tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20019792
Lý luận phê bình văn học
18.10.2011
Vũ Bằng
Khảo về tiểu thuyết (6)

Chương 10: Tiểu thuyết nên viết bằng giọng văn gì? Bởi vì bổn phận của nhà tiểu thuyết là tả chân cuộc đời, tả chân tư tưởng người đời, mà đời như ta thấy, là một cuộc hí trường xen tiếng khóc, có đám cưới lại có đám ma, có người ăn cá, song lại có kẻ vỗ bụng không cơm mà oán khóc, có người anh hùng thất thế nằm cuộn khúc chờ thời lại có kẻ tiểu nhân một bước gặp may vênh vang đắc chí, nên giọng văn dùng viết tiểu thuyết cũng cần phải như đời vậy, nghĩa là vừa vui, vừa buồn, có lúc làm cho người ta oán giận khóc than, nhưng lại cũng có lúc làm cho người ta ngửng mặt lên vui vẻ.


Nói về những lề luật văn chương cổ điển Pháp thì có điều này là tối kỵ: trên sân khấu không thể để cho bi kịch xen hí kịch hay hí kịch xen bi kịch. Nhưng về tiểu thuyết, những lề luật đó không còn có giá trị tuyệt đối nữa và không còn thể nào mà đem thi hành được nữa. Người ta phải cho cái buồn xen lẫn cái vui. Nói thế, tôi không có ý muốn bảo rằng tất cả truyện tự cổ chí kim đều theo cái công lệ đó cả đâu, bởi vì tôi biết có nhiều tiểu thuyết hoàn toàn buồn từ đầu đến cuối và lại có những tiểu thuyết hoàn toàn vui từ đầu đến cuối. Như Bạch Viên tân truyện thì hoàn toàn nghiêm; Quan Âm Thị Kính cũng vậy. Đó là những truyện về đạo giáo. Những truyện về đạo giáo cũng như những truyện có tính cách lịch sử như Hoàng Lê nhất thống chí của ta và Salambô của Pháp, có thể không cần vui cũng được. Nhưng tiểu thuyết, tiểu thuyết phản ảnh của cuộc đời, tiểu thuyết theo chính nghĩa của nó thì không thể không vui. Bởi vì tiểu thuyết, cũng như cuộc đời, có chỗ tối lại có chỗ sáng; bởi vì tiểu thuyết vẽ lại người, vẽ lại những người đương thời, thì có thể nào mà lại không dùng đến một khí giới rất quý giá là sự vui vẻ được.(1)


Duhamel có viết một lần trong một cuốn tiểu thuyết của ông: “Tôi không thể quan niệm được một cuốn tiểu thuyết giá trị mà lại không có khí vị vui vẻ”. Những tác phẩm của Balzac đều chứa chan một khí vị vui vẻ, nhiều khi đến quá độ và thô lỗ nữa. Tác phẩm của Dickens cũng vậy. Thiên tài của Stendhal một phần nhờ ở cái khí vị vui vẻ. Dostoievsky lúc nào cũng xen vào những mầu sắc buồn rầu bi thảm một khí vị vui vẻ đặc biệt của giống Slave làm cho người ta kính phục.


