tả vu. Theo lệ phải để quan nhỏ nói trước, quan lớn nói sau, sợ rằng quan lớn nói trước, thì quan nhỏ không dám phát biểu ý kiến nữa. Sau buổi họp thì dâng phiến lên Hoàng đế.


Chái bắc nhà Tả vu là viện Cơ mật, chái nam là phòng Nội các. Tại đây tập trung tất cả phiến tấu của các Bộ, Nha để dâng lên vua ngự lắm. Xong rồi, Nội các giữ lại những bả chính có châu điểm, châu phê và lục bản phó ra các Bộ, Nha.


Nguyễn Tri Phương cùng Hà Quyền, Hoàng Quýnh họp ở Nội các bàn về việc chia tỉnh ở Bắc thành và các chức quan đứng đầu mỗi tỉnh. Bàn xong, Nội các giao cho Nguyễn Tri Phương đem những điều đã bàn bạc thống nhất, viết thành một bản sớ dâng lên vua.


Họp bàn lâu đã mỏi mệt, các quan bày trò đánh đầu hồ để giải trí.


Thị vệ bưng ra một cái hồ làm bằng gỗ, tựa như một cái bầu rượu có hai eo, miệng lệch, trong đựng đậu xanh để khi ném, tên cắm xuống đậu khỏi văng ra ngoài. Hồ kê trên một giá tròn bằng gỗ, bên trong có một cái trống nhỏ nằm cách đáy hồ nửa gang tay. Một lát gỗ hình bầu dục có tính đàn hồi, được gọi là con ngựa, đặt trên chiếu, cách hồ 5 thước ta. Những mũi tên làm bằng gỗ táo hay gỗ dâu, dài hơn thước ta, một đầu dẹp, đầu kia tròn và nhọn, có sức đàn hồi rất lớn. Mỗi người được nhận bốn mũi tên, phải ném sao cho để đầu nhọn gõ vào con ngựa, nảy ngược lên để tên rơi vào miệng hồ, lọt xuống đáy, gõ lên mặt trống phát ra những tiếng kêu “binh binh”, tên cắm xuống lớp đậu trong đáy hồ và không văng ra ngoài, vậy là được một điểm. Ai ném trước phiên hoặc quá số tên quy định sẽ không được tính điểm và không phát thẻ. Người nào được ba thẻ là thắng cuộc. Họ sẽ được quyền mời rượu và điều khiển cuộc chơi tiếp tục.


Cuộc chơi bắt đầu. Hoàng Quýnh bước tới trước nhận tên, tay cầm đầu dẹp, ông nhịp nhịp mũi tên để tạo lực nhún, rồi thình lình đẩy mũi tên bay về phía trước. Tên gõ vào con ngựa, bật lên rồi rơi vào miệng hồ, cắm xuống lớp đậu xanh. “Tài quá! Tài quá!”, mọi người cùng vỗ tay tán thưởng. Đến lượt Nguyễn Tri Phương. Không cần so ướm lâu, Phương nhịp tên hai lần rồi vung tay. Lúc này trông ông giống như một võ tướng giương cung bắn tên ở chiến trường với tài bách phát bách trúng. Mũi tên vun vút bay đi, gõ vào con ngựa, rồi xé gió lách vào miệng hồ. “Tài thiệt! Tài thiệt!” mọi người cùng reo lên. Hà Quyền nói: “Xem cách ném tên của quan huynh rõ ra là một người từng dày công luyện tập võ nghệ. Quan huynh còn đợi gì mà chưa xin chuyển sang võ ban quách!”. Nguyễn Tri Phương cười: “Tôi nghe người ta nói đến viết chữ cũng phải tham khảo cách múa kiếm mới viết cho đẹp được, cứ gì phải ném tên!”.


Hà Quyền là người ném cuối cùng.Cũng búng mũi tên một cách táo bạo như Nguyễn Tri Phương, song đường bay của ông không lả lướt và tài hoa bằng. Ông cũng được một thẻ ghi điểm.


Kết quả sau bốn lượt ném, Hà Quyền được ba thẻ, Hoàng Quýnh được hai thẻ, Nguyễn Tri Phương được bốn thẻ. Nguyễn Tri Phương là người thắng cuộc, đang rót chén rượu đưa cho người thua cuộc để phạt thì Minh Mạng từ ngoài bước vào. Các quan Nội các đều quỳ xuống nghênh tiếp. Minh Mạng cười:


- Các khanh chơi đầu hồ vui quá, cho trẫm góp vui với chứ.


Hà Quyền vội mời Minh Mạng vào cuộc. Minh Mạng nói:


- Ta không thích loại hồ nhỏ này.


