tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21282967
Tiểu thuyết
27.10.2011
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

XIV. Minh Mạng ra lệnh xây dựng Lầu Tàng thơ ở phía đông bắc của hoàng thành. Triều đình đã giao cho Thự Thống chế Đoàn Đức Luận đứng ra điều khiển 1.000 binh lính để thi công. Tòa nhà được xây dựng bằng gạch và đá, tầng dưới 11 gian, tầng trên 7 gian 2 chái nằm trên hòn đảo hình chữ nhật giữa hồ Học Hải, cạnh hồ Tịnh Tâm. Đảo nối với đất liền chỉ bằng một chiếc cầu đá.


Tất cả sổ sách của sáu Bộ và các nha tại kinh đô sau từng năm đều đưa đến đây để cất giữ. Hàng vạn tập văn kiện bằng giấy bổi, rất dễ cháy và dễ bị mối mọt gặm, do đó tòa nhà phải đặt trên đảo giữa hồ để tránh hỏa hoạn. Người ta còn cho rải chất lưu huỳnh trên mặt đất tầng dưới để trừ khử mối mọt. Tầng trên, nơi chứa tư liệu, trổ nhiều cửa chung quanh, xây lan can thưa thoáng để không khí luân lưu ra vào, tránh sự ẩm mốc vì độ ẩm không khí tại Huế rất cao. Mục đích việc xây dựng lầu này là để giữ cho tài liệu gốc của quốc gia được chính xác và không bị thất thoát ra ngoài. chúng được bảo quản cẩn mật để người đương thời hoặc người đời sau đến tra cứu.


Ngay từ năm đầu mới lên ngôi, Minh Mạng đã xuống chiếu tìm kiếm thu nhập sách cổ của Việt Nam. Lời chiếu có đoạn viết: “Trẫm nghĩ đế vương các đời dấy lên, tất có sách sử mỗi đời để chép lời nói, việc làm và công việc chính trị mà để lại đời sau... Vậy chuẩn cho quan dân trong ngoài, phàm nhà nào cất giữ những bản biên chép điển cũ triều trước, thì không kể tường hay lược, đem nguyên bản tiến nộp hoặc đưa cho nhà nước sao chép đều có khen thưởng”.


Nhờ đó, trong ngoài đều đem các bản biên chép đến dâng. Thượng thư Trịnh Hoài Đức dâng sách Gia Định thông chí (3 quyển) và sách Minh bột di ngư văn thảo. Chiêu hậu Hoàng Công Tài dâng sách Bản triều ngọc phả (2 bản) và sách Kỷ sự (2 bản). Người Quảng Đức là Cung Văn Hy dâng sách Khai quốc công nghiệp diễn chí (7 quyển). Người Thanh Hóa là Nguyễn Đình Chính dâng sách Minh lương khải cáo lục (34 quyển). Người Quảng Nghĩa Vũ Văn Tiêu dâng sách Cố sự biên lục.


Một năm sau, Hàn lâm viện biên tu Phan Huy Chú dâng bộ sách Lịch triều hiến chương loại chí (49 quyển). Minh Mạng đã thưởng cho Phan Huy Chú 30 lạng bạc, 30 chiếc bút, 30 thoi mực và một cặp áo sa.


Từ năm Minh Mạng thứ 12 (1831), Minh Mạng đã dụ cho Nội các phải tìm mua hoặc thu lượm gấp số di cảo của Lê Thánh Tông. Minh Mạng nhắc nhở các quan ở Nội các: “Ra lệnh cho quan Lễ bộ tư hỏi Bắc thành và các trấn Thanh Nghệ, Ninh Bình, phàm các nhà quan lại, sĩ dân, ai còn giữ được những tập thi văn ngự chế về đời Hồng Đức, đều đưa đến cho quan sao chép, thu góp lại, khắc in truyền khắp trong nước để nêu cái tốt đẹp của tiền nhân, lưu một việc hay trong rừng văn nghệ”.