Hardy là một nhà tiểu thuyết danh tiếng không có khí vị vui vẻ. Nhưng sự nghiệp văn chương của ông chứa chan thi vị. Nếu thi vị không có mà khí vị vui vẻ cũng không có nữa thì không thể có gì thay thế được. Galsworthy là một nhà văn có tài và là họa sư danh tiếng của một thế kỷ, của một xã hội; nhưng văn ông không có khí vị vui vẻ và cũng không có cả thi vị nữa. Poul Bourget cũng vậy. Trong những bức tranh vẽ tính tình và cảm giác, ông tỏ ra không có thi vị mà cũng không có cả khí vị vui vẻ nữa. Tâm lý của ông khô khan bởi thiên về lý thuyết. Vậy thì khí vị vui vẻ trong một cuốn tiểu thuyết là gì? Như trên kia đã nói, đó là nghĩa chữ humour tạm dịch ra, nó không giống cái khí vị hoạt kê, hài hước (nguyên chữ Pháp là le comique). Cái khí vị hoạt kê, hài hước có tính cách làm cho người ta cười và gây ra một văn pháp riêng, một giọng văn riêng tương phản hẳn với văn buồn và không thể xen vào với cái buồn trong một chỗ. Truyện Tiếu lâm, truyện Nhật ký sợ vợ của ta và của Tàu, là những thí dụ văn hài hước. Có nên nói thêm một câu rằng văn hoạt kê hài hước của ta tiến triển không được mạnh lắm không? Xét tại sao, không phải phạm vi bài này; chỉ nên biết rằng phần nhiều người ta từ xưa đến nay đều cho một tác phẩm viết toàn bằng giọng văn hài hước, một tác phẩm có khí vị hoạt kê từ đầu đến cuối, chỉ có thể được coi là một quyển văn chơi, không giá trị. Sở dĩ thế, có lẽ bởi dân tộc mình là một dân tộc trang nghiêm trầm tĩnh? Hay là bởi những người viết văn sách, truyện trò cho rằng cái cười, dù là cái cười sâu sắc, vẫn không bao giờ có thể là một tính chất trường cửu của linh hồn và khả dĩ gây được một sức mạnh tiềm tàng về tâm lý? Humour, cái khí vị vui vẻ thì không thế. Nó không cười. Nó chỉ gây cho ta một cảm giác nhẹ nhàng, dễ chịu mà công dụng của nó như một cái đèn chiếu mà ánh sáng tăng giảm luôn luôn. Sự tăng giảm và sự thay đổi ánh sáng đó khiến cho ta có thể nhận một đồ vật dưới mọi hình sắc, mọi phương diện; những phương diện đó, những hình sắc đó, rất có thể tương phản nhau và do đó cáo giác cho ta nhiều bí mật. Khí vị hoạt kê không thế, khí vị hoạt kê chỉ làm cho người ta cười, cười ha hả và có khi thô lỗ. Khí vị vui vẻ biết giữ gìn lịch sự và biết kiềm chế người ta. Nó không có lề luật gì bó buộc cả, nó xuất phát từ tự nhiên chứ không phải do một phương pháp gì chủ định. Khí vị vui vẻ không làm cho ta cười, dù là cười tủm tỉm. Nó chỉ làm cho tính tình ta rung động và, nếu đôi khi nó có làm cho ta cười, ấy cũng bởi nó không thể nào làm khác được.


Không phải tìm lâu, cứ lấy hai truyện Hoa Tiên Kiều ra so sánh, ta cũng thể thấy rằng một phần sự đắc thắng của Kiều trên truyện Hoa Tiên cũng là do cái khí vị vui vẻ của ngòi bút Tiên Điền. Như ta thấy, đọc hết cả một quyển Kiều, ta không thể bật cười ở bất cứ đoạn nào, nhưng cái khí vị vui vẻ làm cho ta đọc mà không thấy nặng nề ở bất cứ đoạn nào; ta thấy dễ chịu, khoan khoái khi đọc những đoạn như Kiều gặp Mã Giám Sinh (Ghế trên ngồi tót sỗ sàng), đoạn Tú Bà ghen Mã Giám Sinh, đánh Kiều (Gã kia dại nết chơi bời), đoạn Hoạn Thư đánh người vào mách chuyện Thúc Sinh lấy Kiều làm lẽ, đoạn Sở Khanh dỗ Kiều, đoạn Thúc Sinh sợ vợ…


Đó là chỉ kể mấy đoạn khả dĩ làm thí dụ cho cái khí vị vui vẻ trong truyện Kiều mà thôi, chứ thực thì trong một tác phẩm nghệ thuật có tiếng, cái khí vị vui vẻ thường bao trùm tất cả, chứ không căn cứ riêng ở câu nào hay đoạn nào.


Cái khí vị vui vẻ không phải là một tiểu xảo nhưng là một thiên bẩm tự nhiên của một linh hồn thành thực muốn biết rõ tất cả cái gì ta trông thấy và nói rõ tất cả cái gì ta biết.


Chương 11: Nhà tiểu thuyết có nên làm văn không?


