tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21075311
Tiểu thuyết
14.10.2011
Henry Fielding
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1

 Quyển Một: GHI LẠI CHUYỆN ĐỨA TRẺ VÔ THỪA NHẬN RA ĐỜI TRONG CHỪNG MỰC CẦN THIẾT ĐỦ


ĐỂ RA MẮT ĐỘC GIẢ TRONG PHẦN MỞ ĐẦU


Chương 1. Lời nói đầu của tác phẩm hoặc thực đơn của bữa tiệc


Một nhà văn nên tự coi mình không phải là một vị thượng lưu mở tiệc riêng chiêu đãi hoặc ban cơm từ thiện, mà đúng hơn, nên tự xem mình là một người chủ một tiệm ăn công cộng, hễ ai có tiền là vào ăn được. Trường hợp thứ nhất, ai cũng biết, chủ nhân tùy sở thích riêng, muốn đãi khách món gì thì đãi, và dù cho khách thấy món ăn xoàng quá và hết sức khó nuốt, vẫn cứ không được chê trách gì. Ngược lại, phép lịch sự còn buộc họ ngoài mặt cứ phải khen bất cứ món ăn nào chủ nhà dọn ra thết. Còn đối với người chủ tiệm ăn thì trái lại. Khách ăn phải bỏ tiền ra trả sẽ đòi thức ăn phải hợp khẩu vị của mình, dù cho khẩu vị của họ có cầu kỳ, hoặc ngay cả oái ăm thế nào đi nữa, và nếu mọi thứ đều không vừa ý, họ sẽ đòi được quyền mặc sức chê bai, chỉ trích, thậm chí văng tục trong bữa ăn nữa.


Thế cho nên, để tránh làm phật ý khách hàng vì những chuyện bực mình như vậy, một bác chủ tiệm đứng đắn và có thiện ý thường trương ra một thực đơn, để thoạt bước chân vào tiệm, ai cũng có thể đọc thấy ngay; và một khi đã rõ mình có thể chờ đợi những gì, khách hàng muốn ở lại thưởng thức món ăn nhà hàng sẽ dọn ra, hoặc bỏ sang tiệm ăn khác hợp với khẩu vị hơn, tùy ý.


Vốn không ngại chuyện vay mượn trí tuệ hoặc sự khôn ngoan của bất cứ ai có khả năng cho vay hai thứ đó, nên chúng tôi không ngại bắt chước, ngay cả cách làm của các vị chủ quán khả kính kia; không những chúng tôi trương ra sẵn bản thực đơn chung của toàn bộ bữa ăn, mà còn trao cho bạn đọc những tờ thực đơn riêng của mỗi một món sẽ dọn ra trong tập này cũng như những tập tiếp theo của tác phẩm.


Vậy thì chất liệu chúng ta dùng để chế biến ở đây không gì khác hơn là Bản tính con người. Chúng tôi cũng chẳng sợ bạn đọc tinh tế, tuy khẩu vị vẫn hết sức rộng rãi, sẽ phải giật mình, la ó hay phật ý, vì lẽ chúng tôi chỉ nêu tên có một thứ nguyên liệu mà thôi. Như ngài ủy viên hội đồng thành phố Britxtôn([1]) vốn uyên bác về khoa ăn uống nhờ sẵn giầu kinh nghiệm đã rõ, ngoài hai món calibatx và calipy([2]) tuyệt ngon ra, thịt rùa còn làm được nhiều món khác; vậy thì bạn đọc hiểu biết nhiều không thể không hay rằng ở đây, mặc dù bản tính con người chỉ được tóm gọn trong một cái tên chung, nhưng đó là cả một sự phức tạp, phong phú đến mức một bác đầu bếp muốn làm được hết các thứ món ăn với rau cỏ hoặc thịt bò có trên thế giới còn sớm thành công hơn một nhà văn muốn khai thác đến cùng một vấn đề mênh mông chỉ tóm gọn trong mấy chữ như vậy.


Có thể, vị nào đó khó tính hơn phản đối rằng món ăn này tầm thường và phổ thông quá; vậy chớ nội dung mọi tác phẩm trữ tình, tiểu thuyết, kịch bản và thơ ca đầy rẫy trong các quầy bán sách hết thảy chẳng nói chuyện ấy còn nói chuyện gì khác? Nếu ta xem khinh, coi một món ăn là tầm thường và phổ thông chỉ vì ta thấy ở những quán hàng tồi tệ cũng có bán một món nào mang cùng một tên, thì vô khối món mỹ vị tuyệt ngon có thể bị dân háu ăn bỏ qua. Trong thực tế tìm kiếm cái bản chất chân thực trong các nhà văn cũng khó như việc kiếm món dăm-bông Bayon([3]) hoặc món xúc xích Bôlônhơ([4]) tại các cửa hàng xoàng xĩnh.