Ông sai thị vệ về cung bưng đến một hồ khác, cao khoảng thước rưỡi ta, đáy tròn và thủng. Miệng hồ loe, hai bên cổ hồ được gắn thêm hai hồ nhỏ hơn, hình nậm rượu. Ông truyền lấy bó tên khác, dài hơn mảnh hơn, và cho trải chiếu trước tiền sảnh.


Ông bước về phía trước, nhận tám mũi tên từ tay Nguyễn Tri Phương rồi nhắm mắt và ném. “Vút! Vút!” Hai mũi tên lao đến, gõ lên con ngựa, lọt qua miệng hồ, dội lên mặt trống kêu “binh! binh!”. Sau đó, ông lui lại bốn bước, quay người ra sau rồi tung bốn mũi tên lên trên không. Những mũi tên vòng qua đầu ông, lộn hai vòng trước khi gõ lên con ngựa và lần lượt chui vào miệng hồ. Không kịp để mọi người tán thưởng, ông ngồi xuống, quay lưng lại và nói: “Ta sẽ ném hai mũi tên cuối cùng vào hai hồ nhỏ ở hai bên”. Dứt lời, ông vung tay về phía sau. Cả hai mũi tên gần như bay đi cùng lúc, nhún lên mình ngựa rồi chia nhau rơi vào hai hồ nhỏ gắn bên cổ hồ lớn. Mọi người sửng sốt một hồi rồi mới kịp xuýt xoa thán phục: “Kỳ tài! Kỳ tài!”. “Quả là danh bất hư truyền!” Minh Mạng cười bảo: “Ta chẳng có tài cán chi cả, đó chỉ là nhờ sự luyện tập thường xuyên mà thôi!” Rồi ông đón ba chung rượu mừng, ngửa cổ uống cạn, quay lại dặn Nội các làm cho xong dự án dâng lên, rồi lui về cung. Nguyễn Tri Phương nhìn theo rồi nói với Hà Quyền, Hoàng Quýnh:


-            Xem cách ném tên của hoàng thượng, thấy rõ ngài là người trí lự, mưu lược, biết lùi để tiến, chịu nhún mình nhường người khác một bước, để chờ dịp ra tay giành phần thắng cuối cùng. Có lẽ nhiều kế sách trị nước ngài đã nghĩ ra trong khi luyện tập đánh đầu hồ.


XV. Nghe tin Lê Văn Duyệt định tuyển binh, dân số Gia Định thành tăng lên hơn vạn người, Minh Mạng trong lòng lo ngại nhưng bề ngoài vẫn dụ khen Duyệt khéo vỗ nuôi dân, hộ khẩu sinh sôi ra nhiều là tốt. Ít lâu sau lại nhận được sớ của Duyệt nói: “Gia Định là trọng khẩn Nam Kỳ, tâu xin thuê dân đánh đá ong, cấp thêm tiền gạo, mộ nhiều dân đinh xây đắp thành hào cao rộng thêm lên để phòng thủ cho nghiệm”.


Vua liền mời quan Nội các Hoàng Quýnh vào bàn bạc. Hoàng Quýnh nói:


- Tâu Ngài Ngự, nếu Duyệt bảo xây thành cao hào sâu để phòng giặc Xiêm thì đường biển nên phòng ở Hà Tiên, đường bộ nên phòng ở Chân Lạp, há có lẽ bỏ bốn tỉnh An, Hà, Long, Tường không phòng thủ mà phòng thủ ở Phiên An? Thế rõ ràng là phòng triều đình chứ không phải là phòng ngoại hoạn. Vả chăng, thành Gia Định do tiên đế cho xây vào năm Canh Tuất(1) khi đó cũng coi như kinh thành nên đã cao lắm rồi, nếu nay lại xây cao thêm nữa, thì sẽ cao hơn cả kinh thành Phú Xuân, như vậy chẳng phải là mắc tội tiếm lạm hay sao?


Minh Mạng gật gù. Hoàng Quýnh lại nói tiếp:


- Thần nghe tin cáo mật, những tù phạm Bắc Kỳ phát phối vào Gia Định, Duyệt cho ở trong thành, rồi tha cho làm lính, gọi là Hồi lương, Bắc thuận, để làm tâm phúc, chiêu dụ những thổ mục, thổ hào hung ác, để dùng làm nanh vuốt. Lại kén lấy voi khỏe, đem ra nơi đồn thú, vét lấy những khí giới, thuyền bè của sáu tỉnh Nam Kỳ chứa vào thành Phiên An...


- Còn gì nữa?