Có một điều này, xét ra nên bàn kỹ, bởi vì nhiều nhà tiểu thuyết của ta xem chừng vẫn băn khoăn, và, vì đó họ đã chia ra hai phái rõ rệt: một, chủ trương viết tiểu thuyết phải “làm văn”, và một, chủ trương người ta không cần phải “làm văn” trong tiểu thuyết. Phái thứ nhất biết rằng những lề luật quy tắc của nghệ thuật xưa nay vẫn cấm ngặt làm văn, bao giờ cũng phải tự nhiên, nhưng họ cho rằng một tác phẩm mà khô khan, mà không có văn chương bóng bảy điểm xuyết thì tẻ nhạt.


Còn phái thứ hai thì cho rằng: mục đích của tiểu thuyết là tạo tác, là làm sống những nhân vật, vậy thì công việc gọt nặn câu, uốn nắn chữ, chỉ là một công việc phụ, không đáng quan tâm lắm.


Hai phái tương phản nhau rõ rệt, biết bên nào là phải?


Muốn bàn xét quan điểm này, tôi tưởng ta nên tìm cách định nghĩa cho chân xác thế nào là “làm văn”. Hai chữ “làm văn” nói đây, không có ý nói làm một thứ văn thông thường, nghĩa là họp chữ lại để đem biên lên trên mặt giấy; nhưng có ý muốn nói đến một thứ văn hoa mỹ nhưng mà rỗng, một thứ văn mà người ta gọi là thứ “văn nghệ sĩ” (style artiste) được anh em Goncourt ca tụng, một thứ văn như văn biền ngẫu của ta, kêu vang vang nhưng xa sự thực, nhưng ít ý, đầy rẫy những tiểu xảo và những đồ trang hoàng quý giá.


Tôi xin kể hai thí dụ thứ văn đó ra đây; một của Việt Nam và một của Pháp để ta cùng xem, trước khi tìm biết quan điểm và khả thủ ra thế nào.


Thí dụ thứ nhất, trích ở cuốn Madame Gervaisais:


“Là, joliment lasse de porter l’élancement de sa taille, ses épaules abattues, son long cou, elle écoutait légèrement, un peu distraite et comme avec le seul sourire de sa figure, la causerie brisée du petit cercle assis sur des sièges òu étaient représentées en tapisserie les vertus théologales”.(1)


Thí dụ thứ hai, trích ở một cuốn truyện xuất bản năm 1936(2):


“Đã ba hôm nay rồi, em thổ huyết, nỗi lòng thương nhớ, một khối oan khiên, không biết đến bao giờ, nhờ nhạn đưa thư, mà gửi đến cho anh được. Đêm tàn đối bóng chỉ còn biết ngùi than, vóc hạc, mình ve, tóc bù, mắt trũng, còn chăng một sợi tơ lòng ở dưới mưa vàng nắng lụa!”.


Hẳn hai cái thí dụ đã đem cho các bạn thấy cái nguyên tắc của sự bất bình giữa hai phái văn nhân đã nói trên kia vậy.


Đối với phái thứ nhất, cái việc “làm văn” như thế, bây giờ không còn thể hợp thời được nữa.


Như chúng ta đã biết, tiểu thuyết là một cái gì rất thực tế, rất gần đời, dùng vào việc đời, vậy không thể nào lại dùng một thứ văn giả dối, bay bướm, nói để mà không nói gì. Vậy văn của tiểu thuyết phải như thơ của ông thái phó Bạch Cư Dị dùng những lời văn giản phác một bà lão quê mùa có thể hiểu được, chứ cái lối văn hoa thêu gấm dệt, quỷ khóc thần kêu của một số đông đại thi gia như thi tiên Lý Bạch, thi thánh Đỗ Phủ hiến giá cao quý trong đời Thịnh Đường, chỉ là để chơi mà thôi, chỉ là văn chương của một giai cấp đặc biệt, đối với đời không có ảnh hưởng rộng lớn, đối với sự sống không có một sức nhuần thấm sâu xa gì cả. Lối văn kêu đó, tôi cũng nhận là có thể hay được nhưng hay giả dối, hay không vì ý tứ, vì cách diễn tả thành thực, sâu xa, nhưng lấy lời đẹp làm hay, lấy luyện chữ làm hay, lấy luyện câu làm hay, lấy đối khéo làm hay, lấy cách điệu có vẻ riêng làm hay, lấy sinh ngạnh làm hay, lấy quái tịch làm hay, còn ngoài ra không đếm xỉa gì đến cả.


