tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19375689
Tiểu thuyết
19.10.2011
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

Một hôm, ông vời Nguyễn Hữu Thận, hỏi rằng:


- Gần đây triều tham tâu việc so với ngày trước thế nào?


Nguyễn Hữu Thận trả lời:


- Trước kia thường ngày tâu việc, bọn thần lui triều thì đã mỏi mệt, cho nên công việc chứa chất nhiều. Nay tâu việc có ngày thì ngày thường được chuyên tâm làm việc, cho nên việc Bộ hơi gọn.


Minh Mạng nói:


- Trẫm nay tuổi đang mạnh có thể cố gắng xét đoán công việc. Chỉ việc sợ sau này mỏi mệt không thể được như ngày nay. Xem ra thì người bầy tôi không dám làm biếng là vì sợ, chứ làm vua ngôi cao thế mạnh, ai cũng kính sợ, cái lòng trễ nải dễ sinh. Vậy thì bầy tôi phải khuyên răn vua cho được trước sau như một là việc hay.


Minh Mạng nằm nghỉ ngơi, có năm cung nữ hầu bên cạnh. Một bà quặt, một bà đấm bóp, một bà hát nhè nhẹ cho vua ngủ được ngon giấc, một bà vấn thuốc têm trầu để sẵn cho vua dùng. Minh Mạng lệnh cho các cung nữ khi ông ngủ không ai được to tiếng, không ai được đụng chạm vào người ông, nếu trái lệnh sẽ bị chém đầu.


Nhưng bữa nay ông muốn ngủ mà không sao chợp mắt được.


Cơn bệnh vừa qua đã làm ông suy nghĩ lại một số điều. Trước đây ông chủ trương độc tôn Nho giáo vì tín điều cốt lõi của Nho giáo là tôn quân quyền, có lợi cho chế độ quân chủ. Ông cho xây dựng Văn miếu thờ Khổng tử ở kinh đô Huế và ở các trấn. Hàng năm, ông thường lệnh cho Nội các cùng bộ Lễ ban phát Ngũ Kinh, Tứ Thư đại toàn, Tứ thư nhân vật bị khảo, Thi văn tập yếu... cho các học đường ở kinh đô và các trấn. Có năm tổng số sách Nho học kể trên được phát cho học quan ở Quốc Tử Giám và Đốc học, Giáo thụ, Huấn đạo ở các trấn lên tới 1.120 bộ. Việc đào tạo nhân tài từ kinh đô đến làng xã đều dựa vào các sách kinh điển của Nho gia và việc tuyểnchọn quan lại cũng hoàn toàn thông qua các kỳ thi mà đề bài từ kinh nghĩa, thơ phú, văn sách thi Hương và đối sách thi Đình đều rút ra từ sách Nho học.


Nhưng sau khi hiểu rõ sức lôi kéo, sự hấp dẫn của Gia Tô giáo trong việc thu phục lòng người, Minh Mạng thấy chỉ cấm đạo không chưa đủ, mà còn phải phát triển Phật giáo để làm đối trọng với Gia Tô giáo, và để cho dân chúng có chỗ nương tựa về mặt tinh thần.


Ngày hôm sau, khi sương mù còn nhẹ phủ dòng Hương, Minh Mạng lên thuyền ngự. Thuyền chia thành từng gian: Gia của vua, gian của các bà cung phi, gian của nô tỳ thái giám. Bề rộng chừng bốn thước nhưng bề dài đến hơn chục thước. Giống như cả một tòa lâu đài thu hẹp lại, tường và cửa đều làm bằng thứ gỗ nhẹ, có trần, bên trên lợp gỗ hào láng. Lâu đài này dựng lên trên những chiếc thuyền kết lại với nhau và lát ván, cũng có một cột cờ lớn phất phới lá cờ vàng.


Chiếc thuyền rồng của vua ngự không có lính chèo, nhưng do sáu hoặc tám chiếc thuyền khác kéo. Mỗi thuyền có chừng năm sáu chục lính Long thuyền chèo. Ngoài ra còn có một chiếc thuyền con dùng để liên lạc giữa thuyền Ngự của vua với thuyền của các quan theo hầu. Thuyền rồng và thuyền các quan treo cờ kết đèn, nối đuôi nhau thành một hàng dài lướt trên mặt sông. Tiếng trống, tiếng nhã nhạc, tiếng chèo đập nước vang dậy cả một vùng.