Minh Mạng thường xem quốc sử, bảo Hà Quyền và Trương Đăng Quế rằng: “Các vua đời trước nước ta như Lê Thánh Tông cũng có thể gọi là vua hiền, trẫm vốn hâm mộ... Lê Thái Tổ oai võ giỏi, mưu lược lớn, khai sáng trước, Thánh Tông nối sau, lập ra pháp chế, việc gì cũng có thể lưu lại mãi mãi về sau, thực không thể bàn ai hơn ai kém”. Minh Mạng thường dụ Nội các rằng: “Nước Việt ta mở nước bằng văn hiến, các bậc vua hiền đời trước đều có, duy Lê Thánh Tông thì không phải là đời nào cũng có. Những phép hay chính tốt chép cả ở trong sử sách, lại còn khi rảnh việc thì lấy văn nghệ làm vui, trứ tác rất nhiều, tiếng hay phong nhã vẫn còn văng vẳng bên tai mọi người. Trẫm nhớ đến cổ nhân rất lấy làm kính mến”.


Tháng 11 năm Minh Mạng thứ 20 (1839), Minh Mạng tìm kiếm những di cảo văn chương của người Việt Nam để soạn thành bộ Nam thổ anh hoa lục. Trong lời dụ cho bộ Lễ, Minh Mạng viết: “Nước Đại Nam ta vốn có tiếng là nước văn hiến, danh thần văn sĩ đời nào cũng không thiếu, trong đó chắc cũng có nhiều nhà trứ thuật. Nhưng từ trước đến giờ không biên chép góp nhặt thành ra mất mát không còn dấu tích gì. Vậy truyền dụ cho các quan Thượng ty cho hỏi tìm khắp trong hạt, phàm quan lại, học trò và nhà thường dân, nhà ai còn giữ được những tác phẩm như thơ, vịnh, minh, ký, từ, phú bất luận đã lâu hay gần đây, nếu muốn đem dâng thì tất ban khen ngợi, nếu họ không muốn nộp quan thì mượn về sao chép ra, dâng lên ngự lãm, giao cho bộ Lễ hợp với viện Hàn lâm chọn lựa: Bản nào hay thời soạn lại đóng lại thành sách, đặt tên là Nam thổ anh hoa lục, khắc thành bản in để làm tỏ rõ việc tốt đẹp tôn chuộng văn học của triều thịnh trị”.


Bên cạnh công việc sưu tầm và in lại những bộ sách quý, Minh Mạng còn ra chỉ dụ cho Quốc Sử quán đẩy mạnh việc biên soạn sử về đời các chúa Nguyễn, được gọi là Liệt thánh thực lục. Bộ sách này sau được bổ sung, chỉnh lý và khắc in, với tên gọi Đại Nam thực lục tiền biên, chép lại sử 9 đời chúa Nguyễn từ Nguyễn Hoàng đến Nguyễn Phúc Thuần.


Nhiều đêm Minh Mạng thắp đèn xem chương sớ đến canh hai, canh ba mới nghỉ. Mọi phê bảo, dụ chỉ, chế cáo đều tự tay vua viết, bởi ông không mấy vừa lòng với các bản chiếu dụ do các quan từ hàn ở Hàn lâm viện hay phòng Văn thư soạn thảo.


Có người can vua không nên làm việc quá nhiều, e tổn hại đến sức khỏe. Minh Mạng nói:


- Làm người ai chẳng muốn yên, hay gì sinh sự để thay đổi luôn, nhưng lúc trẻ khỏe mà không biết sửa sang mọi việc, đến lúc già yếu mỏi mệt, hỏi mong làm gì được nữa. Bởi thế trẫm không dám lười biếng bất kỳ lúc nào.


Ngự Uyển là một khu vườn đẹp trong Tử Cấm thành. Nơi này khóm trúc, bụi hồng, nơi kia cành mai chậu cúc, nơi kia nữa gốc đào, gốc tùng, hải đường chậu quỳnh cành giao. Bên cây cảnh là gò đất nhỏ, núi đá con, hồ nuôi cá vàng, lồng chim cu gáy, ghế đá, lồng đèn, dàn hoa lý.