Trái lại, với phái thứ hai, chủ trương không “làm văn” trong tiểu thuyết, cũng không thể được. Phái này đến tận bây giờ vẫn chủ trương rằng công việc chính của nhà tiểu thuyết là hấp dẫn người xem, đưa ta đi vào những sự tình để cho ta say mê trong những sự tình đó, để cho ta hòa mình trong một vài tiếng đồng hồ với những nhân vật tạo tác, vậy thì ngừng lại để tỉa tót, để mài giũa câu văn hay, lời tả đẹp, không có ích gì hết cả.


Thiết tưởng muốn giải quyết cho xong một vấn đề như thế cũng chả khó khăn gì cho lắm. Thì nhà tiểu thuyết cứ việc làm các cách để hấp dẫn độc giả! Thì nhà tiểu thuyết cứ làm cho độc giả thích thú say sưa, đó là một quy tắc tuyệt đối. Nhưng dù sao, mỗi một trang sách ta cũng phải làm cho cái đẹp nẩy nở để cho sự đọc không đến nỗi chỉ thoảng qua nhưng phải ghi mãi vào tâm hồn người đọc. Tôi được xem một cuốn tiểu thuyết của Mỹ dịch ra tiếng Pháp, đề là The Mother’s Cry (nguyên văn: Tiếng kêu của người mẹ, nhưng không hiểu tại sao dịch giả lại đề là La chair de ma chair - Thịt máu của thịt máu tôi). Trong cuốn đó, tác giả, một người đàn bà, kể hết nỗi đau khổ của một người mẹ nuôi năm con, dùng ngôi thứ nhất để nói, và suốt từ đầu đến cuối, không làm văn một chỗ nào, viết những lời nói thực thà, sai mẹo, sai luật, lắp đi lắp lại kể lể dài dòng, nói tóm lại không làm văn một tí gì. Một quyển sách như thế, trước khi xem, hứa hẹn với tôi rất nhiều; nhưng thú thực rằng sau khi đọc hết, tôi chán nản và có cảm tưởng như nghe một người ít thông minh kể một câu chuyện không gãy gọn. Cố nhiên, nó không cảm được người nghe.


Cho nên mới biết, muốn làm cảm được người đọc, nhà tiểu thuyết không thể không làm văn được, nhưng văn đây không phải là thứ viển vông, thứ văn tự người chết, thứ văn chơi đùa; trái lại phải thành thực, phải rõ ràng để phổ cập được đủ các hạng người trong xã hội, phải tả chân được tình trạng thực tại của đời, phải là văn tự hiện tại, phải là văn sống. Chúng ta đã biết rằng tiểu thuyết “gần đời, thiết thực” rất phản đối những cái gì điêu toa, xảo trá, nó lại rất ghét cả sự nhàm sáo, du dương(1) cũng như ghét cái thuật tả chân khoe khoang, phóng đại (réalisme ostentatoire). Tiểu thuyết “gần đời, thiết thực” ngày nay chỉ tin cậy ở thuật tả chân chân chính, thuật tả chân của tâm hồn, vậy muốn làm cảm động người ta, muốn cám dỗ độc giả, muốn làm say sưa độc giả, không thể không dùng đến âm tiết được, không thể không dùng đến sự hòa hợp của âm vận được.