Nhưng, vẫn theo cách dùng hình tượng ẩn dụ trên, toàn bộ vấn đề là ở khoa nấu nướng của tác giả, vì, như Pôpơ([5]) đã nói:


 Trí tuệ chân chính là bản tính tự nhiên được trình bày khéo léo.


Là những điều ta thường nghĩ, nhưng chưa hề được diễn đạt thật hay.


Cũng một con vật đã có vinh dự hiến phần thịt nào đó cho bàn tiệc của ngài quận công, lại có thể bị giảm giá trị ở chổ khác, và có thể là vài cái đùi của nó treo lủng lẳng ở  quầy hàng thịt tồi tàn nhất trong tỉnh. Vậy nhà quý tộc và bác khuân vác khi họ dùng thịt của cùng một con bò hay một con bê trong bữa ăn, thì thức ăn của họ khác nhau ở  chổ nào, nếu hkông phải là ở cách cho gia vị, cách nấu nướng, cách thêm hoa lá, cách trình bày? Do đó mà món này kích thích cái dạ dày lười biếng nhất, còn món kia lại khiến cho người ta háu đói phàm ăn nhất cũng phải phát ngán, muốn buồn nôn.


Cũng vậy, một món ăn tinh thần có lý thú hay không do chủ đề của nó thì ít mà do tài khéo léo sắp đặt của tác giả thì nhiều. Cho nên bạn đọc sẽ thú vị bao nhiêu khi thấy sau đây, trong tác phẩm, chúng tôi bám thật sát một trong những nguyên tắc tối cao mà nhà đầu bếp trứ danh nhất của thời đại hiện nay, hoặc có thể là của thời đại Hêliôgabalơx([6]) đã đề ra. Các vị lịch sự yêu chuộng khoa ăn uống đã thừa rõ con người nổi tiếng ấy thoạt tiên dọn cho khách ăn đang đói ngấu những món ăn tầm thường, đợi khi dạ dày khách xem chừng đã uể oải, mới nâng dần lên đến những món xốt và gia vị thượng hảo hạng.


Cũng theo cách ấy, thoạt tiên chúng tôi sẽ trình bày với các bạn đọc đang đói ngấu, Bản tính con người trong cái vẻ tầm thường giản dị ta vẫn gặp nơi thôn dã, rồi sau đó mới thái nhỏ nó ra và đem nấu nướng với các thứ gia vị cao cấp của người Ývà người Pháp, là những sự giả dối và các thói xấu nơi cung đình và thành thị. Bằng cách này, chúng tôi tin rằng bạn đọc sẽ cứ muốn đọc tiếp mãi, cũng như lời con người nổi tiếng kể trên theo người ta đồn, đã khiến cho nhiều người còn cứ muốn ăn mãi vậy.


Giáo đầu cặn kẽ thế rồi, bây giờ chúng tôi không muốn những người đã ưa thích thực đơn của chúng tôi phải nhịn lâu, và xin lập tức dọn ra món ăn đầu tiên trong câu chuyện để các bạn thưởng thức.


Chương 2:Miêu tả vắn tắt ông Oluơtdi, và kể


đầy đủ hơn về cô Britdêt, em gái ông


 


Tại một khu vực thuộc miền Tây Vương quốc Anh, nơi thường quen gọi là Xơmơxêtsơ, hồi gần đây có một nhà quý tộc tên là Oluơtdi (có lẽ bây giờ ông ta vẫn còn sống). Có thể gọi ông là con cưng của Tạo hóa lẫn Thần tài, bởi vì hình như cả hai vị cùng ganh nhau xem ai hậu đãi ông hơn. Trong việc ganh đua này, theo một số người, Tạo hóa có vẻ như thắng cuộc vì đã ban cho ông nhiều món quà, trong khi Thần tài chỉ có khả năng ban cho một thứ; nhưng khi dốc túi ban cho ông, Thần tài đã tỏ ra quá ư hào phóng đến nỗi nhiều người khác có thể nghĩ riêng một món quà ấy cũng đủ hơn hẳn cả các thứ ân huệ ông nhận được của Tạo hóa. Nhờ ơn Tạo hóa, ông có một vẻ người khả ái, một thể chất lành mạnh, một trí tuệ minh mẫn và một tấm lòng nhân từ, còn nhờ ơn Thần tài, ông được hưởng một gia sản thuộc loại lớn nhất trong quận.