- Duyệt đã tuyển mộ thêm nhiều lính, lại rất chăm việc luyện quân. Ngày mồng một đầu tháng, Duyệt lại dẫn quân từ Phiên An môn lên Đồng Tập Trận duyệt binh. Trong số thủ hạ của Duyệt có tên Nguyễn Hựu Khôi vốn là một thổ mục ở Cao Bằng, làm loạn, sau chạy vào Thanh Hóa, được Duyệt chiêu dụ, thăng lên đến chức Minh nghĩa phó vệ úy, và nhận làm con nuôi, đổi tên là Lê Văn Khôi. Tên này có sức khỏe kinh người lại võ nghệ tuyệt luân. Có lần sứ Xiêm sang, Duyệt bày ra cuộc đấu cọp gọi là để giải trí nhưng chủ tâm là uy hiếp tinh thần của đám sứ giả. Duyệt với sứ Xiêm ngồi trên khán đài xem. Hiệu lệnh vừa ban ra, một tên lính mở cửa chuồng cọp, cọp chạy ra gầm gừ trông thật hung tợn. Khôi trá hình làm một tên lính cầm đùi heo nhử cọp, con mãnh hổ rống lên nhảy xổ đến chụp kẻ địch liền bị Khôi dùng côn đánh chết tức khắc. Trên khán đài Duyệt vờ nổi giận, hạ lênh cho bọn võ sĩ lôi Khôi ra chém, và cho sứ giả biết là theo nguyên tắc đấu thủ phải dùng tay không chứ không được cầm vũ khí. Khôi xin lập công chuộc tội: trận đấu thứ nhì mở màn, trống chiêng nổi lên inh ỏi, một con cọp to lớn từ trong cũi nhảy vọt ra, lao thẳng tới địch thủ, nhưng chưa kịp trổ ngón gì thì đã bị Khôi đá một đòn chí tử vào hàm, cọp ngã lăn, Khôi rút dây trói chặt lại, kéo tới trước khán đài. Sứ thần Xiêm kinh ngạc, tỏ mấy lời khen ngợi rồi hỏi Duyệt: “Người ấy thuộc cấp bực nào?” Duyệt đáp: “Hắn chỉ là một tên lính chưa có công gì. Trong quân đội chúng tôi còn nhiều người khỏe hơn…”


- Thế ra Duyệt không chỉ dùng voi đấu với cọp mà còn dùng người đấu với cọp... Còn những gì nữa?


- Khôi vốn có máu làm loạn nên đã soạn vở tuồng San hậu cho đội hát bội của Duyệt, trong đó có chuyện Phàn Định Công trấn ở ngoài biên ải mang quân về triều hỏi tội hôn quân bạo chúa, ý muốn xui giục Duyệt cũng phải làm như Phàn Định Công ngày trước…


Minh Mạng cau mặt, hỏi dồn:


- Vậy hả? Còn gì nữa, khanh nói tiếp cho ta nghe.


- Duyệt ở miền Nam nghiễm nhiên như một vị phó vương. Theo lệ, hằng năm cứ tối 30 Tết là vua Chân Lạp phải có mặt tại thành Gia Định để làm lễ ở Vọng Cung. Có một lần không hiểu tại sao, đêm 30 Tết vua Chân Lạp lại ngủ tại Chợ Lớn không sang trú sẵn ở Gia Định. Sáng hôm sau, đúng lúc trống điểm sang canh năm, Duyệt một mình cùng thuộc hạ ra làm lễ tại Vọng Cung, không chờ vua Chân Lạp. Lễ xong, vua Chân Lạp mới lễ mễ tới. Duyệt chiểu theo điều lệ phạt vạ, vua Chân Lạp phải nạp đủ 3000 lượng bạc mới cho về nước. Duyệt còn sai thuộc hạ là Nguyễn Văn Độ đáp thuyền của người buôn là Phan Đạt đi riêng sang Miến Điện cấu kết ngoại giao. Khi tàu Anh Cát Lợi bị gió giạt vào Bình Thuận, Duyệt cho họ được đến Gia Định để tiện bề giao thiệp với họ. Duyệt còn tiếp kiến Giôn Hoai-tơ(1), thuyền trưởng chỉ huy tàu hai cột buồm Phờ-răng-klin(2), người nước Ma Ly Căn, cũng gọi là Hoa Kỳ(3).