Nhớ lại bài tựa Kinh Thi của đức Khổng có câu rằng: “Thi giả chi chí sở chí dã, tại tâm vi chí, phát ngôn vi thi. Tình động ư trung, nhi hình ư ngôn, ngôn chi bất túc, cố ta thán chi, ta thán chi bất túc, cố vịnh ca chi: vịnh ca chi bất túc, bất tri thủ chi vũ chi, túc chi đạo chi dã” (Thi là cái do chí mình phát ra, ở trong lòng là chí, phát ra lời nói là thi(1). Tình động ở trong lòng mà mình ra lời nói: nói ra không đủ nên phải thở than, thở than không đủ nên phải vịnh hát, vịnh hát không đủ, tự nhiên tay múa chân dậm, cho được tỏ rõ chí mình). Phàm những khi xúc cảm cảnh vật, cái tình mừng giận thương vui động ở trong, nhờ thanh âm ngôn ngữ để tỏ ra ngoài. Cho nên tiểu thuyết cũng như thi ca, âm vận phải hòa hợp, âm tiết phải nhất định, cú điệu phải chỉnh tề thì mới tỏ được cái chí của mình và mới ảnh hưởng được đến tâm hồn người khác.


Vậy, trong một cuốn tiểu thuyết, văn là một vấn đề tối quan trọng. Xem những tiểu thuyết danh tiếng trên hoàn cầu thì biết: ta cứ đọc thử đoạn đầu cuốn Père Goriot, đoạn cuối cuốn Le Rouge et le Noir, bất cứ một chương nào trong cuốn Madame Bovary hay cuốn Don Quichotte, ta sẽ phải nhận lời nói trên kia là đúng. Chúng ta há chả thấy rằng thường thường, muốn mua một cuốn tiểu thuyết nhiều người vẫn giở mấy trang đầu ra xem rồi mới quyết định nên mua hay không ư?


Tại sao đọc mấy trang đầu chưa biết cốt truyện có hay không, sao lại mua? Tại sao đọc mấy trang đầu chưa biết cốt truyện có dở không, sao lại không mua? Đó là do ở giọng văn, ở âm vận, êm tiết và cú điệu của tác giả cuốn tiểu thuyết có hợp với người mua tiểu thuyết hay không vậy.


Cái chỗ có thể cảm động được người mạnh hơn hết, trong thi, một phần lớn là do âm tiết (musique). Lời nói của vua Thuấn dặn ông Quỳ, thực đã chỉ rõ chỗ đó. Ngài nói: “Ca vịnh ngôn, thanh y vịnh luật hòa thanh, bát âm khắc hài vô tượng đoạt luân, thần nhân dĩ hòa”. (Ca là ngân dài lời nói, thanh y theo như giọng ngân dài, luật phải hòa với thanh. Tám âm hòa hợp được, không lấn được thứ bậc của nhau, thần và người do đó được vui vẻ). Thi của cổ nhân tiết tấu dài hay ngắn, âm vận cao hay thấp, tất cần hợp với năm thanh, sáu luật. Sau hai thi Nhã, Tụng, chỉ có nhạc phu, hay đời Trung Đường, Vãn Đường đến giờ, lối truyền ấy đã mất rồi, một lần thay đổi âm ra tiếng bằng trắc, nhưng thanh điệu giòn giã, miệng đọc được tiện, tai nghe lại vui.


Trong sách Hán thư nghệ văn chí, Ban Cố có nói rằng: “Tụng kỳ ngôn vị chi thi, vị kỳ thanh vị thi ca”, nghĩa là: đọc dãi dệ lời nói gọi là thi, kể ngân nga tiếng nói gọi là ca.


Saint Sặns, cùng một ý đó, cũng viết rằng:


“Người ta không thể cất tiếng lên nói mà không hát, chẳng những bằng thơ mà lại cả bằng văn xuôi nữa. Ông hồ mở miệng cất tiếng, ông hồ bị một cảm tình mạnh nào khích thích, ông tụng(1) to, và ông không ngờ rằng ông đã bất thần ngâm một khúc ngâm vịnh có âm điệu vậy”.


Xem thế, ta thấy rằng âm điệu, âm tiết đối với tiểu thuyết, cũng như đối với thi, quan trọng biết chừng nào. Có nó thì văn mới có tình, có chí; nếu không chẳng khác gì đem những chữ chết điền vào cái khuôn sẵn. Chữ chết điền vào cái khuôn sẵn, không thể làm cho người đọc cảm động. Mà đã không làm cho người đọc cảm động thì không phải là tiểu thuyết hay.