Hồi trẻ, vị thượng lưu này có một người vợ rất xinh đẹp, đáng quý mà ông yêu thương rất mực. Bà vợ sinh hạ được ba con, chẳng may đều chết ngay lúc còn nhỏ. Bất hạnh làm sao, ông còn phải chôn chính người vợ yêu quý của mình vào khoảng thời gian năm năm trước khi câu chuyện này bắt đầu. Sự mất mát tuy lớn thật nhưng ông đã chịu đựng với thái độ của một con người sáng suốt và chung thủy. Tuy nhiên, cũng phải thú thực rằng ông vẫn thường nói về vấn đề này một cách hơi kỳ quặc: đôi khi ông nói ông vẫn xem như vợ ông còn sống và bà chỉ lên đường trước ông một chút thôi trong một cuộc hành trình mà ông tin rồi sớm muộn ông cũng đi theo. Ông hoàn toàn tin tưởng sẽ được gặp lại bà ở một nơi hai ông bà sẽ không bao giờ xa nhau nữa. Những ý định ấy đã khiến cho một phần những bà con láng giềng nghi ngờ về trí thông minh của ông, phần thứ hai, về lòng ngoan đạo và phần thứ ba, về tính chân thực của ông.


Bây giờ, phần lớn thời gian ông sống ẩn dật tại thôn quê cùng một cô em gái mà ông rất mực yêu thương. Cô em giờ đây đã ngoài ba mươi tuổi mà vào cỡ tuổi này, theo ý kiến những kẻ xấu miệng, đem cái danh hiệu gái già gán cho cô cũng không phải là không thích hợp. Cô thuộc loại phụ nữ ta nên ca ngợi những đức tính tốt hơn là ca ngợi sắc đẹp. Loại này thường được bản thân giới phụ nữ gọi là loại đàn bà "tối hảo"... thưa quý bà, loại đàn bà "tối hảo" như quý bà mong muốn được biết. Quả thật, cô chả hề tiếc hận mảy may vì nỗi mình thiếu nhan sắc; không bao giờ cô nhắc tới sự hoàn thiện ấy (nếu có thể gọi đó là một sự hoàn thiện) mà không tỏ thái độ khinh bỉ; nhiều lần cô vẫn cảm tạ Chúa vì cô đã không xinh đẹp như cái nhà cô nọ, một người có lẽ đã bị sắc đẹp dẫn đến những lỗi lầm mà giá như xấu gái lại tránh được. Cô Britdêt Oluơtdi (vâng chính là tên cô tiểu thư) quan niệm một cách rất có lý rằng, ở một người đàn bà, vẻ người duyên dáng chỉ là những cạm bẫy cho chính họ cũng như cho kẻ khác; vậy mà cô vẫn tỏ ra hết sức chín chắn trong cách cư xử, khiến cho tính thận trọng của cô phải sẵn sàng cảnh giác quá mức, tưởng chừng cô đang phải lo đối phó với hết thảy mọi cạm bẫy giăng ra từ trước đến nay cho toàn bộ nữ giới. Thực thế, tôi vẫn nhận thấy là (mặc dầu bạn đọc có thể cho điều này là khó hiểu) như những đội quân có huấn luyện, đội vệ binh của sự thận trọng này thường hết sức sẵn sàng đi làm nhiệm vụ tại nơi nào ít nguy hiểm nhất. Chúng thường trốn tránh một cách hèn hạ và khiếp nhược, ở nơi những con người ngọc vẫn được phái đàn ông mơ ước, khát khao, chết mê chết mệt, và giăng đủ mọi thứ lưới ra chài. Đội quân ấy chỉ thường xuyên túc trực sát gót các bà cao cấp hơn, những người mà nam giới vẫn sẵn có thái độ "kính nhi viễn chi", đứng xa sợ hãi mà kính nể, chẳng bao giờ dám táo gan tấn công (ý hẳn vì không hy vọng đạt được kết quả).