Nghe Hoàng Quýnh nói, Minh Mạng càng thêm lo ngại. Nhưng nghĩ lúc đó việc ngoài biên chưa ổn định, mà Duyệt lại được dân miền Nam biết ơn và kính trọng gọi ông là Thượng công hay Ông Lớn Thượng. Nếu làm trái ý Duyệt, sẽ mất lòng dân miền Nam, nơi được coi là đất “long hưng” gây dựng nên nền móng của triều Nguyễn, như vậy không có lợi cho việc ngăn chặn ngoại xâm. Minh Mạng đành phải cho phép Duyệt đắp cao thànhGia Định và sai Duyệt phòng bị ngoài biên.


Minh Mạng còn gia ơn truy tặng thêm cho cha Duyệt là Toại hàm Đô thống chế nhất phẩm, mẹ là Nguyễn Thị hàm nhất phẩm phu nhân. Minh Mạng còn cho Lê Văn Yên cháu gọi Duyệt bằng bác ruột là con thừa tự của Duyệt được lấy công chúa Ngọc Ngôn, con gái Gia Long, em gái cùng mẹ với Quảng Oai Công Quân.


*


Ở Pháp, Louis XVIII lại khích lệ việc xuất dương đã bị tê liệt từ ngày Napoléon có chiến tranh với Anh quốc. Công tước De Richelieu thúc đẩy việc trang bị tàu buôn, miễn hẳn quan thuế cho các hàng nhập cảng, trọng thưởng các tàu buôn mỗi khi trở về nước. Do đó mà năm 1816, công ty hàng hải Pháp hạ thủy được hai chiếc tàu buôn. Tháng 9-1918, các thương thuyền La PaixLe Henry có chiến hạm La Cybèle hộ tống, chủ hàng hóa đến cửa Hàn. Hạm trưởng chiếc La Cybèle là Bá tước Kergariou xin lên Huế để ddâng phẩm vật (Binh khí, đồng hồ, lọ thủy tinh, ảnh vua Louis XVIII) đồng thời đệ trình Gia Long biết về việc phục hồi vương quyền của Louis XVIII và xin thi hành hiệp ước Versailles mà Bá Đa Lộc đã ký trước đây, cũng là việc bảo hộ thường dân Pháp ở nước ta. Được tin, Gia Long sai Vannier và hai quan chức ta vào Đà Nẵng để đón tiếp. Nhưng Kergariou không có quốc thư, nên nhà vua không cho chiêm yết, không nhận phẩm vật, chỉ sai khoản đãi rất hậu. Riêng hàng hóa trên hai chiếc thương thuyền, không hợp với thị hiếu người Việt Nam, nên bán không chạy, thấy thế nhà vua thà không đánh thuế, lại sai chỉ cho những món hàng có thể nhập cảng...


Tuy thất bại, De Richelieu vẫn còn hy vọng là Pháp sẽ thiết lập được một căn cứ ở Đàng Trong, nên đã viết thư bảo Chaigneau cố gắng lập quan hệ thông thương giữa Pháp và Việt. Để khuyến khích, De Richelieu tặng cho Chaigneau một Bắc đẩu bội tinh.


Năm 1819, có hai chiếc tàu buôn ba cột của Pháp là La PaixLe Henry cùng vào cửa Đà Nẵng. Lần này hàng hóa đem sang bán được là vì đã có một danh sách các hàng có thể tiêu thụ được do Vannier trao cho họ từ trước và họ lại mua một số hàng của Việt Nam về như trà, đường, bạc nén, lụa mộc... Nhân dịp này, Chaigneau xin vua Gia Long cho nghỉ phép 3 năm để về thăm nước nhà. Gia Long chấp thuận và đặc cấp cho 2 năm lương, Chaigneau liền đưa vợ con xuống tàu Le Henry.


Cập bến Bordeaux được vài ngày thì Bộ trưởng Hải quân Pháp là Bá tước Portal mời đến tiếp chuyện, Chaigneau trình bày tất cả mọi vấn đề về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa... của Việt Nam. Portal liền trình Louis XVIII chính thức gửi sứ thần sang Việt Nam. Louis liền cử Chaigneau làm Lãnh sự kiêm chức Đặc ủy Pháp và xuống tàu năm 1821, đem theo một số tặng phẩm của vua Pháp, trong đó có một cuốn tự điển khoa học và mỹ nghệ Tây phương. Tháng 6-1821, Chaigneau đến Huế thì Gia Long đã mất từ năm trước. Quốc thư và tặng phẩm được đệ lên vua Minh Mạng vào ngày 12-10-1821. Tuy nhà vua tiếp đãi ông rất niềm nở, nhưng không nhận chức đại diện của ông, và trả lời về việc xin lập điều ước thương mại xet không cần thiết, bở vì việc buôn bán người Pháp cứ theo luật lệ của nước Nam là đủ.