Người Tàu, phê bình thi lối mới như “Cáp tư”, “Nhân lực sa phu”, “Bối sang đích nhân”, thường rằng: “Thi lối mới, không có âm tiết nên thường người đọc không xuôi miệng mà người nghe cũng chướng tai”. Tưởng cũng có thể dùng lời nói đó để phê những tiểu thuyết không có âm tiết vậy. Tôi không hiểu ý kiến của các nhà tiểu thuyết nước mình về âm tiết ra sao; riêng tôi, tôi nghĩ rằng một nhà tiểu thuyết mà văn không có âm điệu, âm tiết thì không thể nào là một nhà tiểu thuyết hay. Một nhà tiểu thuyết hay là thế nào? Đó là một người hiểu biết ít nhiều lẽ bí mật ở đời, nhưng còn là một người, để diễn đạt những điều mình biết, đã tự nhiên tạo ra được một thứ âm tiết đánh dấu riêng cho mình và cũng là một dấu hiệu kín đáo của cái tài mình nữa.


Boileau có viết: “Trước hết phải có âm tiết đã!”.


Sau Boileau, Duhamel tỏ bày ý kiến riêng của ông về âm tiết trong văn tiểu thuyết như sau này:


“Tôi không dám tỏ lời khuyên những văn nhân trẻ tuổi vẫn hỏi ý kiến tôi về những câu hỏi khó khăn như những câu hỏi này. Tuy vậy đôi khi, nặng một tấm lòng muốn giúp ích cho họ, tôi cũng bảo họ như vầy:


- Ở đầu các tác phẩm của các ông, phải làm thế nào cho âm vận hòa hợp, cú điệu chỉnh tề, âm tiết hoàn toàn. Làm cách nào cho độc giả được lôi kéo đi, không vấp váp, không đụng chạm. Họ chưa biết nhân vật của các ông, họ chưa bị câu chuyện, nét vẽ, hay sự thành thực của phẩm tính cám dỗ. Vậy, ít ra âm tiết của văn phải giúp cho văn các ông được trôi chảy lúc đầu. Hát đi, ca đi, và ca hát cho khéo để quyến rũ linh hồn bất định của họ mà các ông muốn ra tay xâm chiếm.(1)


Nhưng “hát” đây, tôi có nên nhắc lại một lần nữa rằng không có ý nghĩa là viết văn du dương để không nói gì, viết văn kêu vang vang, đẹp lời mà không có ý gì hết, hoặc có ý mà không thực. Hát đây chỉ có nghĩa là viết những câu có âm vận chỉnh tề, hòa hợp với chí người để đi thẳng vào tâm hồn người đọc! Muốn được như thế, cần phải có điều kiện gì trước hết?


Văn tiểu thuyết, cũng như tất cả các loại văn khác trên đời này, cần phải lấy sự giản dị làm đầu.


Xét lại văn thơ Trung Hoa thì cái nghệ thuật thi cổ nhất và tinh nhất không gì bằng Kinh Thi. Thì tất cả những thi trong đó há chả là sự giản dị thành hình đó ư? Từ thi Kiêm hà, thi Quân tử vu dịch, thi Hành lộ, thi Đào yêu đến thi Tư Can, v.v… ta không hề thấy qua một sự cầu kỳ nào. Đại khái những câu: Kiêm hà thương thương (cây cỏ xanh xanh); Kê thê vu thời (gà đậu trên gốc tường); Đào chi yêu yêu (cây đào non rờn rờn); Du du thương thiên (man mác trời xanh). Cái hay của những thi này, trước hết là ở sự giản khiết, thật là tự nhiên, dễ hiểu, không cầu kỳ phiền toái, không ma luyện mà tự nhiên.


Trong bản điều lệ thi phái mới của Trung Hoa, sự giản dị được coi là điều quan trọng nhất:


Tôn chỉ: Dùng những văn tự minh bạch, giản khiết, tỏ rõ tâm tư quang minh lỗi lạc, khêu gợi cảm tình tốt đẹp, cao thượng, nuôi nên phong khí đôn hậu, ôn hòa.


