tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19376777
11.10.2011
Vũ Bằng
Cái thú nhất đời của Phú Đức Nguyễn Đức Nhuận

Vào Sài Gòn sau Hiệp định Genève, tôi chỉ gặp Phú Đức có vài lần, nhưng thực tình tôi mến Phú Đức từ khi còn đi học trường trung học. Ấy là tôi biết ông qua mấy truyện Châu về hiệp phốTiểu anh hùng Võ Kiết lúc ấy gửi ra bán ở Bắc Kỳ rất chạy nhưng thường thường là không bao giờ tôi có tiền để mua. Đọc truyện của Phú Đức, tôi hoàn toàn đi thuê ở ba nhà sách gần nơi tôi ở: một là nhà Cát Thành ở đầu phố Hàng Gai trông sang Hàng Đào, hai là nhà Bảo Hưng và ba là nhà Cẩm Văn Đường ở Hàng Bông. Thuê một cuốn để xem - dày chừng hai lăm hay ba chục trang - trong bốn mươi tám tiếng đồng hồ phải trả hai xu nhỏ, nhưng phần nhiều là không bao giờ tôi đọc đến bốn mươi tám tiếng đồng hồ. Một cuốn sách như thế, tôi chỉ đọc độ hai tiếng là xong phải trả liền để đổi lấy quyển khác để xem tiếp vì mê không chịu được: truyện của Phú Đức có vẻ như trinh thám, có vẻ như võ hiệp lại có vẻ như truyện tình. Ba cái đó, đối với lúc đó thật quả rất hợp thời nên không cứ tôi bị cám dỗ mà các bè bạn tôi cũng bị mê như thế. Xem xong một quyển, chúng tôi lại ngồi đấu chuyện với nhau và dự đoán câu chuyện sẽ biến chuyển ra thế nào, kiểu các người mê kiếm hiệp tiểu thuyết và truyện “chưởng” bây giờ vậy.


Chúng tôi mê nhất Điếu xì gà thiệp liệt và có những buổi tối mùa hè, bắc chõng ra ngoài đường hứng mát trò chuyện với anh em, tôi ưa tưởng tượng Phú Đức là một “tay chơi” có vẻ mặt ngổ ngáo, ngậm xì gà, mỗi khi đi tắm suối ở Thủ Đức thì lại đeo một cái mặt nạ bằng nhung đen nơi mắt (?). Tại sao tôi lại tưởng tượng Phú Đức như thế? Quả tình tôi cũng chẳng biết tại làm sao, nhưng đến sau này vào Nam thì tôi vỡ mộng vì Phú Đức mà tôi gặp ở một lầu gần Ngã Sáu Lê Văn Duyệt bây giờ là một người hoàn toàn khác thế.


Tại sao tôi tìm được Phú Đức?


Bình thường ra thì tôi cũng chẳng muốn gặp Phú Đức làm gì. Lần đầu tiên ở Sài Gòn - khoảng 1920, 1921 - tôi vẫn thường đi với các ông Nguyễn Văn Bá, Đào Trinh Nhất, Lê Trung Cang, Phan Khôi... vì lúc ấy tôi làm phóng sự, phỏng vấn, không giao thiệp nhiều với các tiểu thuyết gia - mặc dầu tôi vẫn nhận rằng lúc đó Phú Đức, Hồ Biểu Chánh là những tiểu thuyết gia số một ở miền Nam.