Tuy việc không xong nhưng Chaigneau vẫn kiếm cớ ở lỳ tại nước ta nên vào dâng vua một cái Hàn thử xích(1). Minh Mạng ướm ý hỏi: “Muốn về nước không?” Chaigneau tâu: “Tuổi đã già, xin ở trọn đời làm tôi”. Lúc đó Minh Mạng biết chắc là Chaigneau đã nhận nhiệm vụ của vua Pháp.


Một năm sau, năm 1822 (ngày 20-2) một hộ tống hạm Pháp mang tên La Cléopatre do Hạm trưởng Courson de la Ville Hélio cặp bến cửa Hàn, nhờ Chaigneau xin phép cho vào yết kiến Minh Mạng, nhưng bị chối từ mặc dầu Chaigneau đã khẩn khoản vận động. Không những thế, vua còn truyền lệnh cho Chaigneau phải mang lính xuống khám tàu lúc sắp nhổ neo.


Khi đó có linh mục Thất là cha đỡ đầu của cô Anne, con gái Chaigneau, được nghe cô Anne xưng tội, biết khi ở Pháp sang Chaigneau còn bí mật mang theo mấy giáo sĩ, đó là các linh mục Taberd, Olivier, Gagelin và Odoirico, những người này cải trang theo lối người địa phương miền Nam. Linh mục Thất đã báo cho triều đình biết việc này.


Lo ngại về họa “nuôi ong tay áo”, Minh Mạng bèn nhân ngày lễ Nô-en tặng hai vị cận thần của tiên đế mỗi ông một chiếc thuyền bé tí hon và một thanh gươm bằng gỗ trầm hương rất quý.


Nhận được món quà đặc biệt này, Chaigneau và Vannier trao đổi ý kiến với nhau và đều đồng ý là Minh Mạng bảo mình phải liệu mà về Pháp, nếu không thì sẽ có ngày bị rơi đầu. Hai người bèn xin từ chức, rồi đến ngày 15-12-1824 xuống cửa Hàn để chờ tàu Gia Định về Pháp. Khi còn nán ở cửa Hàn, Chaigneau lại lén lút đưa thừa sai Imbert vào nội địa Việt Nam.


Tháng 1-1825, Bộ trưởng Hải quân Pháp là Chabrol cứ Nam tước Bougainville, Đại tá Hải quân, dẫn hai chiến hạm ThétisEsperance vào Đà Nẵng. Bấy giờ Chaigneau và Vannier đã rời Huế được hai tháng. Bougainville được lệnh làm việc gì ở đây đều phải có sự chấp thuận của Chaigneau, ngoài ra còn phải nghiên cứu mọi chi tiết cần thiết cho các cuộc hành quân trong tương lai của Hải quân Pháp ở các sông ngòi và bờ biển Việt Nam...


Bougainville xin gặp vua Minh Mạng để đệ quốc thư lên nhà vua. Triều đình nại cớ rằng không ai biết tiếng Pháp để dịch thư của vua Pháp, và bảo Bougainville rằng: “Nhà vua sẵn sàng để ông đi thăm mọi cửa bể Việt Nam, miễn là ông phải tuân theo luật lệ của Việt Nam”.


Thất bại, Bougainville lên đường trở về nước vào ngày 17-2-1825. Chaigneau còn ở lại một thời gian nhưng không làm được việc gì nên đến ngày 21-3-1825 cũng xuống tàu trở về Pháp.


Đến năm 1832, triều đình Pháp lại cố gắng tấn công ngoại giao một lần cuối cùng nữa, bằng cách cử cháu Chaigneau là Eugène Chaigneau theo tàu Favorite do Đại tá Hải quân La Place chỉ huy, sang làm lãnh sự thay cho chú, nhưng sang đến nơi, triều đình nước ta không nhận, và nói rằng các tàu buôn Pháp vào đất Việt thì vẫn không có gì trở ngại cả. Sau khi thất bại trong việc vận động, Eugène Chaigneau liền nhổ neo về nước.


(còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 







(1) Năm 1631.




(1) Năm 1790, Nguyễn Ánh mới lấy lại được Gia Định.




(1) John White.




(2) Franklin.




(3) Sử triều Nguyễn chép tên nước Mỹ là Ma Ly Căn, có lẽ là dựa theo cách phát âm chữ American. Ở đoạn khác còn chép tên Mã Di Lý, có lẽ là dựa theo cách phát âm chữ Etats unis (Hợp chủng quốc).




(1) Hàn thử biểu.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 26.04.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 16.04.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 30.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
xem thêm »