Cũng vì sự giản dị, thể lệ đó còn có điểm này:


Từ thái - Không dùng điển hiểm hóc (các điển cố mà mọi người đều biết thì nên dùng, nhưng nếu không phải cớ bất đắc dĩ thì không dùng là hơn. Còn điển hiểm hóc thì cấm dùng hẳn. Không dùng những chữ lạ).


Xem vậy, đủ biết là sự giản dị cần thiết cho văn thơ như thế nào. Văn tiểu thuyết cũng là một thứ thi, không thể không lấy sự giản dị làm cốt yếu.


Không cần phải nói, các ngài cũng thừa biết là văn chương Pháp cũng cần sự giản dị trước nhất, và sở dĩ văn Pháp có thể đem làm mẫu mực cho hoàn cầu, chẳng là vì thuần khiết (sain, pur) đó ru? Mà sự thuần khiết là gì? Có người đã giảng như thế này: J’ai dit: une langue saine. Cela, sans doute veut dire une langue simple. (Tôi nói: một thứ văn thuần khiết. Văn thuần khiết, hẳn thế, nghĩa là một thứ văn giản dị).


Đến đây, tôi không thể không nhớ tới một số nhà tiểu thuyết của ta ít lâu nay (vì xem sách ngoại quốc mà hiểu lầm kỹ thuật về nghề viết, vì lập dị, hay vì bệnh phiền nhũng như những thi nhân của thi lối mới Trung Hoa?) đã đưa ra văn đàn những tác phẩm viết rất phiền phức, nhiêu khê, khó hiểu. Họ miêu tả cảnh vật, phác họa chân dung, tả chân cảm tình một cách vô cùng lập dị, vô cùng bí mật, đến nỗi có khi đọc đến bốn năm trang và có khi cả một vật ngữ của họ, người ta chả hiểu gì (ấy thế rồi họ chê độc giả là thấp kém và đần độn!). Suy ra thì chẳng qua là tại họ bịp bợm cả mà thôi, họ chưa nhận chân được những điều cấu tạo được ở trong óc, họ viết bừa bãi, và đáng lý để thì giờ lựa ý, tìm âm tiết, kỹ thuật trình bày nhân vật, và thu sự tự do vào một khuôn khổ (không có gì mạnh hơn, đẹp hơn là một cái tự do thu vào trong khuôn khổ) thì họ gia công tìm mấy chữ tỉ mỉ, lập dị, mấy danh từ lạ hoặc chối tai, mấy cái cú pháp nhiêu khê, dớ dẩn. Cái học từ chương của ta ngày trước đã khốn khổ vì thế; thơ đời Văn Đường đã xuống vì thế; mà họ có lấy thế làm điều đâu; họ tưởng lầm rằng một văn sĩ sở dĩ tân kỳ, độc sáng (original) là do ở sự tìm một vài chữ lạ, một vài cú pháp lạ hay là do ở ngữ số (vocabulaire) của nhà văn đó. Không. Nói đến văn nhân độc sáng, ta không thể không kể Dostoievsky được, vậy mà xem trong bất cứ tác phẩm nào của ông, có sự tủn mủn đáng thương hại đó không?


Sức độc sáng của một nhà văn không phải chủ ở ngoại quan ở hình thức, nhất là đối với những người viết văn xuôi; đó là một đức tính của tâm hồn. Sự quá độ trong cách dùng chữ, sự lựa chọn những danh từ cầu kỳ để huyễn hoặc người ta không làm gì cả. Chỉ có một điều đáng kể: đó là cái âm tiết khôn tả là cái tiếng nói của linh hồn người ta vậy. Một quyển tiểu thuyết dùng nhiều tiếng lạ, chữ lạ, có thể cũng làm cho người ta ngạc nhiên trong chốc lát; nhưng bao giờ người ta cũng ghi mãi vào óc một tinh thần độc sáng hay những tinh thần độc sáng chứa đựng trong sách đó. Lấy một cái thí dụ rất dễ hiểu: người ta yêu thơ Hồ Xuân Hương có phải vì mấy chữ cầu kỳ đâu - mà thơ Hồ Xuân Hương làm gì có lấy một chữ cầu kỳ? - Người ta yêu và nhớ thuộc lòng thơ Hồ Xuân Hương vì tinh thần vui vẻ, thanh mà tục, tục mà thanh chứa đựng trong tất cả các bài thơ của bà, và chính cái đó đã tạo ra cái độc sáng của Hồ Xuân Hương.