Một hòn non bộ nằm trên một bể cạn. Phong cảnh non bộ là cả một vùng nước non hồ vực hang động cầu nhà chùa tháp nho nhỏ với những tượng người bằng sành diễn tả những cảnh ngư tiều canh mục, cảnh Bồng Lai, cảnh Đào Nguyên. Mọc trên non bộ là những cây cảnh như si, sung, tùng, sến, bồ đề, dương liễu, xương rồng, cỏ trân châu, bông tỉ muội... là những loài cây cỏ được thu nhỏ lại chỉ còn cao vài mươi phân cho cân xứng với kích thước của một phong cảnh nho nhỏ, lại được uốn nắn theo những thế độc đáo như thế trực thế hoành, thế rồng bay phượng múa, thế cha con, thế anh em... Bên cạnh hòn non bộ là những chậu cây cảnh khác cũng được uốn thế công phu thành những rồng, lân, công, phụng…


Minh Mạng cùng Hiền phi ra ngắm hoa ở vườn Ngự Uyển. Cảnh trăm hoa đua nở khoe hương khoe sắc dưới làn gió nhẹ và nắng xuân ấm áp khiến vua nẩy hứng làm thơ. Nhà vua đến Thái Bình lâu, trèo lên tầng trên, ngồi trước án, nghĩ tứ.


Thái Bình lâu là một tòa lầu hai tầng, bộ sườn làm bằng gỗ lim, mái lầu ở giữa lợp ngói hoàng lưu ly,  hai bên lợp ngói thanh lưu ly, trên mái trang trí hình rồng, lá lật, dơi ngậm kim tiền và những hình mai lan cúc trúc bằng mảnh sứ nhiều màu ghép thành. Tầng dưới có hệ thống cửa gương ở mặt trước, dựng đố bản ở hai bên, mặt sau thiết Ngự tọa để vua ngồi tiếp các quan Kinh diên vào giảng sách cho vua. Tầng trên thì mặt trước nhà dựng cửa lá sách, chung quanh nong ván, nhưng có trổ nhiều cửa sổ với những dạng khác nhau: hình tròn, hình cái quạt, hình cái khánh... Giữa nhà có bộ án kỷ sơn son thếp vàng để vua ngồi đọc sách làm văn, trên án có bộ văn phòng tứ bảo. Phía sau treo một bài thơ ngự chế do chính tay Minh Mạng viết:


Nhất nhân thụ mệnh trị thiên hạ,


Thiên hạ nguyên phi phụng nhất nhân.


Can thực, tiêu y cần húc chính,


Triệu cần tịch dịch cẩn trì thân.


Tất kỳ vạn tính an canh tạc,


Thì nguyện thiên phương miễn khổ tân.


Cảm bất miễn tư ngôn cố hạnh,


Úy thiện phó tỉ mục lê dân(1).


Phía trước có bày hai đôn sứ, giữa là một khúc trầm hương lớn bằng cả súc gỗ, được chạm lồng chim muông hoa trúc, tuy không đốt lên nhưng quanh năm trong nhà vẫn bàng bạc một mùi hương trầm thoảng nhẹ.


Minh Mạng chợt nhớ đến cảnh đêm qua mình đến chơi thôn Vĩ Dạ, liền cầm bút ghi lại cảnh ấy:


Thanh thanh thùy thúy mạc,


Diệu diệu quải kim luân,


Tứ dã nghiêm sương túc,


Cửu tiên trạm lộ tân(2).


Vua ngừng tay viết, đưa bài thơ cho Hiền phi đang hầu mài mực cho vua, và hỏi:


- Phi thấy bài thơ này của Trẫm như thế nào?


Hiền phi nói:


- Thơ của Ngài Ngự rất hay, vừa tinh tế vừa hàm súc, cảnh thanh tân mà tình dạt dào, phải đồng cảm lắm với quê hương đất nước mới viết ra được những lời châu ngọc đó.


Minh Mạng nói:


- Thơ ta làm ra là để làm vui khi rỗi việc đó thôi - Ngừng một lát ông lại nói - Nước lấy dân làm gốc, dân lấy cái ăn là Trời. Tuy có cảnh đẹp, mây lành, chim phụng kỳ tập, kỳ lân ra đời, chẳng bằng Được Mùa là điềm lành trên hết. Ta có bài thơ tả cảnh thôn quê giàu có sung túc, để ta đọc cho Phi nghe:


Thương dĩ doanh thu cốc,


Dã tương mậu hạ hòa.