Mặt trời vừa lên, màu xanh trong vắt của sông Hương lung linh như ngọc bích dưới ánh nắng, vài chiếc thuyền nhẹ nhàng trôi thơ thẩn, xa xa những dặng núi xanh tím in đậm lên nền trời xanh nhạt. Minh Mạng ngồi trên thuyền, nhìn cảnh cảnh trí non, nước, trời, mây, lòng bỗng nhẹ lâng lâng. Ông nhớ đến câu thơ con trưởng ông là Miên Tông đã vịnh: Ba bình xuân thủy lung yên sắc, Chu trục thần phong động lỗ thanh. Thiên tửu vị can nhu ngạn thọ, Sơn hoa do luyến kết vân anh(1). Ông mừng vì thấy Miên Tông có khiếu làm thơ, thơ khá là trang nhã


Thuyền ngược dòng sông lên vùng ngoại ô Kim Long, một làng xinh xắn ẩn mình trong một rừng cây ăn trái xanh um. Đi thêm một đoạn nữa, thuyền cặp bến trước cửa chùa Thiên Mụ. Từ cổng tam quan với bốn trụ biểu xây sát đường cái đi vào chùa, người ta thấy điện Thiên Vương, điện Ngọc Hoàng, điện Đại Hùng, Thuyết Pháp đường, lầu Tàng Kinh.


Hai bên cửa chùa, về phía tả có lầu bia hình lục giác. Bia bằng đá Thanh khá lớn, dựng lên trên lưng một con rùa bằng đá cẩm thạch, đều được khắc chạm uyển chuyển, tinh vi, được dựng từ thời chúa Nguyễn Phúc Chu. Về phía hữu, có lầu chuông hình lục giác. Quả chuông lớn đúc bằng đồng, mặt trên có 8 chữ “Thọ” khắc theo lối chữ triện, ở giữa thân chuông chia làm 4 khoảng, khắc bài minh của chúa Nguyễn Phúc Chu và chạm nổi những hình long, vân, nhật, tình, ở phía dưới khắc hình bát quái và thủy ba. Ngoài ra, còn có Vân thủy đường, Trí Vi Vương Thiên đường, điện Đại Bi, điện Dược sư và một vài căn nhà của các vị sư.


Sau chùa, một khu vườn rộng nhiều hoa thơm cỏ lạ, gọi là Côn Da có nhà Phương trượng cùng một nhà nhỏ khác dành cho các nhà sư nghỉ ngơi sau những giờ tụng niệm. Điện Đại Hùng ở chính giữa chùa, gồm chính đường có ba gian, hai chái và tiền đường có năm gian hợp lại thành một tòa. Ngoài những tượng mặt Phật bằng đồng sáng chói, còn treo một khánh đồng khá lớn mang hình nhật nguyệt tinh tú do một vị quan người Quảng Trị là Trần Đình Ân thuê người Bồ Đào Nha Jean de la Croix đúc năm 1677 để cung tiến cho chùa, và treo một bức tranh hoành phi bằng gỗ sơn son thếp vàng do tự tay chúa Nguyễn Phúc Chu ngự đề năm 1714.


Phía sau chùa có điện Di Lặc, điện Quan Âm, điện Tàng Kinh, mỗi điện có ba gian. Trước điện Đại Hùng về phía đông và tây, mỗi bên có một điện Thập Vương, trước mỗi điện có một căn nhà gọi là “Lôi gia”.


Ngoài điện Đại Hùng, có một cửa gồm ba gian có lầu gọi là “Nghi môn” trên vách cửa có sáu bức tượng Kim Ôn nổi. Bên cửa tả có gác chuông, cửa hữu có nhà trống.


Nhìn Điếu ngư đài bên sông Hương trước chùa, nơi chúa Nguyễn Phúc Chu thường đến câu cá, uống rượu, ngâm thơ, Minh Mạng nhớ lại một truyền thuyết: Gò đất Hà Khê có vượng khí linh thiêng nhưng bị Cao Biền quan nhà Đường cắt long mạch, yểm, khiến cho về sau khí thiêng không tụ được. Một đêm, có một bà già đầu tóc bạc phơ mặc áo đỏ quần xanh, ngồi trên đỉnh gò đồi và nói: “Rồi đây sẽ có một vị chân chúa đến lập chùa thờ Phật. Cầu thỉnh khí thiêng trở về núi này để giúp dân giúp nước”. Nói xong, người đàn bà này biến mất. Dân chúng gọi tên gò đồi này là Thiên Mụ Sơn (núi bà trời). Đến khi Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Quảng, nghe chuyện trên, tự cho mình là chân chúa, sai người cất dựng chùa, viết biển đề “Thiên Mụ Tự”. Đời chúa Nguyễn Phúc Tần cho trùng tu chùa, đúc chuông. Đến chúa Nguyễn Phúc Chu lại tiếp tục cho sửa sang, dựng bia, xây dựng thêm nhiều điện, đường huy hoàng tráng lệ. Đời Gia Long tại cho sửa sang lại, đẹp hơn.