Phải đợi đến lần vào Nam thứ nhì - tức là hồi 1954 - tôi mới có dịp gặp Phú Đức. Không có ai giới thiệu cả. Biết là Phú Đức ở trên một căn gác ở gần Ngã Sáu Lê Văn Duyệt, một chiều sâm sẩm tối kia tôi đến thẳng nơi ông ở, gõ cửa, tự giới thiệu để vào thăm ông. Tiếng là thăm, nhưng thực là vì một mục đích khác. Lúc ấy, tôi làm nhật báo Dân Chúng. Mặc dầu cố gắng tận tình, báo này vẫn cứ xuống rầm rầm và chỉ chờ giờ G là đóng cửa. Nhưng còn nước còn tát, chúng tôi vẫn cứ ra sức tìm cái mới lạ cho báo “họa may báo có lên chăng”. Và chính là nằm trong chương trình ấy, chúng tôi quyết định rằng phải điều đình với Phú Đức mua một cái truyện cũ để đăng tải, may ra có độc giả nào bị lôi cuốn tìm đọc và nhờ đó mà báo sống được chăng.


Cảm giác đầu tiên của tôi khi gặp ông Phú Đức là một cái gì từa tựa như thất vọng. Tôi biết rằng tôi thất vọng như thế là lầm là tại vì từ khi tôi tưởng tượng Phú Đức phải là một tay ăn chơi mạnh khỏe, hút xì gà, đi xe Hiệp Liệt([1]) đến bây giờ đã bao nhiêu nước chảy qua cầu rồi, bao nhiêu thay đổi rồi, nhưng biết thế là một chuyện mà yên chí lại là chuyện khác nên tôi cứ thất vọng như thường, không có cách gì mình lại cải chính cho mình nghe ra sự thực.


Phú Đức gặp tôi buổi chiều hôm đó, là một ông già cử chỉ nói năng như cái bóng. Bên cạnh ông là một cái bàn đèn. Ông ngồi ở trên giường tiếp chuyện tôi như hầu hết các nhà văn thơ ghiền hút khác, nhưng phải nói ngay rằng mặc dầu vậy, tôi thấy có cảm tình ngay với Phú Đức vì ông không tỏ ra kiểu cách gì hết mà câu chuyện ngay từ câu đầu đã tỏ ra cởi mở và thành thật. Ông nói:


- Tôi có đọc Trung Bắc Chủ Nhật vì Đào Trinh Nhất có viết trong đó, nhân đấy có đọc tập hồi ký cai thuốc phiện([2]) của ông. Chắc là có cai, nhưng cũng có bịa một chút, phải không? Tội gì mà cai cho khổ! Thôi, nằm xuống đây, ta làm vài điếu rồi muốn nói chuyện gì hãy nói.


Bình thường, nhất kiến vi kiến mà nghe thấy câu nói ấy, người nào cũng cảm thấy “trỗi” lên nhưng đối với Phú Đức, hoàn toàn không, trái lại, tôi lại có cảm tình liền vì qua nét mặt, giọng nói của Phú Đức, tôi thấy một cái gì cởi mở thành thật, không “đóng kịch”. Cùng lúc đó tôi thấy giữa Phú Đức và Đào Trinh Nhất có một cái gì giống nhau, nhưng “cái gì” đó ngay lúc ấy tôi không biết là cái gì. Tôi chỉ thấy mang máng rằng cái cười, nét mặt, bộ điệu, giọng nói của Phú Đức cũng “lành lạnh”, “xa xôi” như Đào Trinh Nhất, có lẽ người khác thấy thế thì cho là không vồn vã, không đon đả nhưng riêng đối với tôi thì tôi cho là thành thật - thành thật kiểu Á Đông “quân tử chi giao đạm nhược thủy”(3).


Tôi không dám nằm luôn xuống giường nhưng ngồi ghé lại sát bàn đèn trò chuyện, trong khi Phú Đức lại nằm xuống hút. Tôi bèn trình bày lý do tôi đến thăm ông. Lúc ấy dường như vào khoảng 1956 hay 1957: Báo hàng ngày có dăm tờ, nhưng làm ăn khó quá. Ông có thể giúp chúng tôi về phương diện gì không?


- Ông trông, giúp gì được? Già rồi là một, tôi lại tính ra một tờ tuần báo riêng về tiểu thuyết là hai. Vậy chỉ còn biết cách cám ơn, chớ không có cách gì hợp tác.