Đối với những độc giả tiểu thuyết thích văn cầu kỳ, ưa những chữ dùng nhiêu khê, lập dị, tôi thường hay mường tượng đến những người háu ăn háu uống hư hỏng hằng ao ước ăn bí tết, bơ, phó mát. Đó chỉ là sự thèm khát, sự cuồng ngông trong giây lát. Người ta chả mấy lúc quay về với cơm trắng, đậu kho, bong bóng, cá mực và khoai sọ.


Những nhà tiểu thuyết lớp sau này tưởng cũng nên để ý về quan điểm này, hầu cố tránh sự bắt chước các bậc đàn anh đi trước. Hiện giờ, tôi đã thấy nhiều nhà văn mới nẩy nở sẵn lòng bắt chước những nhà văn hiện có tên tuổi ít nhiều trên văn đàn vì họ có độc sáng biểu dương trong một lối văn đặc biệt.


Bắt chước người khác là cái dấu tỏ vẻ bị kém người ta rồi; mà bắt chước cái độc sáng của người khác lại càng nên buồn lắm. Bởi vì người bắt chước tỏ ra mình có một trí khôn không tốt lắm: cái độc sáng sâu xa, cái độc sáng do cái chất của bản thể tạo ra không thể nào bắt chước được.


… Tôi có bảo rằng tôi muốn bạn giống tôi đâu? Bởi vì bạn khác tôi cho nên tôi yêu bạn, tôi chỉ yêu bạn về những chỗ bạn khác tôi…”.(1)


(còn tiếp)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








(1) Tạm dịch ở chữ humour của Pháp. Theo nghĩa người ta thường hiểu, humour là cái khí vị hoạt kê, khôi hài, hài hước, nhưng riêng tôi, tôi cho thế có hơi sai. Bởi sao? Sẽ có bàn ở dưới. Còn ở đây, xin hãy cứ tạm dịch humour là khí vị vui vẻ.




(1) Đoạn này xin miễn dịch.




(2) Xin miễn biên tên tác giả và tên sách.




(1) L’art vit de contrainte et meurt de commodités - Duhamel.




(1) Thuật tả chân của tâm hồn.




(1) Tụng: đọc những tiếng có âm tiết.




(1) J’ose à peine, en ces difficiles questions donner le moindre conseil aux jeunes écrivains qui m’interrogent. Il m’arrive pourtant, dans mon désir de leur rendre service, de leur dire:


- Au début de vos ouvrages, il faut que la mélodie soit parfaite, que le lecteur soit emporté sans heurts et sans frottements. Il ne connait pas encore vos personnages, il n’est pas encore saisi ni par la force des peintures ou la vérité des caractères. Que du moins la musique du style s’applique à lui faciliter le début de l’aventure. Chantez bien pour séduire l’esprit fugitif dont vous essayez la conquête.




(1) André Gide - Xem lời chú thích ở trên.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ thiên tài Joseph Brodsky: những cái may trong cái rủi - Keith Gessen 20.07.2017
Joseph Brosky: Về thơ & đời - Joseph Brodsky 20.07.2017
Kinh Thánh: Tác phẩm văn hóa vô giá của nhân loại - Nguyễn Hải Hoành 16.07.2017
Thế giới xô lệch – Đọc tiểu thuyết đương đại tiếng Việt bằng triết học nhận thức - Lê Thanh Hải 13.07.2017
Ngôn ngữ nghệ thuật thơ Văn Cao - Hà Thị Hoài Phương 09.07.2017
Đôi lời về Vecte và nỗi đau của chàng - Quang Chiến 07.07.2017
Huyền thoại Faust - Triệu Thanh Đàm 07.07.2017
Thời gian không đổi sắc màu (3) - Phan Quang 07.07.2017
Thời gian không đổi sắc màu (2) - Phan Quang 07.07.2017
Thời gian không đổi sắc màu (1) - Phan Quang 06.07.2017
xem thêm »