Minh Mạng thầm nghĩ, thì ra ông cha mình đã biết cách dùng Phật giáo để thu phục lòng người.


Sau khi trở về cung, Minh Mạng ra lệnh trùng tu lại chùa Thiên Mụ, các ngôi chùa khác như Từ Hiếu, Báo Quốc, Diệu Đế... cũng được củng cố và xây dựng thêm. Hơn thế nữa, Minh Mạng còn tỏ ra muốn tìm hiểu về giáo lý của Phật giáo và thường đàm đạo với các bầy tôi thân cận, các hòa thượng về những vấn đề liên quan với tôn giáo này. Có lần ông đã hỏi một vị hòa thượng:


- Bạch đại sư, theo ý đại sư thì Nho giáo với Phật giáo khác nhau ở chỗ nào?


Hòa thượng nói:


- Tâu Ngài Ngự, Nho giáo với Phật giáo vốn “đồng quy nhi thù đồ”(1) như Đức Khổng nói. Theo Nho giáo, khả năng thiên bẩm của mỗi người, Tính hay Thiên Lý, được tạo thành do khí hạo nhiên của trời đất; kết lại, giữ lại thì là Tâm; tản ra, phát hiện ra là Minh Đức, Lương Tri(2), cùng với sự hiểu biết ngoại vật mà lập thành là cái Ý hay cái Chí vậy.


Phật giáo cho rằng khả năng nhận thức của con người không đứng tách rời mà kết hợp với nhiều yếu tố khác gọi là Ngũ Uẩn: Sắc là sắc tướng, hình thể của vạn vật, ngũ căn(3) và ngũ trần(4). Thọ là tri giác, cảm giác. Tưởng là ý thức, tri thức khi tiếp xúc với ngoại cảnh. Hành là hành động và cả những nguyên nhân dẫn đến hành động. Thức là nhận thức về sự vật và bản thân.


Cái mà Nho giáo gọi là khí, hồn, phách, Phật giáo gọi là Tâm, Nghiệp, Thân. Khi con người chết đi, phách, thân tiêu tan đi, nhưng hồn hay nghiệp vẫn còn, và cái Khí Phát Dương cũng như Linh quang tức Tâm trở về chỗ cao sang trong vũ trụ.


Phật giáo cho rằng khi Vô Minh chuyển động, Linh Quang vọng động, sẽ biến tạo ra vũ trụ vạn vật. Nho giáo cũng đồng quan niệm cho rằng trong khi Âm Dương chuyển động thì khí trời đất nghi ngút, trên dưới giao hợp, vạn vật bởi cái khí tinh thuần ấy mà hóa ra, rồi giống đực cái giao cấu với nhau mà vạn vật sinh hóa. Nho giáo cho rằng có năm nguyên tố là Ngũ hành. Trời lấy số 1 mà sinh hành Thủy, đất lấy số 6 mà làm cho thành (hành Thổ). Đất lấy số 2 mà sinh hành Hỏa, trời lấy số 7 mà làm cho thành. Trời lấy số 3 mà sinh hành Mộc, đất lấy số 8 mà làm cho thành. Đất lấy số 4 mà sinh hành Kim, trời lấy số 9 mà làm cho thành. Trong ngũ hành, hành Thổ là bản chất của Đất, rất rộng lớn, khả dĩ có thể bao dung được bốn hành kia nên lùi lại sau cùng. Đó là 5 nguyên tố tạo lập nên vũ trụ vạn vật.


Phật giáo cũng có quan niệm tương tự bằng thuyết “lục đại duyên khởi”. “Lục đại duyên khởi” là do “tứ đại duyên khởi” mà ra. “Tứ đại duyên khởi” là: Địa đại, trỏ sự cứng. Thủy đại, trỏ sự lưu động. Hỏa đại, trỏ năng lực, Phong đại, trỏ sự chuyển động. Đó là bốn nguyên tố tạo thành vũ trụ vạn vật. Về sau lại thêm hai nguyên tố nữa: Không đại, trỏ không gian. Thức đại, trỏ ý thức, tức tâm.