- Tôi bàn với anh thế này (xin cho phép gọi bằng anh cho thân tình): anh cho chúng tôi in lại truyện Châu về hiệp phố.


- Sẵn lòng lắm, nhưng liệu bây giờ thiên hạ có còn ai chịu đọc nữa không?


- Đọc hay không, chúng tôi chịu trách nhiệm. Điều cần là anh có chịu không. Nếu chịu, anh cho tôi biết mỗi tháng phải nộp bao nhiêu - chứ nộp luôn một lúc thì thú thực nhà báo không có tiền vì đương lúc này “rách” lắm.


Phú Đức là một nhà văn giải quyết công việc rất nhanh. Anh hút thêm một điếu nữa, trả lời:


- Hai mươi nhăm, hai mươi sáu kỳ mỗi tháng. Anh nói nhà báo rách, mỗi tháng chi bảy ngàn, chịu không?


Bảy ngàn dưới thời Ngô Đình Diệm bằng bảy tám chục ngàn bây giờ. Tôi đem chuyện ấy về nói với anh em nhà báo. Sau khi tính toán, anh em liệu sức mình chỉ trả được năm ngàn. Tôi đem chuyện ấy trình lại với Phú Đức, anh tỏ ra cương quyết lạ:


- Không. Cảm tình gì thì cảm nhưng dưới bảy ngàn tôi không chịu. Đó là nguyên tắc sống của tôi, mặc dầu bây giờ tôi đã già và tương đối đã “xuống” rất nhiều so với hồi còn trẻ. Nhưng tôi cứ phải giữ nguyên tắc đó: văn chương không có trả giá([3]).


“Thí dụ anh với tôi là bạn, anh đi chơi, nhậu nhẹt, ăn hút, mèo mỡ, anh có tiền anh trả, tôi có tiền tôi trả; mà thí dụ anh không có tiền, tôi đưa anh dùng, nhưng viết văn dù là cho báo của riêng anh, tôi cũng cứ lấy nhuận bút - dù là một đồng bạc - mà lấy đúng theo sức lao động của tôi, không nhiều quá và cũng không ít quá.


“Viết mà lấy tiền nhuận bút đúng mức là nguyên tắc của tôi. Tôi không bớt. Tiền đó tôi làm gì mặc tôi, có thể tôi tiêu một mình cho sướng nhưng cũng có thể tôi đem cả số đó biếu một người bạn nào cần tiền. Cứ trả đủ tiền tôi đã rồi sau ta sẽ liệu. Tôi không chịu cái lối viết mà cảm tình với nhau không lấy tiền hay lấy tiền ít để tạo cảm tình với nhau. Tôi cảm tình với anh thì tôi đưa tiền cho anh tiêu chớ tôi không lấy ít.


Câu chuyện điều đình truyện Châu về hiệp phố do đó không xong. Nhưng sau này gặp nhau ở trường đua lúc nào Phú Đức và tôi cũng chuyện trò thân thiết chớ không vì lẽ không hợp tác được với nhau mà thành lạnh nhạt.


Lời nói và việc làm gắn liền với nhau


Trong những cuộc gặp gỡ ngắn ngủi ở trường đua như vậy, Phú Đức tỏ ra rằng lời nói và việc làm của anh gắn liền với nhau. Lần nào ở trường đua về, anh cũng hỏi tôi “thua hay được” và lần nào anh cũng hỏi “có đủ tiền xe về không”.


Không. Phú Đức lúc thiếu thời là một tay chơi “mánh”, ở trong túi chắc chắn là không bao giờ thiếu nhưng vào lúc mặt trời xế bóng, tôi ít thấy có người nào sống hồn nhiên thành thực như Phú Đức - ít ra đối với tôi. Riêng về nghề văn, anh đã tỏ ra thành thực lạ lùng.