Thưa bạn đọc, tôi thấy trước khi cùng nhau đi xa hơn, cũng nên cho bạn biết rằng tôi có ý định trong suốt truyện này hễ lúc nào có dịp là tôi lại nói lan man: về việc này, chính tôi là một thẩm phán sáng suốt hơn bất cứ nhà phê bình tội nghiệp nào khác. Ở đây, tôi buộc lòng phải yêu cầu tất cả các nhà phê bình ấy hãy lo công việc của mình, chớ có can thiệp vào những việc, những tác phẩm không dính dáng đến họ, vì cho đến lúc nào họ đưa được giấy chứng minh rằng họ được chỉ định làm quan tòa có quyền phán định thì tôi sẽ đến cửa họ để xin được phân xử?


Chương 3: Một chuyện quái lạ xảy ra lúc ông Oluơtdi trở về nhà. Thái độ đoan trang của bà Đibôra Winkin cùng vài lời chỉ trích thích đáng về những đứa con hoang.


Ở chương trên, tôi đã nói với độc giả rằng ông Oluơtdi thừa hưởng một gia sản lớn, ông là người nhân từ và không có gia đình. Do đó, dĩ nhiên nhiều người sẽ kết luận rằng ông sống như một người lương thiện, không nợ ai một đồng xu, không lấy bất cứ cái gì không phải là của mình, sống một cuộc sống đường hoàng, thường thết đãi láng giềng ăn uống với một thái độ hiếu khách ân cần, và tỏ lòng từ thiện với kẻ khó, tức là những người thích đi ăn xin hơn làm việc, bằng cách cho họ những thức ăn thừa của những bữa tiếp khách kể trên; rằng ông giàu nứt đố đổ vách, và đã xây một nhà thương làm phúc.


Thật quả như vậy, ông đã làm nhiều việc như thế; nhưng giá ông không làm được thêm việc gì khác, tôi cũng vẫn cứ để mặc ông ghi lại công đức của chính mình trên một tấm đá đẹp đẽ nào đó tại cổng tòa nhà thương kia. Chủ đề cuốn truyện này phải hướng vào những vấn đề thuộc loại đặc biệt hơn nhiều; nếu không, chẳng lẽ tôi đã quá hoài phí thời giờ để viết tác phẩm dày cộp thế này hay sao; và bạn đọc sáng suốt của tôi, bạn có thể thú vị và bổ ích không kém khi lướt qua ít trang cuốn sách này mà một vài tác giả kỳ cục thích gọi bừa là Lịch sử Anh quốc.


Vì một công việc đặc biệt nào đó, ông Oluơtdi đi Luân Đôn suốt ba tháng trời. Tôi không rõ việc gì, nhưng nếu nó buộc ông vắng nhà lâu đến thế, hẳn là việc quan trọng; đã bao nhiêu năm nay, ông không vắng nhà tới một tháng bao giờ. Ông về đến nhà thì trời tối đã lâu; sau khi ăn qua loa cùng cô em gái, ông lui về phòng riêng, người mệt rã rời. Ông quỳ xuống vài phút, một tập quán ông không bao giờ thay đổi bất cứ vì lý do gì, rồi sửa soạn đi nằm. Vừa mở màn ra, ông vô cùng ngạc nhiên thấy có một đứa bé bọc trong một mảnh vải thô đang nằm ngủ say trên nệm. Trước cảnh tượng đó, ông sửng sốt, đứng ngây ra một lúc, song lòng tốt vốn chiếm ưu thế trong tâm hồn ông, nên ông cảm thấy ngay một niềm thương xót đối với đứa trẻ bé bỏng đáng thương đang nằm trước mặt. Ông bèn rung chuông ra lệnh cho một người hầu gái đã có tuổi lập tức dậy và đến phòng ông ngay. Trong khi ấy, ông mê mải ngắm vẻ đẹp của sự trong trắng dưới những màu sắc tươi sáng thường để lộ ra ở tuổi sơ sinh trong giấc ngủ; thành thử khi bà vú già bước vào thì tâm trí ông đang bận rộn, quên bẵng rằng mình đang bận quần áo lót. Để cho ông chủ có đủ thì giờ mặc thêm quần áo; bà ta soi gương sửa lại mái tóc có đến mười phút, phần do kính trọng ông chủ, phần do tính đoan trang, mặc dầu ông sai gọi rất hối hả, và mặc dầu hẳn bà phải biết ông chủ đang thở hắt ra vì bị trúng phong hoặc đang lên một cơn bệnh kịch liệt nào khác.