Nói chung, Nho giáo và Phật giáo đã gặp nhau trên nhiều điểm. Nhưng đến sự hướng thiện con người và quan niệm về cuộc đời, hai giáo thuyết đã tách sang hai ngả đường khác nhau. Nho giáo chủ trương rằng khả năng tri thức của con người có thể thông đạt tất cả. Muốn vậy phải học và luôn luôn thực tập những điều đã học. Phật giáo lại cho rằng con người có tri thức là khổ, vì tri thức chỉ là cái giả tạm. Nho giáo chú trọng đến sự Sinh và Phật giáo chú trọng đến sự Siêu Sinh (nhập diệt). Do đó Nho giáo chủ trương Nhập thế, còn Phật giáo chủ trương Xuất thế, sự khác nhau là ở đó.


Minh Mạng lại hỏi:


- Nay ta muốn cơ đồ dài lâu, đạo Phật chấn hưng rực rỡ, thì phải làm như thếnào?


Hòa thượng nói:


- Trong bài tựa sách Thiền tông chỉ nam của đứcTrần Thái Tông có thuật lời của Quốc sư Trúc Lâm núi Yên Tử nói: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở tại trong tâm. Hễ tâm yên lặng và hiểu biết ấy là Phật thực vậy. Nếu Ngài Ngự muốn chấn hưng đạo Phật, thì phải đem thân mình ra làm người dẫn đường cho thiên hạ. Đạo Phật vốn giới sát(1), nếu Ngài Ngự đem cái tâm từ bi ra cảm hóa mọi người, cho mọi người cùng đi theo hướng thiện, thì đó là cách tốt nhất để hoằng dương Phật pháp vậy”.


Minh Mạng nín lặng hồi lâu. Ông biết hòa thượng có ý khuyên mình không nên dùng hình phạt quá nghiêm khắc. Đọc sách Tuân tử, Hàn Phi tử, ông tán thành cái thuyết con người sinh ra vốn tính ác, phải dùng pháp luật để kiềm chế, uốn nắn cho nên rất đề cao pháp trị. Đối với Minh Mạng, trên kể từ hoàng thân quốc thích, dưới đến thứ dân đều bình đẳng trước pháp luật. Ai mắc tội cũng đều đem ra xét xử và xử đúng pháp luật. Minh Mạng kiên quyết xóa bỏ lệ “Bát Nghị”(2) tồn tại rất lâu dưới thời quân chủ Việt Nam. Ông cho rằng sau một thời kỳ mất ổn định về chính trị, để duy trì kỷ cương xã hội, phòng ngừa và trừng trị tham quan nhũng lại, tất yếu phải đề cao pháp luật. Bộ Hoàng Việt luật lệ, gồm 398 điều đã được biên soạn xong và thi hành từ triều Gia Long. Minh Mạng sai các quan sửa lại bộ luật Gia Long và định thêm những điều luật mới như: Định lệ chi tiết phân xử sự làm việc sai lầm của các thuộc viên và cắt đường quan lại tham nhũng và hối lộ, định lệ về việc xét các địa phương xử án hay hoặc dở... nhằm hạn chế sự hư hỏng của quan lại.


Minh Mạng nghĩ ngợi một hồi, rồi nói với hòa thượng:


- Trẫm dùng hình phạt đó chẳng qua chỉ là áp dụng nguyên tắc “Sát nhất nhân vạn nhân cụ”(1) mà thôi. Nếu đem tâm từ bi thì phải biết thương dân, mà thương dân thì phải trừng trị bọn tham quan nhũng lại, không có cách nào khác. Hòa thượng cũng nên hiểu cho ta điều đó.


Từ đó, trong một số trường hợp, Minh Mạng cũng tỏ ra khoan hồng hơn trước. Như ở Gia Định, có bọn trộm đạo bị bắt khép vào tội chết, vua xét thấy vừa rồi ở Gia Định có bệnh dịch lệ, sinh kế của dân không được đầy đủ, hoặc có kẻ khổ vì đói rét mới mắc vào tội lệ, vua liền cho những kẻ trộm đạo, kẻ tùng đảng giảm tội chết, chỉ bắt tội lưu đày. Sau ở Bắc thành, khép án cường đạo, có hơn 200 người phải xử tử. Vua ban dụ rằng: “Bọn trộm mà kẻ tùng đảng còn ở ngoài đứng trông, chưa vào trong nhà, hoặc chỉ lấy một cái đồ, số đồ không đáng bao nhiêu, tình cũng nên thương, nếu xét theo đúng luật mà xử tử, thì đâu phải là ý thương xót được, cho phép tâu để lượng giảm tội phạt”.