Chắc là các bạn không còn lạ là trước đây và cả bây giờ nữa, nhiều nhà viết “phơi ơ tông”([4]) cho báo lúc bí thường lấy những truyện đăng báo từ năm mười năm trước ra đưa cho con cháu đánh máy lại, đổi tên nhân vật và đổi chi tiết đi một tí, đổi luôn cái nhan đề để bán cho “có giá” hơn. Phú Đức không thế. Anh nói huỵch toẹt anh là “bổn cũ soạn lại” có thế nào cứ bán lại nguyên như thế, ai chịu thì chịu, không chịu thì thôi.


- Có lẽ vì tính tôi như thế nên không bao giờ giàu lớn được bằng nghề viết mặc dầu như anh đã biết có một thời ở trong này tôi đã “hái ra tiền”.


Nghe anh rồi kế đó gặp nhiều văn hữu khác kể chuyện về Phú Đức, tôi mới biết rằng quả là cái thời vàng son của anh ở đất này có một thời trội lạ. Tôi biết Lê Văn Trương từ lúc mới vào làng văn với truyện Những cảnh hoang tàn Đế Thiên Đế Thích, từ lúc còn kêu là Cô Lý, rồi sang Tiểu Thuyết Thứ Bảy nổi tiếng một loạt truyện dài bán chạy như tôm tươi ở khắp Bắc Trung Nam, vét tiền của ông Vũ Đình Long và nhà xuất bản Đời Mới của Trác Vỹ và nhà Cộng Lực như thể vỗ tay. Nhưng so sánh với Phú Đức thì Lê Văn Trương, dưới con mắt nhận xét của tôi, chưa nước gì với Phú Đức.


Phú Đức bước vào làng văn cũng như Lê Văn Trương vậy. Tôi nhớ lúc ấy Lê Văn Trương ở Cam Bốt về bán hột xoàn xiêm. Vì Trương là cháu vợ tôi, anh đi lại nhà tôi, coi mẹ tôi như mẹ anh, em tôi như là em anh. Nghề chính của anh là bán hột xoàn; cuốn Đế Thiên Đế Thích là cuốn truyện anh viết chơi, đưa cho tôi để đăng lên Trung Bắc Tân Văn của cụ Nguyễn Văn Luận và không cần biết nhuận bút bao nhiêu. Phú Đức bước vào làng văn làng báo cũng như Lê Văn Trương vậy. Lúc ấy, Phú Đức làm nghề “Godautre”([5]) ở Gia Định. Vào cái tuổi ấy, ai mà chẳng ấp ủ một tình yêu hoặc tràn trề mong ước hoặc thất vọng não nùng, cần phải nói được ra lời, không thế thì không chịu được. Phú Đức viết câu chuyện tình cảm của mình ra dưới hình thức một truyện ngắn nhan đề là Câu chuyện canh trường. Cái biệt hiệu “Phú Đức” của nhà giáo Nguyễn Đức Nhuận bắt đầu xuất hiện trên tờ báo Trung Lập của ông De Lachevrotierè dưới bút quyền của ông Trương Duy Toản. Cũng như Lê Văn Trương, sau khi báo Trung Bắc Tân Văn đăng truyện Những cảnh hoang tàn Đế Thiên Đế Thích sướng rên lên, Phú Đức thấy Câu chuyện canh trường của mình được nhà báo đăng tải cũng hết sức mãn nguyện, nhưng mãn nguyện gì cũng chưa bằng sau đó ít lâu, nhà báo Trung Lập lại viết một bức thư mời anh viết tiếp cho một thiên tiểu thuyết khác vì Câu chuyện canh trường được độc giả hoan nghênh nhiệt liệt. Do đó, thiên tiểu thuyết Căn nhà bí mật của Phú Đức lại xuất hiện trên báo Trung Lập và lần này thì nhà báo trả bản quyền hẳn hoi, hai mươi đồng bạc Đông Dương. Lương giáo học của Phú Đức lúc ấy khoảng bốn mươi đồng, thêm hai mươi đồng viết truyện nữa, có thể gọi là phè phỡn với giá trị đồng tiền thời đó.