Ta cũng không lấy làm lạ khi thấy một người vốn rất nghiêm túc với bản thân về mặt đoan trang như vậy, tỏ ra bất bình trước sự thiếu sót dù là tối thiểu của người khác. Do đó, vừa mở cửa phòng, thấy ông chủ bận quần áo lót đứng cạnh giường không bận quần áo ngoài, vội chấm dứt ngay sự khiếp đảm và có lẽ suýt chết ngất. May thay ông chủ vừa nhớ ra mình không bận quần áo ngoài, vội chấm dứt ngay sự khiếp đảm của bà bằng cách yêu cầu bà hãy đứng chờ ngoài cửa để ông quàng tạm áo ngoài đã, để khỏi xúc phạm cặp mắt thanh khiết của bà Đibôra Winkin, con người mặc dù đã 52 tuổi đầu, vẫn thề rằng chưa hề bao giờ nhìn vào một người đàn ông không bận áo ngoài. Có lẽ cái bọn hay cợt nhạo và khinh bạc có thể chế giễu cơn sợ hãi ban đầu của bà ta, song bạn đọc nghiêm trang hơn của tôi khi xét đến hoàn cảnh đêm hôm khuya khoắt như thế, bà đang nằm trong giường bị gọi lên, lại trông thấy ông chủ ăn mặc như vậy, hẳn bạn sẽ hoàn toàn tán thành và khen ngợi tư cách của bà, trừ phi sự thận trọng mà chắc rằng những cô gái già vào lứa tuổi bà Đibôra nhất định phải có, hẳn sẽ làm giảm bớt chút ít sự khâm phục của bạn.


Khi bà Đibôra lại bước vào phòng và được ông chủ kể chuyện thấy đứa bé thì bà tỏ ra hầu như còn sửng sốt hơn chính ông chủ lúc nãy; bà cũng không khỏi kêu lên, vẻ mặt và giọng nói biểu lộ một sự hãi hùng ghê gớm: "Thưa ông chủ, làm thế nào bây giờ?" Ông Oluơtdi ra lệnh đêm ấy bà phải săn sóc đứa bé, đợi sáng hôm sau ông sẽ cho tìm một vú nuôi.


Bà Winkin nói:


- Thưa vâng, tôi cũng hy vọng ông sẽ ra lệnh tóm cổ con mụ đĩ rạc đẻ ra đứa bé này (nhất định nó chỉ ở quanh quẩn vùng này thôi); bỏ nó vào nhà tù Braiđơoen([7]) và đem cho voi giày thì tôi mát ruột quá. Cái bọn đĩ rạc đĩ rày này, trừng trị nghiêm khắc mấy cũng chưa đáng tội. Tôi cam đoan đây không phải là lần đầu tiên nó phạm tội, vì nó trơ tráo đã cả gan gán đứa bé cho ông chủ.


Ông Oluơtdi đáp:


- Gán đứa bé cho tôi! Đibôra, tôi không thể nghĩ nó có âm mưu như vậy. Tôi nghĩ nó làm cách này chỉ cốt cho con nó được chu cấp tử tế đấy thôi; mà tôi cũng mừng rằng nó đã không hành động tồi tệ hơn.


Bà Đibôra kêu lên:


- Tôi không rõ đối với quân đĩ rạc ấy còn có gì tồi tệ hơn là đem tội lỗi của chúng đặt vào cửa những gia đình đứng đắn. Tuy ông chủ biết rõ mình vô tội, nhưng người đời vốn hay soi mói. Khối người đàn ông đứng đắn cũng đã bỗng tự nhiên trở thành bố của những đứa trẻ mà họ không hề đẻ ra; mà nếu ông chủ chu cấp cho đứa bé này chỉ tổ khiến cho người ta càng tin hơn. Vả chăng, hà tất ông phải chu cấp gì cho nó khi xứ đạo có nhiệm vụ cưu mang nó? Theo ý tôi, ví thử nó thực là con một người đứng đắng thì thôi cũng được; nhưng tôi không tán thành việc mó vào cái giống con hoang khốn kiếp này, vì tôi không coi nó là con người nữa. Xì! Mới tởm làm sao! Mùi nó không giống mùi người Cơ Đốc giáo tí nào. Ví thử tôi được phép mạo muội góp ý thì tôi cho rằng cứ bỏ nó vào giỏ, đem đặt ở ngoài cửa nhà bác gác nhà thờ. Đêm nay tối trời đấy, chỉ hơi có gió và mưa. Nếu nó được ủ cẩn thận và bỏ vào trong một cái giỏ ấm áp, tôi đánh cuộc chắc chắn nó sẽ sống được đến sáng mai đợi lúc người ta đến nhặt nó. Mà giả sử nó không sống được đến lúc ấy, thì săn sóc nó thế này cũng là ta đã làm hết bổn phận rồi. Có lẽ những quân này được chết đi trong sự trong trắng còn tốt hơn là sống lớn lên để bắt chước mẹ, vì cũng chẳng có thể hy vọng điều gì tốt đẹp hơn ở bọn chúng đâu.