Quan Hiệp trấn Nghệ An Vũ Xuân Cẩn hạch tâu nói: “Quan Đề điệu là Nguyễn Hữu Nghi, quan coi thi là Hoàng Quýnh dùng danh tiếng lấy người trúng tuyển, có thí sinh đã rớt rồi, lại cho đậu, thực là trái với phép tắc thi cử”.


Vua giao cho đình thần xét tội, có người nghị án nên chém, có người nghị án nên cách thức.


Binh bộ Thượng thư Đoàn Viết Nguyên, Lễ bộ Tham tri Nguyễn Đăng Tuân đều tâu:


- Hữu Nghi với Hoàng Quýnh có trái phép tuyển cử thực, nhưng vốn bản tâm thì chỉ là cần được người thực tài, tình cũng nên thương.


Minh Mạng gật đầu, nói:


- Tội phạm của Hữu Nghi thực không tha được, nhưng khép tội chém, thì cũng nặng quá, chỉ nên cách thức, đưa ra Quảng Bình tiền quân hiệu lực.


Khi quân của Phan Bá Vành ở Bắc thành đã bị tru lục rồi, còn bắt được những kẻ tùng đảng hơn 700 người. Quan Hiệp Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Hữu Thận tâu: “Tụi bắt được này, đều là đảng phản nghịch, xin cứ theo luật mà chém hết”.


Vua nói rằng: “Tụi ấy cũng có kẻ bị bức bách mà ép phải theo giặc, nếu chém cả đi, thì thực không nỡ tâm”. Bèn giao cho đình thần xét kỹ lại, giảm tội tử hình, đi quân thứ hơn 400 người.


Điện Trung Hòa bị đột, quan quản Vũ khố xin cho trùng tu, vua chỉ cho sửa sang lại mà thôi. Vua đi đến nơi thợ làm việc trong điện Thái Hòa, bảo viên đổng lý Lê Văn Đức rằng: “Dùng gạch nát làm móng tường cửa Ngọ môn, nên giữ lại những viên gạch lành để xây thềm. Chỉ làm thêm một cửa cung lớn để các quan ra vào triều yết, ngoài ra đều nhân cái cũ mà sửa chữa lại”. Bộ Công xin đem nhiều gỗ mục trong kho chứa củi ra làm củi nấu. Vua truyền lệnh kiểm soát lại, xem có những gỗ nào còn dùng được, để tùy việc đem dùng. Giao những gỗ mục cho Thủy quân phủ Thừa Thiên dùng làm củi nung gạch ngói, để bớt uổng phí.


Minh Mạng lại hạ lệnh trong ba tiết lớn Vạn thọ, Nguyên đán, Đoan dương, bãi bỏ lệ các quan trong kinh ngoài trấn cống hiến phẩm vật. Việc cống hiến những thổ sản địa phương như cam đường, mắm rươi... cũng được giảm bớt.


*


Thời kỳ đầu triều Minh Mạng, phòng Văn thư mặc dù đã có nhiều thay đổi và tăng thêm quyền hạn so với viện Thị thư dưới triều Gia Long, nhưng nó không khỏi bộc lộ những mặt bất cập. Bởi lẽ, vào những năm đầu ở ngôi, Minh Mạng còn tỏ ra thận trọng và nương nhẹ đối với việc hạn chế quyền hành của các viên Tổng trấn Bắc thành và Tổng trấn Gia Định thành. Để thiết lập một chế độ trung ương tập quyền ở trình độ cao, Minh Mạng không thể để cho tình trạng chia quyền tồn tại lâu được.


Minh Mạng cho rằng cần phải thiết lập một cơ quan mới có đầy đủ quyền hạn thay mặt nhà vua giải quyết mọi việc của các trấn trên phạm vi toàn quốc, cơ quan ấy luôn luôn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của nhà vua. Do đó vào năm Minh Mạng thứ 10 (1829), Minh Mạng quyết định thành lập Nội các.