Minh già vô thú thán,


Kích nhưỡng hữu nông ca.(2)


Hiền phi tấm tắc khen:


- Bài thơ này có phong vị chất phác của những bài ca thời cổ nhưng vẫn đầy ý mới mẻ của cuộc sống hiện tại. Thơ của Ngài Ngự tự nhiên thiên thành, không có dấu vết đẽo gọt, mà mỗi lời đầu xuất từ tấm lòng thương dân lo nước.


Giữa lúc đó bà Thục tần dẫn hoàng tử thứ mười Miên Thẩm mới 11 tuổi vào chào lạy. Minh Mạng âu yếm nhìn con:


- Mấy hôm nay con có làm thêm được bài thơ nào không?


- Tâu phụ hoàng, con vừa thi làm thơ với em Trinh, con làm xong trước nó nên đòi mẹ con đưa con tới đây đọc để phụ hoàng nghe.


Minh Mạng nhớ lại khi Thẩm mới bắt đầu đi học, vào chầu mẹ thấy cái quạt trên bàn có bài thơ trong đó có vài chữ nó không hiểu rõ mà đọc thì nghe sướng miệng, nó cố xin cho được rồi đem đến xin cha đọc và cắt nghĩa cho nghe. Ông hỏi:


- Thơ thế nào, con đọc cho ta nghe.


Thẩm cất giọng đọc:


Phong khẩn mộ triều bình,


Quy châu phóng lựu khinh.


Loan đa phàm lũ chuyển,


Giang vĩnh nguyệt đồng hành.


Sa dữ hồi môn thất,


Bình sơn không thủ nghinh.


Hậu môn quần trĩ vấn,


Hải vật sách lam khuynh(1).


Minh Mạng nhớ lại cảnh hôm Thẩm và Trinh theo cha đi thuyền từ Thuận An trở về kinh thành lúc trời đã tối. Ngọn triều vừa yên, gió thổi mạnh, thuyền lướt sóng như bay, những cồn cát chạy dài hai bên bờ và xa xa núi Ngự bình như đưa tay đón mời. Vì núi Ngự bình hình bằng thẳng vuông vức đột khởi lên nên Thẩm viết: “Bình sơn không thủ nghinh” núi Ngự Bình giơ tay không đón mời, vừa tả được hình tượng, vừa đầy đủ tình cảm. Nó lại còn mang cả một giỏ hải vật quý tử của Thuận về cho các em trai, em gái từ trong nhà vui mừng hớn hở ra đón. Cảnh, tình, sự đầy đủ, hòa quyện với nhau nhất khí.


Minh Mạng nhìn sợi lông trắng ở lông mày bên phải của con, nghĩ thầm Lý Bạch xưa có bài Bạch hào tử ca (bài ca về Chàng có sợi lông trắng). Thẩm cũng làm một bài Bạch hào tử ca, câu cuối viết: “Lộc tửu thanh sơn khiếu Lý Bạch, khởi công vị ngã tài phấn kiện bút vi trường ca(1). Biết đâu nó chẳng trở thành một thi hào của nước ta sau này. Hai em trai nó là Miên Trinh, Miên Bửu(2) và ba em gái nó Nguyệt Đình, Mai Am, Huệ Phố cũng bắt chước anh làm thơ. Nhưng chỉ có thơ Miên Thẩm là xuất sắc hơn cả. Nó không những có tài mà còn có tâm, biết thương xót cảnh khổ của người dân. Nó còn có lòng yêu nước, từng làm bài ca tiễn người tráng sĩ lên đường đánh giặc. Nó cũng biết đả kích bọn xâm lược như Mã Viện: “Đồng trụ công thành hợp thối cư, Cứ yên cố hễ ý hà như(3)? Ý thơ có sự phát minh, khám phá.


Tài thơ của nó đã vượt hơn ta rồi. Minh Mạng thầm nghĩ.


Nửa đêm khắc khoải không ngủ được, vua nghĩ đến đất Bắc Kỳ gặp nạn đói mà thiếu quan lại tài giỏi, liêm chính giúp nước yên dân, ông làm bài thơ Trung dạ Bắc cố thuật hoài (Nửa đêm nhớ về phương Bắc giãi bày nỗi lòng):


Kỳ hỷ cam lâm giáng,


Do hiềm mễ giá ngang.


Tích thời ưu thủy lạo,


Kim nhật hoạn cơ hoang.