Trong lời lẽ trên có vài điểm có nhẽ đã khiến ông Oluơtdi, nếu chú ý nghe, sẽ nổi cơn tức giận. Nhưng lúc này ông đã đặt một ngón tay vào bàn tay đứa bé. Nó khẽ nắm tay lại hình như muốn cầu xin ông giúp đỡ; điều này rõ ràng đã đánh bại tài hùng biện của bà Đibôra, cho dù bà có nói giỏi gấp mười lần cũng vậy. Ông bèn dứt khoát ra lệnh cho bà đem đứa bé vào giường bà và gọi một chị hầu gái đem cháo cùng những thứ khác nữa để phòng lúc nó thức dậy. Ông lại ra lệnh phải chuẩn bị sáng sớm hôm sau đã có tã lót cẩn thận và hễ ông thức dậy phải mang ngay nó đến với ông.


Bà Winkin vốn tinh ý, lại rất kính trọng ông chủ vì hầu hạ ông, bà đã có một chỗ làm cực tốt, thành thử những nỗi e dè của bà đành rút lui trước mệnh lệnh dứt khoát của ông Oluơtdi. Bà bồng đứa bé lên tay, không tỏ chút nào ghê tởm vì nó là con hoang nữa, mà còn khen nó là một đứa bé kháu khỉnh, rồi bà bước ra mang nó về phòng riêng.


Bấy giờ ông Oluơtdi mới đánh một giấc ngủ thú vị mà người có tấm lòng khát khao làm điều thiện dễ dàng được hưởng khi đã hoàn toàn thỏa mãn với chính mình. Những giấc ngủ này còn êm đềm hơn mọi giấc ngủ có được sau bất cứ một bữa ăn ngon miệng nào khác, cho nên, ví thử tôi biết cách nào mách bạn đọc tìm được sự ngon miệng ấy, ắt tôi phải gắng công trình bày hơn để các bạn rõ.


Chương 4: Một đoạn văn tả cảnh có cơ làm cho bạn đọc gãy cổ. Bạn được thoát nạn. Tính cả nể của cô Britdêt Oluơtdi.


 


Nghệ thuật kiến trúc gôtic([8]) không thể sản sinh được một kiểu nhà nào đường bệ hơn nhà ông Oluơtdi. Ngôi nhà này có một vẻ uy nghi khiến ta lặng người đi vì kính sợ, nó có thể ganh đua với những công trình đẹp của khoa kiến trúc Hy Lạp ưu tú nhất. Bên ngoài, nó có vẻ khả kính bao nhiêu thì bên trong cũng đầy đủ tiện nghi bấy nhiêu.


Tòa nhà này dựng lên trên một trái đồi, về mé đông nam, hơi dịch về phía chân đồi, để có thể tránh được hướng gió đông bắc, nhờ một lùm cây sồi cổ thụ, lùm cây vươn lên trên tòa nhà và trải ra dần dần về phía đỉnh đồi dài khoảng nửa dặm; song tòa nhà cũng khá cao, đủ để thưởng thức một phong cảnh tuyệt đẹp của thung lũng mé dưới.


Giữa lùm cây sồi này là một bãi cỏ đẹp dốc thoai thoải về phía tòa nhà. Gần mé đầu bãi ở phía trên, một dòng suối, nước trào ra từ một mỏm đá phủ đầy cây dương sỉ, làm thành một ngọn thác chảy liên tục, cao chừng ba mươi bộ. Ngọn thác này không tràn xuống từng bậc đá đều đặn mà đổ thành một thác nước tự nhiên xuống tới tận chân mỏm đá, lướt qua những tảng đá lô xô phủ đầy rêu, sau đó mới chảy ào vào một con suối lòng rải đầy đá cuội, con suối nhận thêm nước của mấy thác nhỏ hơn rồi lượn quanh co đổ vào một cái hồ dưới chân đồi, cách tòa nhà khoảng một phần tư dặm về phía nam. Đứng ở mặt chính diện tòa nhà nhìn qua cửa sổ nào cũng thấy mặt hồ nằm giữa một cánh đồng rất đẹp, lại được tô điểm bởi những khóm cây dẻ gai và cây du, với mấy con cừu đang gặm cỏ. Từ hồ nước, một con sông nhỏ uốn khúc qua không biết bao nhiêu đồng cỏ và rừng cây trải xa tới nhiều dặm, để rồi chảy ra tận biển; đến biển, con sông có thêm một nhánh khá rộng; xa chút nữa là một hòn đảo, đó là toàn bộ khung cảnh.


Nhìn về phía bên phải thung lũng, một khung cảnh khác hẹp hơn với nhiều thôn xóm, và phía cuối là một ngọn tháp chuông còn sót lại của một tu viện đã đổ nát và bị phủ kín dưới những bụi cây trường xuân, một phần mặt chính diện của tu viện vẫn còn nguyên vẹn.


Phía bên trái là một vùng bãi cỏ rất đẹp, mặt đất cao thấp không đều, cảnh trí thay đổi một cách thú vị với nhiều đồi, nhiều bãi cỏ, rừng cây, mạch nước, sắp đặt theo một khiếu thẩm mỹ tài tình, song nhờ tay tạo hóa nhiều hơn là do nghệ thuật của con người. Xa hơn nữa, phong cảnh dần dần nhô cao lên cho đến khi tiếp vào một dãy núi hoang vu, đỉnh núi cao vượt lấp sau mây.


Vào khoảng giữa tháng năm, buổi sớm, bầu trời trong sáng, ông Oluơtdi bước ra ngoài sân hiên, ngắm nhìn cái quang cảnh mỹ lệ mà chúng tôi vừa miêu tả, đang từng phút từng phút lộ dần ra trong ánh bình minh. Lúc này, sau khi phóng lên bầu trời màu xanh lơ những luồng ánh sáng như những sứ giả dọn đường đón vẻ huy hoàng của mình, mặt trời xuất hiện vô cùng lộng lẫy. Ở hạ giới này, chỉ có một thứ có thể coi là vinh quang hơn cảnh này, đó là chính ông Oluơtdi; một con người đầy thiện tâm, luôn luôn suy nghĩ xem mình có thể hết sức làm điều tốt cho đồng loại như thế nào để xứng đáng nhất được đấng sáng tạo tiếp nhận.


Bạn đọc ơi, hãy thận trọng; tôi đã vô tình dẫn bạn lên tận đỉnh một ngọn đồi cao ngang ngọn đồi của ông Oluơtdi và giờ đây làm thế nào để đưa bạn xuống mà bạn không bị ngã gãy cổ, tôi cũng không rõ nữa. Tuy nhiên, chúng ta cũng cứ liều cùng nhau trườn xuống xem sao, vì cô Britdêt đã rung chuông mời ông Oluơtdi vào dùng điểm tâm mà tôi cũng phải đến dự và, nếu bạn vui lòng tôi sẽ rất sung sướng được bạn cùng đến.


Sau khi ông Oluơtdi và cô Britdêt trao đổi mấy lời chúc tụng thường lệ và nước trà đã được rót ra, ông cho gọi bà Winkin và bảo với cô em rằng ông có một món quà dành cho cô. Cô Britdêt cảm tạ ông, và tôi đoán chừng cô ta nghĩ sẽ là một tấm áo dài, hoặc một vật trang sức nào đó. Quả thật, ông Oluơtdi vẫn hay tặng cô em những món quà như thế, và để chiều ý ông anh, cô cũng để khá nhiều thì giờ vào việc trang điểm. Tôi nói rằng cô chiều ý ông anh, bởi vì cô thường tỏ thái độ hết sức coi khinh vấn đề ăn mặc cũng như coi khinh các bà các cô hay nghiên cứu khoa ăn mặc.


Song, nếu nghĩ như vậy cô thật đã thất vọng, khi theo lệnh ông chủ, bà Winkin đưa ra đứa trẻ sơ sinh. Ta đã từng thấy có những nỗi ngạc nhiên cao độ mà vẫn có thể nín lặng được; cô Britdêt cũng im lặng như vậy mãi đến khi ông anh kể lại cho nghe toàn bộ câu chuyện mà chúng tôi không nhắc lại, vì các bạn hẳn đã rõ.


Cô Britdêt vẫn thường tỏ thái độ hết sức coi trọng cái mà các bà các cô gọi là đức hạnh; và bản thân cô cũng giữ gìn tính nết rất khắt khe, thành thử mọi người, nhất là bà Winkin, đều chắc rằng dịp này cô sẽ trút ra những lời lẽ thật gay gắt và hẳn sẽ góp ý tống khứ ngay lập tức đứa bé ra khỏi nhà, như một con vật độc hại. Thế mà trái hẳn, hầu như cô lại chấp nhận khía cạnh tốt đẹp của vấn đề, cô tỏ ra đôi chút thương xót đứa nhỏ không chỗ nương tựa, và ca ngợi lòng từ thiện của ông anh về việc ông đã làm. Có lẽ bạn đọc sẽ không lấy làm lạ về thái độ chiều ý ông anh của cô Britdêt khi chúng tôi cho bạn biết rằng ông Oluơtdi tốt bụng, khi kể xong câu chuyện, có nói ông quyết định sẽ săn sóc đứa bé và nuôi nấng nó như con đẻ, vì thực ra cô vẫn thường sẵn sàng chiều theo ý ông anh, rất ít khi, nếu không nói là không bao giờ, cô làm trái ý muốn của anh. Thật ra, thỉnh thoảng cô cũng đưa ra vài nhận xét, như đàn ông đến là ương bướng cứ nhất định làm theo sở thích riêng, và ước mong giá mình có gia sản riêng; song những nhận xét ấy, cô thường chỉ nói rất khẽ, quá lắm thì cũng chỉ đến như ta gọi là lầm bầm trong miệng.


Tuy nhiên, điều cô tránh không nói đứa bé thì cô lại ra sức trút lên đầu người mẹ vô danh đáng thương. Cô gọi người này là những đồ lười thối thây trơ tráo, đồ đĩ thõa lẳng lơ, quân rạc rầy táo tợn, giống ngựa cái xấu thói, quân bán trôn đê tiện, thôi thì đủ mọi thứ tên mà người đức hạnh sẵn sàng tuôn ra để quật vào kẻ đã làm cho cả giới phụ nữ xấu mặt.


Bây giờ, mọi người mới bàn xem nên tiến hành cách nào để khám phá ra người mẹ đứa bé. Thoạt tiên, họ xét đến tính tình đám đầy tớ gái trong nhà; bà Winkin bào chữa cho tất cả bọn này, kể cũng có lý, vì chính bà đã lựa chọn họ, và cũng có thể vì khó lòng kiếm được một đám người hầu khác tốt như thế.


Bước thứ hai là xét kỹ đến đám người ở trong xứ đạo. Việc này giao cho bà Winkin tiến hành việc dò xét một cách hết sức tích cực để đến chiều báo cáo kết quả.


Sắp đặt xong xuôi, ông Oluơtdi lui về phòng làm việc theo thói quen, để đứa bé lại cho cô em gái, người đã nhận săn sóc đứa bé theo ý muốn của ông.


 (còn tiếp)


Nguồn: Tom Jones Đứa trẻ vô thừa nhận. Tiểu thuyết của HENRY FIELDING, 2 tập, 1000 trang. Trần Kiêm dịch từ nguyên bản tiếng Anh: THE HISTORY OF TOM JONES, A FOUNDLING của HENRY FIELDING. Nhà xuất bản MAC DONALD, Luân Đôn, 1935. Tái bản theo bản in năm 1983 của NXB Văn học.



www.trieuxuan.info 



 







([1]) Britxtôn: một thành phố cảng tại nước Anh.




([2]) Calibatx, Caliby: tên hai món ăn nổi tiếng làm bằng thịt rùa.




([3]) Bayon: một thị trấn miền Nam nước Pháp nổi tiếng về món dăm-bông đặc sản làm bằng thịt lợn uớp gia vị hun khói.




([4]) Bôlônhơ: một thành phố nước Ý, nổi tiếng vì món xúx xích thịt lợn, ngon và để được lâu.




([5]) Pôpơ: (1688-1744): nhà thơ và nhà triết gia Anh.




([6]) Hêliôgabalơx: vua La Mã cổ đại, gốc Xy-ri, sống vào khoảng đầu thế kỷ 3 sau công nguyên, nổi tiếng vì những hành vi điên rồ, tàn bạo và trác táng.




([7]) Tên một nhà tù lớn ở Luân Đôn.




([8]) Gôtic: Nghệ thuật kiến trúc cổ, xuất hiện ở Pháp, thịnh hành vào khoảng thế kỷ 12 đến thế kỷ 16 ở châu Âu. Đặc trưng chủ yếu biểu lộ ở những vòm mái và cửa hình cung nhọn, và ở tính trang trọng, uy nghiêm của các hình khối.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »