tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19738398
Lý luận phê bình văn học
14.10.2011
Tư liệu
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận của Henry Fielding

Nhà văn Triệu Xuân: Từ năm 2005, tôi đã lập dự án Tủ sách Danh tác Thế giới, để Chi nhánh NXB Văn học tại TP. Hồ Chí Minh xuất bản 500 tác phẩm, tính đến hết năm 2012 -chủ yếu là  tiểu thuyết- được nhiều người yêu thích, được coi là Danh tác của nhân loại. TOM JONES Đứa trẻ vô thừa nhận, tiểu thuyết của HENRY FIELDING, văn hào Anh, là một trong những tác phẩm thuộc Tủ sách danh tác thế giới. Sách sẽ được phát hành trong thời gian tới. www.trieuxuan.info giới thiệu vài chương của bộ tiểu thuyết tuyệt vời này.


 


LỜI GIỚI THIỆU CỦA NGUYỄN TÂM


Ngày 28-2-1849, tác phẩm "Truyện Tôm Jôn, đứa trẻ vô thừa nhận", lần đầu tiên xuất bản ở Luân Đôn, được xem là cái mốc nổi bật trong lịch sử văn học Anh. Cho đến nay người ta vẫn coi tác phẩm này là một trong những tiểu thuyết giá trị nhất của nền văn học cổ điển phương Tây. Oantơ Xcôt đã gọi Finđinh là "người sáng tạo ra tiểu thuyết hiện thực".


Ngay khi ra mắt độc giả, Tôm Jôn đã gây dư luận sôi nổi; như một cơn lốc đột ngột, tác phẩm khuấy động bầu không khí tẻ ngắt, im lìm của văn học Anh thời đó, khiến cho người ta bàng hoàng, sửng sốt, nhưng đồng thời cũng cảm thấy khoan khoái dễ chịu. Độc giả Anh đang bị ru ngủ bởi một xu hướng tình cảm nhạt nhẽo, giả tạo, được nhào nặn theo tinh thần Thanh giáo cứng nhắc, bỗng choàng tỉnh dậy vì sức lay động của chủ nghĩa hiện thực, đầy sức sống, phản ánh điều người ta gọi là "tinh thần Anh của thời đại mới". Thi sĩ cung đình Côly Xibơ (Colley Cibber), lên tiếng phàn nàn: "Hắn ta, (chỉ Finđinh, N.D) muốn xóa bỏ mọi sự khác biệt giữa con người với nhau". Vậy là cơn lốc đã bốc đi mọi thứ phông màn giả dối của tâm hồn, phơi bày những ý nghĩ sâu kín mà bọn nhà văn, nhà thơ vẫn bám thắt lưng bọn cầm quyền tìm cách che giấu kỹ. "Giữa con người không có sự khác biệt". Tiếng nói ấy làm cho Slôck (Sherlook), giám mục thành Luân Đôn, người hiểu rõ chân lý "Mọi người đều bình đẳng trước Chúa", hơn ai hết, cũng phải sững sờ và nổi giận. Ngài bước lên đài rao giảng: "Trận động đất 1750 chỉ là điềm báo trước những sự trừng phạt khủng khiếp. Thượng đế sẽ giáng xuống đầu dân Anh, nếu họ không ngừng đọc chuyện Tôm Jôm, cuốn sách đầy lời lẽ sàm báng của Finđinh".


Nhưng mặc cho bọn người này cuống quít đe dọa, mạt sát, công chúng Anh vẫn tìm đọc Tôm Jôn. Ngay sau đó, tác phẩm được dịch ra tiếng Pháp, tiếng Hà Lan, tiếng Đức, rồi lần lượt ra tiếng Tây Ban Nha, Ý,  Ba Lan, Nga...


Henry Fielding Sinh năm 1707. Mất ngày 8-10-1754.


Henry Fielding ra đời tại Xômơsêt năm 1707 trong một gia đình quý tộc, Finđinh tốt nghiệp trường đại học Itơn rồi theo học khoa luật. Nổi tiếng uyên bác ngay khi còn là sinh viên, ông biết tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng La tinh và tiếng Hy Lạp. Gia đình ông sa sút, ông phải tự kiếm sống ở Luân Đôn một cách vất vả, nếm đủ vị nhục nhằn của cảnh vay mượn, nhờ vả, vì quyết tâm bước vào con đường đầy gai góc mà hiếm vinh quang của nhà văn. Qua nhiều vở hài kịch, ông đã dùng ngọn roi châm biếm táo bạo quất mạnh vào tinh thần phê phán của khán giả đối với chính phủ và triều đình, làm cho bọn cầm quyền phải công bố đạo luật năm 1737, hạn chế việc mở rạp hát và kiểm duyệt gắt gao các vở kịch, trục xuất Finđinh ra ngoài ngành sân khấu. Thế là ông quay sang viết tiểu thuyết. Lần lượt ra đời các tác phẩm:


"Những cuộu phiêu lưu của Zôdêp Andruz cùng bạn là Abraham Ađamz",


"Cuộc hành trình từ thế giới này sang thế giới bên kia",


"Cuộc đời của cụ cố Jônathan Uaidơ vĩ đại"


"Truyện Tôm Jôn, đứa trẻ vô thừa nhận",


"Amêlia",


mà nội dung nêu bật thái độ phê phán cái "trật tự ổn định" - trước hết là cái trật tự tinh thần - của xã hội đương thời và niềm khát khao cải tạo cuộc sống cho tốt đẹp hơn. Giống Đickơn, Finđinh phẫn nộ trước cái mạng lưới chằng chịt của luật pháp phong kiến - tư bản, nó tạo điều kiện cho "Thói đểu cáng của bọn thầy cò" hoành hành. Ông đã cố gắng nhiều ở cương vị một thẩm phán để hỗ trợ công lý, nhưng sau bị buộc phải rời bỏ ngành tư pháp "vì lý do sức khỏe". Sau một thời gian làm việc quá sức, ông đi an dưỡng tại Lixbon và mất tại đó, ngày 8-10-1754.


Nhà nghiên cứu tiến bộ Gioocgiơ Thomxơn trong bản báo cáo đọc tại hội nghị bảo vệ di sản của văn hào nước Anh có viết: "Chôxơ, Sêcxpia và Finđinh đã khai thác nguồn cảm hứng không phải chỉ trong cuộc sống và sự phát triển của toàn xã hội. Chính vì vậy, mặc dù họ không phải là những nhà cách mạng có ý thức, tác phẩm của họ vẫn mang nội dung cách mạng. Cái nguồn ấy chính là nguồn cảm hứng chủ đạo mang tinh thần nhân đạo, đặc trưng của những ngòi bút thiên tài, hòa trộn với tinh thần phản kháng của nhân dân trong một xã hội đầy dẫy áp bức bất công. Nó là nguồn nhựa sống đã từng nuôi dưỡng những cây đại thụ của nền văn học hiện thực phê phán thế giới. Tôm Jôn cùng các tác phẩm khác của Finđinh đã biểu hiện sắc nét tinh thần phản kháng cũng như tinh thần nhân đạo ấy".


Tôm Jôn là câu chuyện về một đứa trẻ vô thừa nhận, kể lại cuộc tình duyên trắc trở của một thanh niên bị coi là một dòng dõi hạ tiện với một thiếu nữ con nhà cao sang. Nhà văn Richơxơn cùng thời, viết cuốn Pamêla, nói về một cô hầu gái nhờ có đức hạnh và nhan sắc mà cuối cùng trở thành vợ cậu chủ trẻ tuổi, con nhà quý phái. Sự khác nhau giữa hai tập truyện là ở chỗ câu chuyện Pamêla là giả tạo, tác giả của nó đã bịa ra để minh họa cho yêu cầu răn đe đạo đức của Thanh giáo, còn câu chuyện Tôm Jôn thì rất thực, vì Finđinh đã dựa trên những tình tiết có thực trong cuộc sống, dựa nên một cốt truyện độc đáo, có sức khái quát một vấn đề mà cuộc sống đang đặt ra với những con người thật. Câu chuyện tình duyên trắc trở chỉ là một cái cớ, một phương tiện để nêu lên một vấn đề lớn: vấn đề bản tính con người, như chính tác giả tuyên bố. Nhưng miêu tả bản tính con người, đâu phải là tất cả những điều tác giả muốn nói. Sở dĩ tác phẩm có sức hấp dẫn và làm cho dư luận xôn xao là do nó có sức thuyết phục và đã đánh vào nhiều thành kiến cố hữu của xã hội mà giai cấp thống trị vẫn gia công củng cố. Xã hội Anh thời này là xã hội phong kiến còn mang nặng những thành kiến, những tập tục lỗi thời, cộng với thói vụ lợi trắng trợn của giai cấp tư sản mới phát triển. Giữa một xã hội mà tôn ti trật tự rõ ràng, mà phẩm cách con người mặc nhiên được đánh giá theo tài sản và dòng dõi, thì đứa con hoang bị coi không hơn con vật là mấy. Trước đó khá lâu, Sêcxpia cũng đã từng nêu vấn đề con hoang, qua nhân vật Etmơn trong Vua Lia, nhưng tinh thần dân chủ của nhà viết kịch vĩ đại chỉ mới cho phép ông khẳng định trí thông minh, ý chí và tài năng của Etmơn, còn ông vẫn đặt nhân vật ở khía cạnh phản diện. Ngược lại, đứa con hoang Tôm Jôn là nhân vật chính diện, trung tâm của tác phẩm và được xây dựng với những phẩm chất đẹp đẽ nhất. Finđinh không chỉ bằng lòng phát hiện ra cái chất đa dạng và phức tạp của bản tính con người, như người ta thường ca tụng, mà ông còn muốn người ta thay đổi cách nhìn, ông muốn đề ra cái chân giá trị mới, trước một vấn đề cơ bản trong bước đi tới của lịch sử là vấn đề đánh giá con người.


Một điều đặc biệt trong cấu trúc của tác phẩm là cốt truyện chính rất đơn giản. Đấy chỉ là một cuộc tình duyên trắc trở, nhưng sức hấp dẫn của tác phẩm chủ yếu là những tình tiết tưởng như là phụ, ở bản thân sức mạnh thuyết phục của chân lý toát ra từ một bức tranh rộng lớn, phong phú vô cùng, đầy chất sống và rất người. Mặc dù tác giả vẫn gọi Tôm Jôn, và Xôfia là hai nhân vật chính, nhưng có thể nói tác phẩm có nhiều nhân vật chính, mỗi nhân vật xét dưới một góc độ nào đó, có thể xem là một trung tâm, giúp tác giả bộc lộ ý kiến về một vấn đề của cuộc sống. Mặc dù viết bằng văn xuôi, tác phẩm vẫn xứng đáng xếp hàng cùng các thi phẩm lớn. Gọi thế vì tầm quan trọng lớn của sự kiện gợi đến thể sử thi, mà phong cách hài hước lại nhắc tới lối văn hí lộng. Nhà thơ Bayrơn (Byron) cũng gọi Finđinh là "Hôme - văn xuôi về bản tính con người".


Trước hết, Tôm Jôn là tiếng nói tố cáo sự bất lực của các chế định xã hội phong kiến buộc con người sáng suốt phải thuần phục những định kiến bất công, không phải là chân lý như: tính bất khả xâm phạm của nền quân chủ, uy quyền tuyệt đối của tôn giáo, sự công minh của tòa án thời đó... Mượn việc đả kích chính thể quân chủ chuyên chế, Finđinh bắn một mũi tên vào triều đình làm nứt rạn uy thế của nhà vua đương thời. Ông đã xây dựng ba nhân vật đại diện cho bọn người cao sang đam mê khoái lạc. Belatxtơn là một phụ nữ quý tộc mang tâm lý tư sản rõ rệt, là một mệnh phụ nổi tiếng ở kinh đô, mụ có lối sinh hoạt phóng túng, lẳng lơ, đa tình mà trịch thượng, coi nam giới như một đồ vật cho thuê, tìm thích thú trong việc làm cho người trai tráng bị sỉ nhục. Là một nhân vật nổi bật vì tính tình liều lĩnh, thái độ bất cần tiếng tăm, mụ là một đồng một cốt với tên huân tước Felama, kẻ đã thực hiện âm mưu đê mạt do mụ bày ra để cưỡng bức Xôfia. Một tên huân tước khác, người Ailen, dùng tiền bạc dụ dỗ vợ người, lại dùng thế lực ép buộc người chồng phải ly hôn. Trong vô vàn những điều xấu xa của bọn người này, tác giả đã chọn một thói xấu tiêu biểu cho tầng lớp ăn bám là thói đĩ bợm, thấy ở cả ba nhân vật. Chúng dùng thủ đoạn của bọn lưu manh, ngụy trang dưới bức màn giả dối của phép lịch sự. Thói si tình tự bản thân nó không phải là điều xấu, nhưng si tình mà dâm bôn trơ trẽn như Belaxtơn, mà đốn mạt vô sỉ như huân tước Felama, mà mưu mẹo xảo quyệt như huân tước người Ailen, thì quả thật là không một tình cảm đẹp đẽ nào tránh khỏi cái không khí xú uế của cung đình nhiễm độc. Bằng việc tô đậm những bóng đen bẩn thỉu này, Finđinh đã đẩy bọn quý tộc xuống cùng một duộc với những kẻ đê tiện nhất trong xã hội.


Giám mục Sơlôck phẫn nộ chủ yếu là vì thái độ của Finđinh đối với tôn giáo. Mục sư Xơpơn quả không chút nào xứng đáng với sứ mệnh coi sóc phần hồn cho con chiên, khi chính ông ta bán linh hồn cho miếng ăn, cam phận đóng vai trò một thứ gia nhân của Wêtxtơn, nhẫn nhục chịu đựng những lời mắng mỏ thô bỉ. Tệ hơn nữa là thầy tu Thoăckơn, nhà thần học. Lão này mới thật tiêu biểu cho cái bản chất xảo quyệt, tham lam, giả dối của nhiều thấy tu đạo Cơ Đốc. Cái bề ngoài sùng tín đạo mạo của lão, gợi ta nhớ lại vẽ uy ghi, tôn nghiêm của thánh đường, nhưng trong đó ẩn giấu những bí mật trần tục mà những tính toán nhỏ nhen bỉ ổi của lão gợi cho ta biết được phần nào.


Finđinh vẫn nói đến đấng tối cao và tín ngưỡng. Nhưng điều ông chủ tâm đả phá là quyền uy tinh thần của giáo hội qua những đại diện xấu xa của nó. Việc phê phán nhà vua và đả kích giai cấp quý tộc biểu lộ thái độ phủ nhận quyền lực thế tục, việc tố cáo cái thực chất xảo trá hèn hạ của giới tu sĩ chứng tỏ ông không tin tưởng vào cái nền tảng tinh thần của nhà nước phong kiến. Ông viết: "Nói rộng ra hai điều này (tức là tôn giáo và đạo đức), nếu thuần khiết thì cũng xứng đáng là những rường cột của xã hội đấy và là nhựng diễm phúc lớn lao, song một khi đã bị đầu độc bởi những sự giả mạo, sự lừa dối và giả tạo thì chúng lại trở thành những tai nạn ghê gớm nhất vì khi đó chúng tạo điều kiện cho con người phạm vào những lỗi lầm tai hại nhất đối với chính đồng loại". Đó là một nhận xét vô cùng sâu sắc.


Finđinh cũng tố cáo tính chất thối nát, bất công của tổ chức pháp lý đương thời qua nhân vật Wêtxtơn, một người giữ chức vụ thẩm phán tòa án hòa giải mà không hề biết cả những điều sơ đẳng về pháp luật.


Vốn là một thẩm phán, Finđinh hiểu rõ những cái thối nát của nghề nghiệp, ông nói: "Vì từ chối không cầm đồng si-linh của một người chắc chắn không còn xu nào dính túi, tôi đã làm số thu nhập xấu xa hàng năm của tôi giảm từ 500 đồng bảng xuống chỉ còn hơn 300 đồng bảng một chút mà phần lớn số tiền này lại nằm trong túi người thư lại của tôi".


Nhân vật Wêtxtơn là một đại diện khá lý thú của tầng lớp đại địa chủ, một cơ sở xã hội khá vững vàng của chế độ phong kiến. Lão mang trong đầu một mớ thành kiến cổ hủ thâm căn cố đế về các vấn đề dòng dõi, gia sư, hạnh phúc, quyền gia trưởng v.v... và mối quan tâm chủ yếu trong cuộc đời của lão là mở rộng phạm vi điền sản; đây là một đại biểu của ý thức hệ phong kiến, lạc hậu mà tính tình lại thô bạo cục cằn, không chút xứng đáng với uy thế xã hội mà tầng lớp này khư khư bảo vệ. Điều đáng quý ở Finđinh là ông đã dám tự tách ra khỏi giai cấp của mình, đứng về phía quần chúng để nhìn rõ giai cấp thống trị mà miêu tả. Finđinh không tin rằng văn phẩm của mình được người đồng tán thưởng ngay, nhưng chính cái tinh thần bất bình, phản kháng toát ra từ các dòng chữ sắc cạnh của ông lại hấp dẫn họ, và cùng với thời gian, giá trị của tác phẩm ngày càng được xác nhận.


Bút pháp hiện thực của Finđinh không phải nhà văn nào tự nhận là hiện thực cũng đạt tới được. Đó là thái độ tôn trọng tính chân thực của cuộc sống được phản ánh. Finđinh không cho phép thiên kiến giai cấp lấn át tính khách quan, tính chân thực ấy đem lại cho người đọc một thích thú chân chất bền vững: tác phẩm văn học không hề làm cái việc nhạt nhẽo, vô vị là minh họa cho vài định kiến có sẵn nào đó; trái lại, nó luôn luôn là một sự khám phá. Bàn về điều kiện tiên quyết của sáng tác, ông viết: "Thiên tài cầm tay ta, dẫn dắt ta đi qua mớ hỗn độn, những "mê cung" của tạo hóa... đưa ta thâm nhập vào tất cả những điều bí mật mà người trần mắt thịt không bao giờ thấy được..., nó dạy ta hiểu biết người đời hơn là chính họ biết họ..., nó lột bỏ tấm màn mỏng manh của sự khôn ngoan, che đậy thói tự mãn của sự giàu có, che đậy thói biển lận, nỗi thèm khát cao vọng". Có thể nói Tôm Jôn là "một tấn trò đời của Banzăc" nhưng không nặng về miêu tả những mâu thuẫn xã hội, mà đi sâu vào tâm lý con người "tìm kiếm những ngóc ngách sâu kín nhất để rút ra những thí dụ về mặt đạo đức và tật xấu".


Bao giờ người đọc cũng chờ đợi ở nhà văn những lời chỉ dẫn của một bậc thầy về khoa tâm lý. Finđinh đã dùng con mắt thấu triệt của tinh thần hiện thực chân chính rọi vào tâm lý con người để rồi nghiêm túc và độ lượng nói lại với chúng ta điều ông ta đã khám phá. Mặc dầu dưới cái vỏ bề ngoài cười cợt, ông vẫn khiến ta phải suy nghĩ, thận trọng, ông dẫn dắt ta đến gặp đủ hạng người: ông thầy thuốc huênh hoang tự dán cho mình một thứ nhãn khoa học giả hiệu, trong khi mối quan tâm duy nhất của lão là khoản tiền thăm bệnh; tên thầy quyền hống hách; tên thầy cò bất lương; vài mụ đàn bà tai ngược lắm điều, cứ muốn xỏ mũi chồng; chị hầu gái kiểu cách rởm, học đòi thói thượng lưu; cậu công tử bột trăng hoa quen thói "quất ngựa truy phong"; bác phó cạo "bẻm mép thợ ngôi"; anh chồng đào mỏ; ông lão chán đời; cậu công tử phá gia v.v... Bao nhiêu con người là ngần ấy nét tâm lý rất thực và có nhiều cái mới khám phá, làm cho ta thấy họ sao mà vừa mới mẻ, vừa gần gũi nhưng vẫn sống quanh ta. Hình như hàng ngày ta vẫn thoáng trông thấy họ mà chưa hề nhìn kỹ trước khi Finđinh đem giới thiệu với công chúng.


Nhân vật trong Tôm Jôn có kẻ thật xấu xa, có người thật tốt đẹp, nhưng nói chung cái xấu, cái tốt lẫn lộn trong mỗi người, vì "con người vốn là một thứ sinh vật đa dạng và phức tạp". Người đọc dừng lại ở những phát hiện đặc sắc: bà Blifin cưng đứa con đẻ với tình nhân mà lại ghét bỏ đứa con mình sinh ra với người chồng chính thức; Wêtxtơn thô lỗ mà chân thực, lố bịch mà cũng có phần dễ mến; lão ghét vợ cay đắng mà quý con gái như vàng; bác Blắch Giooc bất lương nhưng cũng không phải là kẻ vong ơn; cậu Họa mi đàng điếm nhưng cũng chẳng đến nỗi sở khanh; bà Wêtxtơn nói một đàng làm một nẻo; chị Hônơ trung thành nhưng cũng vụ lợi; bà Watơ phóng túng mà lại trọng điều nghĩa.


Cuộc hành trình Tôm Jôn theo đuổi Xôfia là một dịp để tác giả đưa ta tiếp xúc với nhiều hạng người, nhiều cảnh ngộ éo le hoặc tức cười, thương tâm hay êm đềm, làm cho vốn hiểu biết của ta về con người và cuộc sống thêm phong phú. Finđinh chỉ vạch tỉ mỉ những thói xấu để giễu cợt một cách ý nhị, nhưng độ lượng, vì ông rất thông cảm với những cái yếu đuối của con người.


Ông đặc biệt lên án tính vụ lợi và xảo trá. Về điều này, ông đã thành công xây dựng một loạt nhân vật. Nhà triết học Xque, một học giả uyên bác, giỏi ngụy biện, một gia sư nghiêm khắc, một chiến sĩ bảo vệ đạo đức. Nhưng thực chất lại là một người nhỏ nhen, hám lợi, đố kỵ, bợ đỡ và nhất là đạo đức giả. Hắn vận dụng cả lý thuyết cao siêu về sự thích ứng đời đời của vạn vật để biện hộ cho hành vi trác táng của mình. Nhân vật Xque là hình ảnh sự bất lực của lý thuyết trước sức tấn công của dục vọng, khi học vấn không được vun xới trên một căn bản hướng về điều thiện.


Đại úy Blifin cũng là một tay học rộng, biện luận giỏi, nhưng cũng dùng trí thông minh vào việc chiếm đoạt tài sản của vợ và của anh vợ; ở hắn lòng tham tiền làm nguội lạnh mọi tình cảm con người, như tình anh em, nghĩa vợ chồng. Con trai hắn là Blifin, em cùng họ với Tôm Jôn, thừa hưởng tính bố ở mức độ cao hơn. Mặc dù còn trẻ hắn đã có những thủ đoạn xảo quyệt, già dặn, mang dấu ấn của một tên quỷ ác. Lại còn hai anh em ông già Họa mi, anh thì đã "từng giao thiệp mật thiết với đồng tiền, đến nỗi có thể nói được rằng ông ta nghĩ trên đời này ngoài đồng tiền ra không còn thật sự tồn tại một vật nào khác; em thì thừa nhận rằng bây giờ người ta coi những chuyện bội ước là thường tình, một việc bội ước trắng trợn nhất cũng chỉ khiến được người ta ngạc nhiên và bàn tán trong một ngày rồi thôi".


Đấy đúng là luân lý của giai cấp tư sản, làm giàu bằng sự lừa lọc, tráo trở.


Cũng là một thái độ phê phán cái xấu, nhưng cách miêu tả của Finđinh có đặc sắc và luôn luôn đi đôi với những nhận xét độc đáo, làm nổi lên một trí tuệ sắc sảo, tăng thêm giá trị cho bản thân hình tượng rất nhiều.


Trong tác phẩm "Kiếm sống", Gorki cho biết khi ông làm phụ bếp trên tàu thủy chạy dọc sông Vônga, ông đã say mê đọc Tôm Jôn, và ông đã nhận xét Finđinh: "Là người sáng tạo ra tiểu thuyết hiện thực vì ông hiểu biết thấu đáo cuộc sống của đất nước mình, ông là một nhà văn có trí tuệ sắc sảo". Finđinh không chỉ làm công việc phơi bày mặt đen tối của cuộc sống, hoặc phát hiện những khía cạnh phức tạp của nó, tác phẩm của ông còn có một điều đáng quý hơn, đó là tác dụng bồi dưỡng rèn luyện phẩm cách con người. Trong bức thư gửi cho Giooc Litơn, ông viết: "Tôi xin nói rõ rằng việc biểu dương lòng tốt và từ cả những gì trong trắng, chính là nổ lực thành khẩn của tôi trong tập truyện này". Ông có một quan niệm rất đúng đắn về chức năng giáo dục của văn nghệ. Ông đã mượn lời người chủ đoàn múa rối trong truyện phát biểu hộ mình: người ta có thể "giáo dục tâm hồn những người trẻ tuổi, mà nhất định đó là mục đích cơ bản của trò múa rối, bởi lẽ cớ sao những bài học tốt đẹp và hữu ích lại không thể tiến hành bằng nghệ thuật múa rối, cũng như bằng bất cứ cách nào khác".


Nếu thâu tóm tất cả những ý kiến của ông rải rác trong truyện, ta có thể dựng thành một chương trình cải tạo của văn nghệ đối với phong tục tập quán xã hội. Nhiều nhà văn hiện thực phê phán dẫn ta tới thái độ bi quan, nhưng Finđinh, trái lại, khiến chúng ta gấp cuốn truyện lại với một niềm tin sâu sắc vào khả năng cải tạo con người và cải tạo cuộc sống. Ông không lý luận suông về vấn đề này như một nhà luân lý học tầm thường; ông khẳng định cái tốt bằng cả trí tuệ và trái tim của mình qua việc khái quát thực tế, xây dựng hình tượng nhân vật chính diện, do đó nâng cao sức tác động đến người đọc.


Tôm Jôn, Xôfia và ông Oluơtdi có thể xem là ba nhân vật thể hiện những nét cao quý trong bản tính con người chân chính. Người ta nói tới những người thật được Finđinh dùng làm mẫu: Oluơtdi là hình ảnh của Ranphơ Alen, một nhà từ thiện ở Suối Tắm sống cùng thời với tác giả, Xôfia là chân dung của Saclôt Crađôck người vợ thứ nhất của ông, còn Tôm Jôn có nhiều phần giống tác giả, người sáng tác ra nó. Nhưng những nhân vật ấy chủ yếu vẫn là sản phẩm của hư cấu, thể hiện mơ ước của Finđinh. Oluơtdi là người có nhiều đức tính đáng quý: Giàu lương tri, cao thượng, vị tha, công bằng, tuy rất giàu có mà không hề bị của cải làm vấy bẩn cái "thiện tâm" bẩm sinh. Nhân vật này có thể xem như một mẫu người hoàn thiện, thuộc lứa tuổi có suy nghĩ chín chắn, hành động cân nhắc, chủ động chế ngự được các dục vọng, khiến cho tình cảm không vì quá sôi nổi mà lạc hướng. Tuy vậy, Oluơtdi cũng có những nhược điểm, đôi khi ông còn thiếu sáng suốt vì cả tin, và nhất là quá nghiêng về lý trí, nên đối với kẻ phạm lỗi, có phần quá nghiêm khắc. Thái độ nghiêm khắc của ông đối với Blắch Giooc thật khác xa thái độ của Tôm Jôn đối với tội lỗi của anh chàng em họ bà Milơ. Xôfia là một thiếu nữ, ngoài sắc đẹp tuyệt vời, còn mang những phẩm chất lý tuởng của người đàn bà: một tâm hồn nhụy tình cảm, một tấm tình chung thủy nồng đượm, một khiếu hiểu biết tinh tế, hiền dịu mà không yếu đuối, cương quyết mà không thô bạo.Tâm hồn Xôfia nồng nàn mà kín đáo, đằm thắm mà dịu dàng, hồn hậu mà không nhạt nhẽo, tinh tế mà không quá sắc sảo... Hình tượng nhân vật Xôfia đáng yêu còn đượm hương vị tâm tình yêu thương canh cánh bên lòng của tác giả đối với người vợ đã quá cố. Nhưng sự thành công của nhân vật cũng còn nhờ có bàn tay của thiên tài. Nó giúp nhà văn xây dựng được một nhân vật mang nhiều màu sắc lý tưởng mà vẫn có sức rung động tâm hồn người đọc, tuy rằng chúng ta có ý muốn ông đưa thêm chút ít yếu tố phức tạp của cuộc sống vào việc cấu tạo tâm lý.


Nhân vật chính Tôm Jôn được xây dựng nhằm thể hiện tinh thần nhân đạo. Trong tác phẩm, danh từ "thượng lưu" được nhắc đến nhiều lần, nhưng khái niệm thượng lưu chân chính, theo tác giả, bao hàm tư cách và học vấn, không phải ở gia thế và tài sản. Tôm Jôn là một đứa con hoang, nhưng là người thượng lưu chân chính. Jôn quan niệm "sự phong phú của tinh thần là nền tảng chắc chắn của tất cả những gì lớn lao, cao quý trong bản tính con người". Sự phong phú ấy, Finđinh xem như một bản tính bẩm sinh, một thứ "thiện tâm" cơ bản hướng con người về điều tốt lành, mặc dù không hế có ý nghĩa toàn thiện toàn mỹ. Cho nên, ngay từ nhỏ, Jôn đã bộc lộ rõ là một người có thiên hướng về đạo đức, qua một số hành vi đẹp đẽ hồn nhiên. Lớn lên những mầm sống đạo đức phát triển, được củng cố, tạo cho Jôn một tính cách ổn định vững vàng, với những nét: trung thực, vị tha, rộng lượng, trọng tín nghĩa, trọng danh dự, cao thượng, và nét rõ hơn cả là tâm hồn sôi nổi nhiệt tình với những gì là tốt lành, là cao quý trong con người và cuộc sống.


Lẽ dĩ nhiên, Finđinh không dựng nên một hình nộm, một nhân vật tích cực theo tinh thần tiên thiên. Ông chỉ là người thợ mài đá quý cho nó thêm óng ánh nước sáng, chứ không tạo ra đá quý, cho nên Tôm Jôn, con đẻ của cuộc sống, cũng mang tính phong phú và đa dạng của cuộc sống, với những yếu đuối thuộc bản chất con người. Tính thiếu thận trọng trong xử sự vì dễ dàng tuân theo sự kích động nhất thời đã gây tai họa cho Jôn không chỉ một lần, nhưng Jôn không hề phạm một khuyết điểm nào có dụng tâm và nhằm mưu lợi cá nhân. Những thiếu sót của anh ta dễ dàng tha thứ, vì một người chân thực, tính tình nồng nhiệt, ít kinh nghiệm và trẻ tuổi, mà hay phạm thiếu sót để cho kẻ xấu dễ có cơ hội khai thác lợi dụng thì không phải là điều đáng ngạc nhiên. Có lẽ thiếu sót lớn nhất của anh là thói đa tình, nhưng xét cho kỹ, những mối tình của Jôn cũng nêu lên vấn đề bản năng và lý trí mãi mãi gắn bó với con người. Mối quan hệ với ả Môly, bà Watơ và Belatxtơn chỉ là những sự sa ngã do nhu cầu của lứa tuổi giàu nhựa sống mà thiếu cân nhắc, do hoàn cảnh khuyến khích hoặc bắt buộc. Nếu không xét đến mối tình chung thủy và thanh khiết của Jôn với Xôfia, cùng cách Jôn xử sự đúng đắn trong việc thu xếp cho Họa Mi lấy cô Nanxy, thì ta đã lầm tưởng anh là phường trác táng. Ở Jôn, bản năng tuy khá mạnh, nhưng rồi cuối cùng lý trí cũng chế ngự được, cho nên dù hay vướng mắc với phụ nữ, Jôn vẫn là người tôn trọng tình yêu thuần khiết, tôn trọng hôn nhân và gia đình.


Điều nên chú ý là trong khi xây dựng nhân vật Jôn, tác giả đã không làm con tính cộng những thói xấu và những đức tốt, và đã đạt kết quả trình bày một tính cách phức tạp và thống nhất. Từ đó nảy ra vấn đề "bản chất"; "bản chất" của Jôn được cái căn bản đạo đức vững vàng, hướng dẫn, uốn nắn cách xử thế nhưng cũng không thể biến con người thành bậc thánh. Vì vậy, nhiều lần trong cách xử sự, Jôn đã tỏ ra có phần khác người, khiến cho ngay khi phạm thiếu sót, anh vẫn có phần đáng trọng. Điều nổi bật ta lĩnh hội được từ hình tượng Tôm Jôn là "một trái tim nồng nhiệt, một đức tính hồn nhiên bộc trực, một ý thức chân thành ham muốn làm điều thiện", đó là những mầm mống quý báu của một phẩm chất chân chính. Đôi  khi bản năng quá mạnh có nhất thời che lấp những ưu điểm trên, nhưng rồi cái căn bản đạo đức, như một thân cây đầy sức sống, vẫn đâm chồi xanh tốt. Còn một thứ lý luận thông thái, trừu tượng, những quy tắc xử thế căn cứ vào lý trí thuần túy hoặc triết lý siêu hình, đều chỉ là dối trá.


Những chương giáo đầu ví như lời minh họa cho những bức tranh hài hước, chẳng phải vì tranh vẽ khó hiểu, mà vì lời minh họa dí dỏm giúp ta đi sâu hơn vào ý nghĩa sâu sắc của tranh. Đó là dịp để tác giả bày tỏ trực tiếp quan niệm của mình về nhiều vấn đề có liên quan đến tình tiết của tác phẩm: về tình yêu và hôn nhân, về tôn giáo và đạo đức, về sân khấu và cuộc đời, về văn học và phê bình, về chính thể và tự do v.v... Ở đây ta không tiếp xúc với một nghệ sĩ, mà ta gặp một học giả, một triết gia, một nhà luân lý và hơn hết là một người từng trải việc đời. Những nhận xét sâu sắc trên cơ sở một học vấn uyên bác, một trí tuệ chín chắn, một tinh thần sắc sảo mà độ lượng được khiếu hài hước và thái độ chân thành hỗ trợ, đã lôi cuốn sức chú ý của bất cứ một người đọc nghiêm túc nào, mặc dù ta vẫn nhận thấy thấp thoáng khuynh hướng giáo huấn chịu ảnh hưởng ít nhiều của thanh giáo và rất thịnh hành vào thời đó.


Finđinh dĩ nhiên không thể hoàn toàn vượt ra ngoài thời đại của ông. Như những thiên tài khác, ông đã vươn lên cao hơn những người đồng thời một với tay khiến cho ta đứng cách xa hàng vài thế kỷ còn thấy rõ; nhưng ở ông cũng có nhiều điểm hạn chế. Trong điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, cũng như nhiều nhà văn lớn, ông muốn cải tạo xã hội trên cơ sở xây dựng đạo đức cá nhân mà không thấy được rằng việc giáo dục đạo đức cá nhân chỉ thành công trên cơ sở cải tạo xã hội.


Finđinh có một lối văn đặc sắc, giàu tính hài hước của dân tộc Anh. Đọc văn ông từng trang, từng dòng người ta muốn tủm tỉm cười vì cách ông cấu tạo nhân vật, bố trí tình tiết, khai thác những mâu thuẫn bất ngờ, và còn do cách diễn đạt, cách dùng từ, tất cả tạo nên một ý vị hài hước thâm thúy mà không cay độc.


Viết Tôm Jôn, Finđinh không tin rằng mình được người đồng thời tán thưởng ngay, nhưng ông khẳng định: "Tác phẩm của ông sống lâu hơn tác giả tàn phế của nó". Lịch sử chứng minh niềm tự tin ấy. Gấp cuốn truyện lại, chúng ta hkông thể không nhớ tới lời văn hào Thackơrây ca ngợi Finđinh: "Thật là thiên tài; thật là mạnh mẽ; một trí thông minh sắc sảo; một khiếu quan sát tinh tế; một lòng căm thù mãnh liệt đối với cái gì là hèn hạ đểu cáng; một niềm thông cảm bao la; thái độ vui vẻ ấy, lòng khao khát cuộc sống ấy đã dạy cho biết bao thế hệ biết cười một cách sáng suốt và lương thiện!".


Ngày nay chúng ta tìm đến Finđinh như tìm đến những lời chỉ bảo ân cần của một bậc tuổi tác ôn tồn bàn với ta điều hơn lẽ thiệt, với nụ cười độ lượng. Chúng ta còn tiếp thu được ở Finđinh một tinh thần dũng cảm đấu tranh để tiêu diệt cái xấu, một niềm mong ước nhiệt thành xây dựng con người tốt đẹp hơn, cao quý hơn.


 


Nguyễn Tâm


Nguồn: TOM JONES Đứa trẻ vô thừa nhận. Tiểu thuyết của HENRY FIELDING, 2 tập, 1000 trang. Trần Kiêm dịch từ nguyên bản tiếng Anh: THE HISTORY OF TOM JONES, A FOUNDLING của HENRY FIELDING. Nhà xuất bản MAC DONALD, Luân Đôn, 1935. Tái bản theo bản in năm 1983 của NXB Văn học.

Qua www.trieuxuan.info, NXB Văn học kính cáo: Dịch giả Trần Kiêm qua đời đã lâu. Chúng tôi chưa tìm ra địa chỉ Người thừa kế hợp pháp! Kính mời Người thừa kế hợp pháp cho chúng tôi địa chỉ để sau khi sách phát hành, NXB chuyển tiền Nhuận bút của người dịch. Xin liên hệ với Nhà văn Triệu Xuân: Chi nhánh NXB Văn học, 290/20 Nam Kỳ Khởi nghĩa Q3 TP. HCM. Mobile: 0989 009 227. E-mail: xuantrieuwriter@gmail.com


Chân thành cám ơn!



 



 



 



 



 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cảm nhận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú - Nhiều tác giả 22.06.2017
Thảo luận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú - Nhiều tác giả 22.06.2017
Hổ Thần và những điều thú vị khi đọc truyện ngắn dã sử - Triệu Xuân 31.05.2017
Truyện Dị sử của Ngọc Toàn - Triệu Xuân 31.05.2017
Từ cảm thức hiện sinh nghĩ về quan niệm sáng tác của Bích Ngân trong “Thế giới xô lệch” - Trần Hoài Anh 24.05.2017
Nhân vật chấn thương trong “Thế giới xô lệch” của Bích Ngân - Đoàn Thị Ngọc 23.05.2017
Văn hóa lâm nguy - Pierre Bourdieu 21.05.2017
Puskin và Gogol - hai kiểu sáng tác trong văn học Nga - Đào Tuấn Ảnh 15.05.2017
Người con gái viên Đại úy - Lê Thời Tân 15.05.2017
Người viết tiểu thuyết lịch sử, anh là ai? - Hà Phạm Phú 15.05.2017
xem thêm »