Nội các là cơ quan thay thế cho Phòng Văn thư, về mặt tổ chức và nhiệm vụ thì có phỏng theo quy chế Nội các của nhà Minh và nhà Thanh Trung Quốc, nhưng Nội các của hai triều đại Minh, Thanh quyền hành luôn đứng trên lục bộ. Nhà Thanh, quan đứng đầu Nội các được thăng lên đến chánh nhất phẩm. Lường trước tệ chuyên quyền của một cơ quan nắm giữ nhiều quyền hành như Nội các, trong lời dụ bầy tôi, Minh Mạng chỉ rõ: “Đế vương ngày xưa kính lo công việc, tóm giữ quyền cương, không ai không có người tôi thân cận để chực chầu ở gần nơi cung, giúp đỡ việc lớn. Nhưng cách đặt quan thì mỗi đời một khác. Xét Bắc triều gần đây, nhà Minh sợ việc Tể tướng chuyền quyền mà đặt Nội các, nhà Thanh cũng làm theo. Xét đến cốt yếu, dẫu không có cái danh Tể tướng mà quyền hành không khác gì Tể tướng, đều không đủ bắt chước cả. Nhà nước ta sau khi đại định, đức Hoàng khảo Thế tổ Cao Hoàng đế ta đặt ra Viện Thị thư. Khi trẫm mới thân chính đổi làm Phòng Văn thư. Nay nghĩ Phòng Văn thư tên gọi chưa thỏa nên đổi làm Nội các. Phàm tên quan và chức việc, nhất thiết sự nghi nên thế nào cho thỏa đáng để có thể liệu về sau thi hành lâu dài mà không có tệ, các khanh nên bàn kỹ tâu lên”. Lời dụ trên của Minh Mạng được các triều thần đem ra nghị bàn. Các triều thần đã nắm bắt được chủ kiến của Minh Mạng là tuy tham khảo Nội các hai triều Minh Thanh nhưng “không đủ bắt chước cả”. Cái lo của nhà vua là tệ chuyên quyền của Nội các như Nội các của Bắc triều “dẫu không có danh Tể tướng mà quyền hành không khác gì Tể tướng”. Thể theo ý định của Minh Mạng, triều thần kiến nghị: “Vậy xin chức Nội các đặt bốn người Quản lãnh, lấy quan tam tứ phẩm ở bộ, viện sung làm công việc”.


Nội các là cơ quan rất quan trọng, công việc rất nhiều, nhiệm vụ có quyền nhận những chương sớ, sổ sách, án kiện của các Nha, Lục bộ cùng các thành, trấn trong ngoài được phụng sắc phê bảo, lãnh chỉ rồi thì nghĩ lời chỉ dụ mà trình lại để tuân hành. Để tránh tệ chuyên quyền, trong một lời dụ gửi cho Quốc Sử quán, Minh Mạng đã đem tấm gương chuyên quyền của Nội các nhà Minh, Thanh để răn đe: “Vua Thánh Tổ nhà Minh mới dựng ra Nội các, lấy viện Hàn Lâm vào làm, thăng chức làm Đại học sĩ nhưng trật chỉ ngũ phẩm để làm cố vấn mà thôi, sau phẩm trật càng cao, quyền hành càng lớn, tuy không có cái tên gọi Tể tướng mà có cái thực quyền Tể tướng cho nên vua Thế Tông nhà Minh dùng Nghiêm Tung, vua Cao Tông nhà Thanh dùng Hòa Thân đều là người u mê mà tùy tiện tác oai tác phúc, cái gương đó thực không xa.


Tuy nhiên cũng có thể châm chước, việc nên làm, chả nhẽ lại bỏ cả, như người vì nghẹn mà bỏ ăn sao! Phương chi, quan chức trong Nội các ngày nay trật chỉ có tam phẩm mà đứng hàng thứ dưới 6 bộ, không thể đứng đầu trăm quan mà giữ mọi việc như nhà Minh, nhà Thanh được. Để tránh việc thông đồng, tư tình giữa các viện quan ở Nội các và các viên quan ngoài, Minh Mạng còn nêu rõ quy định: “Người nào ở Nội các đã được bổ làm quan ngoài, thì không được vì đã từng sung vào Nội các mà tự tiện ra vào”. Nhằm tăng cường trách nhiệm của Nội các và lục bộ, đồng thời cũng nhằm ràng buộc lẫn nhau, Minh Mạng đặt ra chế độ các Phiếu nghĩ của Nội các, nếu có gì không hợp, thì lục bộ trích và tham hạch, ngược lại Phiếu nghĩ, Bản tâu của lục bộ nếu có gì không hợp thì Nội các cũng được trích ra để tham hạch.


Các viên quan Trương Đăng Quế, Hà Duy Phiên, Hà Quyền, Hoàng Quýnh được cử vào Nội các.


Hà Quyền tự Tốn Phủ hiệu Phương Trạch, biệt hiệu Hải Ông người làng Cát Động, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam Thượng, thuở nhỏ thông minh, học giỏi, đã thi đỗ Tiến sĩ trong khoa thi năm 1822 do Trịnh Hoài Đức làm chủ khảo. Khi làm quan ở Viện Hàn Lâm, do có tài văn chương nên các bản chiếu, dụ ông thảo ra vừa viết nhanh, vừa hay, vừa hàm súc được Minh Mạng rất khen ngợi, nên đặc cách đưa ông vào Nội các. Mới 31 tuổi, những cái lắt léo trong nội bộ triều đình và mánh khóe trong chốn quan trường, ông không hiểu biết mấy, cho nên sau khi được cử vào Nội các, ông phải đi thăm dò tìm hiểu ở những tay lão luyện như Thượng bảo khanh Hoàng Quýnh. Hoàng Quýnh đã từng hầu hạ Minh Mạng khi Minh Mạng còn là Hoàng Tử, được Minh Mạng rất tin cậy, nên hiểu được thâm ý của Minh Mạng, lựa chiều thưa gửi sao cho đẹp lòng nhà vua. Minh Mạng đưa Hoàng Quýnh vào Nội các coi như tâm phúc và làm tai mắt cho mình dò xét các quan.


Thấy Hà Quyền đến chơi, Hoàng Quýnh niềm nở tiếp đãi. Tiệc tan, thấy đêm trăng sáng, Hoàng Quýnh mời Hà Quyền cùng đi chơi thuyền trên sông Hương.


Sông Hương nước chảy lững lờ, ngập ngừng như quấn quít lấy đô thành mà không muốn trôi nhanh về cửa biển. Sông chảy qua một miền đất phì nhiêu, nơi thì là những vườn cây ăn quả sum suê ven bờ tươi mát, nơi thì là những khu rừng rậm rạp. Đến Huế thì bên bờ sông in bóng những lâu đài, thành quách, phố phường, chợ búa. Dưới bến, thuyền đậu san sát, những chiếc thuyền trông vừa xinh vừa nhẹ thật thích hợp với cảnh sông nước êm đềm.


Hoàng Quýnh kêu một chiếc đò rồi cùng Hà Quyền đặt chân trên tấm ván cầu bước vào trong đò. Đò thon và dài, được ghép từ năm mảnh ván, có lái và mũi cong để giảm sức cản của nước. Đò có mui tròn, đan bằng tre, có ba phần: trước mũi là một khoảng không gian rộng và thoáng là nơi để du khách hóng mát, ngắm trăng.


Khoang giữa và mui vòm, sàn gỗ ván bào nhẵn, trải chiếu hoa, mặt gối thêu để dành cho khách và kỹ nữ. Sau cùng là khoang che kín dành riêng cho gia đình chủ đò. Hoàng Quýnh và Hà Quyền ngồi ở mũi đò, gọi chủ đò mang rượu ra để hai người cùng uống rượu thưởng trăng. Rượu được vai tuần, Hà Quyền hỏi Hoàng Quýnh:


- Tôi còn trẻ tuổi, quan chức còn thấp mà được Ngài Ngự đặc cách đưa vào Nội các cùng ông Trương, ông Hà, trong lòng trộm lấy làm áy náy. Quan bác có biết mục đích của Ngài Ngự đặt ra Nội các để làm gì không?


Hoàng Quýnh ngạc nhiên:


- Ủa, thế ra quan bác chưa biết cái lệ “tam bất” của hoàng triều ta à?


- “Tam bất” là gì, thưa quan bác?


- “Tam bất” là ba không: không lập Hoàng hậu, không đặt Tể tướng, không lấy Trạng nguyên, cốt để tránh cái vạ ngoại thích, và chuyên quyền, kiêu căng khinh lờn. Quan bác xem đấy, hoàng triều ta người đứng đầu trong tam cung lục viện chỉ được phong Hoàng quý phi hay Chính phi mà thôi. Còn các khoa thi, quan bác có thấy ai đỗ Trạng nguyên bao giờ đâu, chỉ Bảng nhãn, Thám hoa là cùng. Nhà vua không đặt Tể tướng, vì sợ quyền to dễ chuyên quyền, nên mới đặt ra Nội các, phẩm trật thấp hơn các Thượng thư lục bộ, mà lại có thể thay mặt vua khống chế, ràng buộc quyền lực của lục bộ, nhờ giúp nhà vua chỉ đạo mọi việc được sâu sát hơn, ít gây lỗi lầm hơn.


Hà Quyền thầm nghĩ, thì ra chức quan Nội các của mình chân không đến đất, cật không đến trời, chỉ có chức năng giám sát lục bộ mà không có thực quyền, cuối cùng toàn bộ quyền lực vẫn nắm trọn trong tay nhà vua, mình chỉ làm cái bung xung. Đã thế, nếu chỉ trích sai hay việc đáng chỉ trích mà không chỉ trích thì còn bị tội. Nghĩ như vậy nhưng Hà Quyền không dám nói ra vì sợ Hoàng Quýnh sẽ đem lời mình nói tâu với nhà vua. Ông liền nói:


- Thế ra công việc của Nội các cũng hệ trọng, khó khăn lắm nhỉ. Tôi mới làm việc còn chưa quen, nếu có sơ sót gì xin quan bác vui lòng chỉ giáo cho nhé.


Đò đến ngã ba Tuần, nhìn sang tả ngạn, giữa muôn trùng núi non, Hà Quyền thấy nổi lên ngọn “chủ sơn” Kim Phụng, hùng vĩ, xinh đẹp, làm chuẩn cho kinh đô và toàn bộ đồng bằng duyên hải. Phía hữu ngạn xa xa, ngọn Ngự Bình ẩn hiện mờ mờ trong vùng sương khói. Núi không cao lớn, nhưng cân phân “trước tròn sau méo”.


Ánh trăng đổ xuống lòng sông chẳng khác gì một dải lụa vàng vắt ngang qua đô thành. Trong khung cảnh trời nước mênh mông văng vẳng xa đưa một điệu hòa khi trầm khi bổng, khi dồn dập như sóng xô nước cuộn, khi ngân dài như chờ đợi ngập ngừng, khi cao vút lên như thấu tận mây trời, khi hạ thấp mênh mông như chan hòa trên dòng nước. Người ta không biết đích xác tiếng hò nổi lên ở đâu: ở bến Phu Văn lâu hay bên cầu Bạch Hổ, ở chiếc thuyền trôi giữa dòng hay còn nằm trong bến, chỉ biết giọng hò đưa tâm hồn ta man mác như lạc vào một cõi u huyền nào vậy. Nghe câu hò, nhìn lên vầng trăng, Hà Quyền chợt nhớ đến câu thơ của quan Hữu Tham tri bộ Lễ Nguyễn Du “Hương giang nhất phiến nguyệt, Kim cổ hứa đa sầu”(1). Chắc là ông Nguyễn Du cũng đã nhiều lần nghe câu hò “Năm canh xót phận mây bèo, Trăm chìu đòi đoạn” này nên mới có cảm hứng viết nên Truyện Kiều. Có lẽ mình cũng nên noi gương ông ấy, trước mặt vua ngậm miệng không nói gì, để dành thời giờ viết nên những áng thơ tuyệt diệu. Nhớ lại khi đang làm tri phủ Tân Bình, ngày xuân bệnh dậy, ông đã có câu thơ: Sấu cốt thiên năng khi chướng lệ, Lại tình cửu dĩ khiếp phong trần(1) thì đến nay ông thấy câu thơ đó vẫn đúng. Khi Hoàng Quýnh mời ông vào khoang giữa ngủ, ông từ chối không muốn ngả vào vòng tay một nàng Kiều của thời nay. Ông lại trở về làm nhà thơ Tốn Phủ với tâm hồn biết rung động trước cảnh đẹp và tình người.


Đêm càng về khuya. Không biết từ thuyền nào vẳng đến tiếng ca Nam ai:


Ai xui cái bệnh đa tình, đa tình cho mình thiệt dở!


Khi đã mắc vào tròng, biết gỡ cho ra.


Thề trên nguyệt dưới hoa,


Ôm tấm lòng thơ thẩn vào ra,


Riêng trách kẻ đường xa,


Chi mà tệ, tệ bạc mà lắm mà...


Hà Quyền tưởng như người kỹ trên chiếc thuyền không ấy đang trách móc chính ông...


(còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
xem thêm »