Nhưng phè phỡn gì cũng không bằng ngôi sao Phú Đức từ Căn nhà bí mật mỗi ngày mỗi sáng dội mãi lên. Ngôi sao ấy sáng dữ nhất với truyện Châu về hiệp phố in trên báo rồi lại in thành sách, từng tập hai ba chục trang một, tái bản đi tái bản lại nhiều lần làm cho cả Bắc Trung Nam đều đua nhau tìm đọc. Tiền tác quyền của Phú Đức khá bộn, đồng thời, nhờ hai bộ tiểu thuyết đó mà báo Trung Lập in vọt hẳn lên - chạy nhứt trong làng báo Nam Việt lúc bấy giờ - nên ông Trương Duy Toản đã tự đề nghị tăng tiền thù lao của Phú Đức từ hai mươi đồng lên bốn mươi đồng rồi lại từ bốn mươi đồng lên tám mươi đồng.


 


Làm chủ bút báo Công Luận chỉ vì tài viết tiểu thuyết


Hồi đó dường như là 1924 hay 1925 gì đó, trong nước từ Nam ra Bắc lúc nào cũng âm thầm phong trào bài Tây, bài Tàu, bài Bombay. Ở Nam, phát động phong trào bài Bombay vì các chú này dựa vào Pháp làm tàng, coi các khách hàng Việt Nam không ra gì. Một anh Bombay, không hiểu vì buôn bán nhầm lẫn hay là ra cái điệu tự tôn, mặc cảm sinh sự, chửi bới một người Nam, thế là người Nam đoàn kết tẩy chay hàng Bombay. Chủ bút của tờ báo Trung Lập đứng ra phát động phong trào một cách hăng say, báo chạy thêm lên nhiều nữa, nhưng ông De Lachevrotierè; không hiểu vì sự an ninh của ông, của báo hay nhận được chỉ thị mật của nhà cầm quyền lúc đó lại cố tình dập tắt phong trào, nên cả tòa soạn bất mãn. Riêng Phú Đức, không chịu được thái độ mềm yếu đó đối với một bọn người ngoại lai khinh miệt người Việt Nam, đã quyết định đánh một đòn quyết liệt: không viết tiếp truyện Châu về hiệp phố nữa. Lúc ấy, làng báo Nam Việt nói về Phú Đức bứt ngang truyện Châu về hiệp phố có nhái câu thơ cũ như sau:


Ai về nhắn nhủ Chu Công Cẩn,


Quốc hận xui nên phục dạ chàng.


Nắm được cơ hội đặc biệt, một tờ báo cũng có hạng hồi đó là tờ Công Luận tìm liền đến Phú Đức để điều đình. Lúc ấy, tờ Công Luận thuộc quyền của một đại tá người Pháp; ông Nam Đình, một lão thành trong làng báo Nam Việt, tác giả truyện dài Cô Bạch Mai liền sắp cho ra truyện dài Săn cừu trên báo ĐNN([6]) đứng trông nom tòa soạn. Chiều đúng thị hiếu của độc giả lúc bấy giờ, ông Nam Đình đã tỏ ra khôn khéo đặc biệt là tìm đến Phú Đức mời cộng tác và hơn thế mời Phú Đức làm chủ bút cho tờ Công Luận. Do sự mời mọc này, lúc ấy làng báo trong Nam có người đã so sánh Phú Đức với những đào kép nhất cải lương như Phùng Há, cô Năm Phỉ, Bảy Nhiêu... và cho rằng đó là một sự giành giật, một sự mua chuộc như người ta mua chuộc đào hay kép lạ. Đó là về phương diện thương mại của báo, ta chẳng nên lưu ý làm gì. Chỉ biết rằng do lời mời của ông Nam Đình, Phú Đức chịu về làm chủ bút cho tờ Công Luận với một cái lương ngang với lương của đốc phủ sứ lúc bấy giờ, những sự việc này đánh dấu một cái dấu hãn hữu trong làng báo Việt Nam: chủ bút của cả một tờ báo hàng ngày không cần biết chủ trương, đường lối, lập trường của tờ báo ra sao, chỉ biết cung cấp tiểu thuyết dài cho báo. Lúc này, Phú Đức thôi hẳn nghề “godautre” vì chủ nhân của báo Công Luận đã can thiệp với chính phủ Pháp để cho Phú Đức bỏ hẳn nghề dạy học và bước hẳn vào nghề báo. Vậy là Phú Đức làm chủ bút Công Luận mà không cần viết gì ngoài Châu về hiệp phố và một hai cột Tiểu anh hùng Võ Kiết. Bao nhiêu bài vở khác, cũng như bao nhiêu sáng kiến làm cho báo chạy, Phú Đức đều nhờ anh em trông nom giúp. Truyện đưa rồi, anh lái chiếc “xe hơi xì gà” đi chơi với đào khắp đô thị, sống một cuộc đời phong lưu hưởng lạc.


Thăng trầm


Nhưng cái đời của văn nhân ký giả có bao giờ lại trôi chảy đều đều như thế. Cái kiếp của một tờ báo hàng ngày cũng như hàng tuần - cũng như kiếp con người - có lúc thịnh, có lúc suy: Phú Đức, sau đó ít lâu, không thể sống với một tờ Công Luận. Chiếc xe hơi “xì gà” mại([7]) đi rồi, anh lại đạp một chiếc xe máy dầu đi “cà rịch cà tang” từ Sài Gòn về Gia Định rồi lại từ Gia Định về Sài Gòn để đưa bài cho các báo. Là vì sau thời vàng son làm chủ bút tờ Công Luận ít lâu, Phú Đức phải viết cho nhiều tờ báo mới đủ tiền xài vì số tiền “á phiện” của anh hàng tháng tương đối không phải nhỏ. Mỗi sáng, Phú Đức lại đạp cái xe máy dầu từ Gia Định lên Sài Gòn để đưa bài cho các báo. Công việc này anh không dám giao phó cho ai bởi vì anh chỉ sợ “râu ông nọ cắm cằm  bà kia”. Thay vì đưa Cái nhà bí mật cho Tiếng Chuông lại đưa Châu về hiệp phố của Thần Chung, hoặc bài Sát thủ giản cho Thẩm Mỹ lại đưa thay Tình trường huyết lệ.


Một người hút mà lại đã từng có một thời kỳ ăn chơi gia rít, kiếm tiền như vỗ tay như Phú Đức mà phải đạp xe máy dầu đi từng nhà báo đưa bài như thế, tự anh chẳng biết có buồn không, nhưng riêng các bạn bè trông thấy thế cũng đôi lúc thấy đau nhói ở trong lòng. Lúc anh về ở Ngã Sáu Lê Văn Duyệt mà tôi nằm với anh, ở bên bàn đèn thuốc phiện, là lúc danh vọng về chiều. Phú Đức ra một tờ báo nói về cá ngựa, rồi lại ra một tuần báo in toàn tiểu thuyết, nhưng không lấy gì làm chạy lắm. Tuy nhiên, vốn đã có sẵn tiền, mặt một nét thản nhiên đến cái độ lạnh lùng với mọi biến chuyển ở chung quanh, Phú Đức không hề phàn nàn một câu gì với ai bao giờ. Tôi hỏi:


- Này, tôi hỏi thực, có phải trước đây, có một gánh hát lấy truyện của anh soạn thành vở. Đến khi diễn, kép chính thủ võ hay quá, có một người nhảy lên sân khấu cầm guốc đánh người kép ấy đến lỗ đầu phải không?


Phú Đức không cười mà cũng không tỏ ra vẻ xúc động một ly, khiêm nhường nói:


- Tôi cũng nghe thấy anh em nói thế. Họ nói rằng người khán giả ấy nguyên vẫn theo đều đều tiểu thuyết của tôi, nên biết hết cả tình tiết truyện và tâm lý của từng vai trong truyện. Vì thế anh thấy kép nọ đóng chính cái vai mà khán giả đó ghét, y nhảy lên đánh anh kép hát lỗ đầu. Phải, anh em kể với tôi như thế... Y như truyện Tàu người ta đi xem tuồng Nhạc Phi ghét tên Tần Cối không chịu được, nhảy đại lên sân khấu đập tên kép đóng vai Tần Cối bỏ cha bỏ mẹ. Tuy nhiên tất cả những cái đó chỉ có tính cách làm cho mình vui chốc lát thôi.


- Thế trong cuộc đời viết văn, viết báo của anh có gì làm cho anh vui lâu bền?...


- Sự thực, vui buồn ở đời đối với tôi chỉ là chuyện thoáng qua thôi. Thay vì anh hỏi cái gì làm cho tôi vui lâu bền, mà anh lại hỏi “cái gì làm cho tôi vui nhất” thì tôi xin kể cho anh câu chuyện có thực sau này:


“Lúc ấy tôi đang viết truyện Châu về hiệp phố được độc giả có lòng yêu tìm đọc khá nhiều. Trong số đó có một bà quả phụ giàu có tiếng, mê truyện Châu về hiệp phố một hai tổ chức một bữa tiệc mời có tới hơn năm mươi người dự, với tính cách tao phùng văn nghệ. Nhưng chính hôm đó không may tôi lại mắc việc không đến được, phải nhờ một ngưòi bạn cỡ tuổi tôi trong tòa soạn đi thay. Cũng cứ tưởng là ăn uống xong là trò chuyện láo lếu rồi về, không ngờ anh bạn tôi và bà quả phụ nọ lại “dính” nhau, rồi mấy tháng sau thì hai bên làm lễ thành hôn chính thức.


“Sau này, thỉnh thoảng đi xe máy dầu đưa bài cho các báo, tôi vẫn gặp hai ông bà, đi xe ô tô Huê Kỳ trò chuyện với nhau tràn trề hạnh phúc, tôi cũng thấy hạnh phúc lây.


“Thú thực với anh, bây giờ lắm lúc say lơ mơ rồi, nghĩ lại chuyện tơ duyên ấy, tôi thấy thú vị vì đã tình cờ làm một ông mai xe duyên cho hai người bạn tôi yêu, và tôi thấy thú vị có phần hơn cả lúc viết Châu về hiệp phố hay Tình trường huyết lệ".


 


7-1970


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. Tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








([1] ) Có lẽ là tên một hãng xe nước ngoài được Việt hóa.




([2] ) Tức tập hồi ký Cai, in ra thành sách năm 1944 (còn có tên là Phù dung ơi, vĩnh biệt!).




(3) Quan niệm của người xưa, ý nói tình bạn của người quân tử thanh đạm như nước, không có những xã giao bề ngoài – (NBT).




([3] ) Trả giá (từ Nam Bộ): mặc cả.




([4] ) Tiểu thuyết đăng báo.




([5] ) Gõ đầu trẻ, ý nói nghề dạy học.




([6] ) Có lẽ là tờ Đuốc Nhà Nam - (VTN).




([7])  Bán.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nói có sách (2) - Vũ Bằng 29.05.2017
Nguồn gốc người Việt - người Mường: Nước Xích Quỷ - Tạ Đức 21.05.2017
Nói có sách (1) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (6) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (5) - Vũ Bằng 18.05.2017
OIJ chấm dứt hoạt động, sự nghiệp OIJ trường tồn - Phan Quang 17.05.2017
Ký ức tháng Tư - Trần Đăng Khoa 02.05.2017
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
xem thêm »