Thượng thiểu tuần lương phủ,


Hạ đa đố địch thương.


Trung tiêu bất thành mị,


Bắc cố khước bàng hoàng(1).


Tập thơ làm xong, vua sai Đại học sĩ Trương Lăng Quế tuyên đọc cho Thị thần nghe, rồi hỏi:


- Thơ của trẫm đối với thơ Lê Thánh Tông thế nào?


Ngự sử Phan Bá Đạt thưa rằng:


- Thơ Thánh Tông phần nhiều là cần cho điêu luyện, còn thơ ngự chế thì theo tình cảnh mà tả ra, cần phát minh về đạo trị bình, mà lời thơ thấy hùng hồn hơn.


Minh Mạng nói:


- Phàm làm thơ mà dùng chữ, cần phải bình thường dễ hiểu, ngâm đọc lâu càng thấy cái ý vị sâu xa, nếu dùng chữ hiểm hóc quái dị để cho đẹp lời, coi lâu thấy nhạt mà vô vị như thế thì dùng làm gì? Khi nhàn hạ vua tôi cùng nhau ngâm thơ để làm vui, hoặc khi cùng ngụ cái ý khuyên răn, há chẳng phải lấy đấy làm công vụ cho trị bình ư? Bởi thế trẫm mỗi khi có làm được bài thơ nào, phải đưa cho bọn các khanh xem, đó là muốn tham khảo ý kiến mọi người xem thơ của trẫm có đạt lời, đạt ý hay không?


Thơ của Minh Mạng được tập hợp trong 4 tập Ngự chế thi, in cùng 2 tập Ngự chế vănMinh Mạng chiếu dụ. Tháng giêng năm Minh Mạng thứ 12 (1831) nhân bộ Ngự chế thi văn sơ tập đem khắc in, ông thân viết bài tựa, trong đó có đoạn: “Những thơ ta làm đó phần nhiều là mình tự dạy mình về đạo kính trời, yêu dân, so sánh lúc tạnh lúc mưa để xem thời tiết, không có lời hoa hòe chải chuốt để cho người ta thích nghe. Không như cái học của thư sinh, tìm từng chương trích từng câu mà muốn đua đẹp tranh hay với các văn nhân, mặc khách đâu... Huống chi vua chúa không phải lấy việc hay thơ làm chức vụ”.


Do quan niệm như vậy, nên Minh Mạng rất ghét thứ văn phù hoa trống rỗng. Nhân dịp Tứ tuần đại khánh của Minh Mạng, Thị lang Nội các là Phan Thanh Giản và Trương Đăng Quế dâng bài Tụng Đại khánh thuật các công việc tự lúc vua lên ngôi tới nay, siêng lo chính trị làm gốc để được phúc hưởng thọ. Minh Mạng liền phê vào bài Tụng rằng: “Bọn người không lo cố gắng làm hết chức phận, cứ ngày càng thêm lầm lỗi, nay lại làm bài văn vô dụng này, đối với lầm lỗi có bổ ích gì? Trẫm có thích nịnh ngoài mặt đâu? Vậy ném trả lại và truyền chỉ quở mắng”.


Minh Mạng nói với Thị thần:


- Khi trẫm làm thái tử để tâm vào sách vở, các sử đời Hán, Đường, Tống, Nguyên, không sử nào là không xem, nhưng không nhớ được cho lắm; chợt khi nghĩ đến việc đời Nguyên và Minh đem ra hỏi các bầy tôi, thì không ai trả lời được, dáng chừng chưa đọc đến sử ấy chăng?


Quang lộc tự khanh Phan Huy Thực thưa rằng:


- Từ đời Lê lại đây, người học về cử nghiệp(1) chỉ đọc các sử Hán, Đường, Tống để đi thi mà tôi.


Minh Mạng nói:


- Từ đời Nguyên, Minh đến Thanh không dưới sáu, bảy trăm năm, xét đến ngày nay thì từ Tống trở lên đã là thái cổ rồi, kẻ học giả lại bỏ gần mà cầu xa thế là tại sao?


Các quan nín lặng không ai dám nói. Minh Mạng lại quay sang Thiêm sự Lê Văn Đức hỏi, thì Văn Đức thưa:


- Thần sở học là học cái văn cử nghiệp đó thôi.


Minh Mạng thở dài nói:


- Lâu nay khoa cử làm cho người ta sai lầm. Trẫm nghĩ văn chương vốn không có qui củ nhất định, mà nay những văn cử nghiệp chỉ câu nệ cái hủ sáo, khoe khoang lẫn với nhau, biệt lập mỗi nhà một lối, nhân phẩm cao hay thấp do tự đó, khoa trường lấy hay bỏ cũng do tự đó. Học như thế thì trách nào nhân tài chẳng kém đi. Song tập tục đã quen rồi, khó đổi ngay được, về sau nên dần dần đổi lại.


*


 Tuy Minh Mạng chưa thể nhất thời thay đổi chế độ, nhưng trong thực tế, ông cũng đã nhiều lần dùng người không thông qua con đường khoa mục, như trong trường hợp Nguyễn Tri Phương.


Nguyễn Tri Phương người làng Đường Long, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, sinh trong một gia đình nhiều đời làm ruộng và làm thợ mộc. Lúc lớn lên Phương đã có một thân hình mạnh khỏe, tráng kiện và đặc biệt rất thông minh, chăm học. Ngay lúc còn nhỏ học ở làng, Phương đã thích đọc các sách Luận ngữ, Tả truyện, không đi vào cách học tầm chương trích cú mà chỉ thích những điều xử thế thực tế với mục đích học để ứng dụng ở đời. Học văn nhưng Phương lại học cả võ, say mê võ thuật, nghiên cứu cả binh thư đồ trận.


Đến đầu triều Minh Mạng, Phương làm chức thơ lại nhỏ ở huyện đường Phong Điền. Trí thông minh sắc sảo và óc thực tế nhạy bén của Phương đã có dịp được biểu lộ: Một vụ án bí ẩn với việc chết oan của một người dân vô tội trước đó đã được viên thơ lại ăn hối lộ rồi bỏ qua, nay địa phương nghiên cứu kỹ và tìm ra manh mối. Phương làm một bản án rất chặt chẽ, khúc chiết dânglên. Tiếng lành đồn xa, một thời gian ngắn sau đó, thượng thư bộ Hộ là Nguyễn Đăng Tuân đưa Phương lên làm việc ở Bộ. Tài năng sắc sảo, tướng mạo khác thường và nhất là chữ viết rất đẹp. Phương được trọng dụng và chuyên viết sớ của Bộ dâng lên vua. Ba năm sau, lần đầu tiên gặp Phương vua Minh Mạng đã cả khen: phẩm cách hơn người, chữ tốt văn hay, dù bậc đại khoa cũng không hơn được. Vua cho Nguyễn Tri Phương nhận chức Biên tu Nội các.


Từ đó Phương làm việc ở Nội các, nơi thường xuyên tiếp xúc với vua và làm việc ở văn phòng riêng của vua theo lệnh trực tiếp của vua.


Một hôm, Minh Mạng hỏi Nguyễn Tri Phương:


- Theo khanh thì việc cắt đặt quan lại hiện nay như thế nào?


Nguyễn Tri Phương nói:


- Tâu bệ hạ, hiện nay các quan đứng đầu các Bộ, Nha thường đưa con em họ hàng của mình vào làm vây cánh cho mình, thậm chí có những nha, sở người làm việc quan phần lớn là thân thích, dây mơ rễ má với nhau. Chẳng hạn như có Nha ở Bộ Công, người lo việc thầu xây cất công trình, lại có em họ là người lo việc kiểm tra chất lượng công trình, họ thông lưng với nhau bòn rút của công để mưu lợi riêng. Cũng có khi quan ở bộ Hình lại gửi con em cho quan ở bộ Công, quan ở bộ Công lại gửi con em cho quan ở bộ Lại, nên khi xảy ra chuyện cất nhắc người một cách tư túi hay việc ăn hối lộ bị phát giác, các bộ lại bao che lẫn cho nhau, không trừng trị thẳng tay. Nếu duy trì cái vòng tròn khép kín như vậy, thì việc gian trá không thể nào phát giác ra được.


Minh Mạng suy nghĩ một hồi rồi nói:


- Để tránh việc kéo bè kéo cánh, ỷ thế làm bậy dẫn tới làm cho quan lại hư hỏng, trẫm quyết định áp dụng triệt để chế độ “Hồi ty”(1). Ta có một số quy định chính như sau:


Một là không được làm quan ở một trong các địa phương như nguyên quán, trú quán, quê mẹ, quê vợ, nơi du học lúc còn trẻ.


Hai là các quan chức đứng đầu trấn thì không được cử người cùng chung một quê.


Ba là các loại dịch thuộc các bộ, các nha có bố con, anh em ruột, anh em chú bác, người có họ hàng xa và có tình thông gia đều phải hồi ty.


Bốn là các nha môn lớn nhỏ, trong ngoài nếu trong một nha, người nào có tình thầy trò thân thiết đều phải hồi ty.


Minh Mạng lại đem dự kiến về việc chia tỉnh ra hỏi. Nguyễn Tri Phương nói:


- Tâu bệ hạ, từ trước đến nay, 11 trấn thống thuộc cả về một viên Tổng trấn Bắc thành, quyền hành to quá. Nếu theo từng hạt chia đặt thì sau này sẽ không có cái lo “đuôi to khó vẫy”, mà các hạt ấy lại như phên giậu ràng buộc lẫn nhau, nước nhà sẽ được vững bền. Điều lợi thứ hai là, nay nhân địa thế, chia đặt ra từng tỉnh, tỉnh nào cũng có quan ty chuyên trách thì chức phận không quá nặng, công việc cũng không quá bộn, người gánh trách nhiệm không đến nỗi nặng quá, không làm nổi.


- Theo khanh thì nên dựa trên cơ sở nào mà chia tỉnh?


- Muôn tâu, theo thiển ý của thần thì nên dựa trên cơ sở địa lý và nhân văn. Chẳng hạn như ở Nam Kỳ nên chia làm sáu tỉnh, với đặc điểm chia theo chiều Đông - Tây, lấy các con sông làm địa giới tỉnh. Như vậy tỉnh nào của Nam Kỳ cũng có đường biên giới với Chân Lạp, có đường giao thông đường thủy chạy dọc theo chiều dài tỉnh ấy và đều có đường mở ra biển - Nguyễn Tri Phương đến trước bản đồ Nam Kỳ treo trên vách tường điện Cần Chánh dùng tay chỉ vạch địa giới từng tỉnh cho vua xem, giống như một vị tướng đứng trước một bản đồ quân sự.


(còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info







(1) Dịch:      Một người vâng mệnh trị thiên hạ,


                   Thiên hạ không cung phụng một người.


                   Áo mỏng cơm khô lo việc nước,


                   Giữ thân chiều sớm chẳng hề ngơi.


                   Vì mong trăm họ yên no ấm,


                   Luôn nguyện muôn phương khỏi ngậm ngùi,


                   Lời nói việc làm lo hợp một,


                   Chăn dân, tròn trách nhiệm cùng trời.




(2) Dịch:      Đêm vừa rủ tấm màn xanh,


                   Bánh xe vàng đã treo vành trên cao.


                   Ruộng đồng sương đọng dạt dào.


                   Trời gieo móc mới khác nào hạt châu.





(1) Dịch:   Gió gấp triều, vừa lặng,



Thuyền về lướt tựa bay.


Vực nhiều buồm trở mãi,


Sông ngái nguyệt theo hoài.


Cồn cát qua, ngăn mặt,


Non Bình rước trỏ tay.


Cửa vào đàn trẻ hỏi,


Tôm cá đổ nghiêng oi.




(1) Dịch: Rót rượu non xanh gọi Lý Bạch, Hãy đem ngọn bút cứng, cùng ta viết trường ca.




(2) Miên Trinh tức Tuy Lý vương, Miên Bửu tức Tương An quận vương.




(3) Đồng trụ công thành thân chẳng thoái, Trên yên nhìn ngó ý sao đây?





(1) Dịch:   Đã mừng mưa ngọt tưới,



Còn hiềm giá gạo cao.


Trước vừa lo lụt lội,


Nay đói kém thêm rầu.


Trên ít quan tài giỏi,


Dưới nhiều bọn mọt sâu.


Nửa đêm không thành giấc,


Ngoái Bắc, dạ cồn cào.




(1) Cử nghiệp: học để đi thi.




(1) Hồi ty: tránh né.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 11.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »