tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20019841
Lý luận phê bình văn học
10.10.2011
Vũ Bằng
Khảo về tiểu thuyết (5)

Chương 8: Thuật tả chân ngôn ngữ Đã nói về thuật tả cảnh rồi, đã nói về thuật cấu tạo nhân vật rồi, bây giờ ta nên tìm biết về thuật tả chân ngôn ngữ và tư tưởng của những nhân vật đó.


Nhiều nhà tiểu thuyết nước ta - nhất là những người tự nhận là nhà văn xã hội - đến bây giờ vẫn còn tưởng rằng muốn tả chân ngôn ngữ của một nhân vật trong tiểu thuyết thì cần phải ghi lại đúng từng chữ, từng câu nói của nhân vật đó ở ngoài đời. Thí dụ như muốn tả một người kéo xe thì phải chép đúng những chữ, những câu của một người kéo xe, kể cả những chữ và những câu nói lóng; muốn tả về một đứa trẻ ngây thơ thì phải chép đúng những câu, những chữ của một đứa trẻ ngây thơ, kể cả những câu như: “Cơ! Em muốn thế này cơ! Em muốn thế nọ cơ!”; và muốn tả một thằng du côn thì phải chép đúng những chữ, những câu của một thằng du côn, kể cả những câu chửi tục tằn, thô bỉ.


Sự thực không phải thế. Nếu tả chân ngôn ngữ mà người ta ép buộc phải làm như thế, thì một nhà tiểu thuyết cũng chỉ có cái công dụng hay là chưa chắc đã có cái công dụng bằng một chiếc máy ảnh… Nhà tiểu thuyết phải tạo ra. Và tạo ra không có nghĩa là chụp ảnh, nhưng phải là làm một việc gì cao hơn thế, sâu hơn thế và cũng rộng hơn thế nữa. Tất cả cái tài, cái khéo của nhà tiểu thuyết là làm thế nào ghi được trên mặt giấy sự thực trong ngôn ngữ của từng hạng người, nhưng chỉ ghi sau khi đã làm biến hóa thứ ngôn ngữ đó vào trong tinh hoa của văn chương.


Tôi xin đem vài thí dụ để nói ra cho dễ hiểu: văn phái lãng mạn Pháp, hồi thế kỷ XIX, thường có cái thói quen là dụng công chép đúng ngôn ngữ của từng hạng người và cho thế là tả chân ngôn ngữ. Như Victor Hugo tả thằng Gavroche trong tập truyện Les Misérables, thôi thì đủ các thứ tiếng lóng, các câu nói sai mẹo, các lời chửi tục tằn. Sự thực, thế có phải là tả chân ngôn ngữ đâu; thế chỉ là khéo đi cóp nhặt tiếng lóng và một ít câu sai mẹo để cho thằng Gavroche nói. Sự thực của ngôn ngữ của thằng Gavroche không phải ở lời nói, nhưng chính là ở trong óc nó; ta rất không cần chép đúng những lời nói của nó mà chỉ cần diễn ra, bằng văn chương, sự thực của tinh thần ngôn ngữ của nó là đủ rồi. Cái ý nghĩa uyên thâm của ngữ pháp cần phải được kính trọng dù là ở trong một đoạn văn đối đáp tả chân. Tất cả cái bí quyết là ở đó. Nếu tưởng rằng tả chân ngôn ngữ là chép đúng từng câu từng chữ của một hạng người, thì có lẽ một người Pháp muốn tả một người thất nghiệp Y Pha Nho thì người Pháp đó đến phải học chữ Y Pha Nho trước khi viết văn chắc? Một người Tàu viết tiểu thuyết về một cô gái Việt Nam thì người Tàu đó đến phải đi học tiếng Việt Nam trước khi viết tiểu thuyết chắc? Mà tôi, người Bắc Kỳ, muốn tả chân đời một người bán hủ tíu trong Sài Gòn thì phải đi học tất cả những tiếng mà người bán hủ tíu vẫn nói, rồi tôi mới tả chân chắc?


Không. Một nhà văn cổ điển của nước Pháp, Corneille, hồi thế kỷ XVII, cũng tả chân ngôn ngữ, nhưng ta xem hết cả một vở kịch Le Cid chả hạn, có thấy chỗ nào dùng một chữ Y Pha Nho đâu, vậy mà ở trong nhân vật chính, chàng Rodrigue, vẫn tiết ra một tinh thần mà ta cảm giác là tinh thần người Y Pha Nho: anh hùng mà đa cảm, lịch sự, mê gái nhưng vẫn giữ được toàn danh dự.


Cái lối văn chêm từng câu từng chữ bản xứ vào của các ông “Tây thuộc địa” hình như không bao giờ được hoan nghênh một cách chân chính; đãn hoặc có ra chăng nữa thì cũng chỉ là được hoan nghênh nhất thời mà thôi. Cũng vậy, những truyện Việt Nam xuất bản bây giờ mà tác giả tưởng là làm văn tả chân ngôn ngữ khi cho vào hàng tràng tiếng Pháp hoặc đúng mẹo hoặc sai mẹo, không bao giờ làm cho tôi vui thích. Tôi nghĩ rằng không có gì ngây thơ hơn là ghi chép, trong những đoạn văn đối thoại, những ngữ điệu và những sự sai lầm của tiếng nói hàng ngày hiện nay của tất cả các lớp người trong xã hội. Những cái đó, cũng như tiếng lóng, chỉ là để tô điểm một chút cho tác phẩm, không thể dùng nhiều được.


Thuật tả chân chân chính ở chỗ khác. Nó ở tư tưởng chứ không ở chữ.


Lấy một thí dụ ở trong truyện La pitié dangereuse của Stefan Zweig. Như các bạn đã biết, truyện này tả một mối tình giữa một cô gái tàn tật Edith, yêu một võ quan Antone Hofmiller, mà võ quan đó chỉ thương chứ không yêu lại. Từ đầu đến cuối tiểu thuyết La pitié dangereuse viết theo lối văn tả chân và ai cũng biết rằng đoạn chính của câu chuyện là bức thư cuối cùng của Edith viết cho Antone Hofmiller, lúc cô đâm đầu từ trên gác xuống dưới nhà tự tử.


Bức thư này cố nhiên là cũng viết theo lối tả chân. (Stefan Zweig đã tả chân ngôn ngữ của một cô gái nhà giàu ít học). Vậy mà trong suốt một bức thư, có cần viết sai mẹo một đoạn nào đâu, có cần dùng thứ chữ riêng của bọn con gái nhà giàu đâu? Ấy vậy mà bức thư đó đã làm cho ta cảm động, ta tưởng như thực vậy. Đó là bởi vì bức thư đó đã diễn tả đúng tâm hồn của Edith, cho ta thấy hết cảm xúc của Edith vậy.


Nếu bây giờ có ai bảo tôi tìm một tác phẩm của ta mà thuật tả chân ngôn ngữ được đem dùng một cách tài tình, có lẽ tôi lại phải kể quyển Kiều làm mẫu.


Thật vậy. Về đoạn Tú Bà mắng Mã Giám Sinh và Kiều, Nguyễn Du đã tả chân được ngôn ngữ của hạng mụ dầu một cách rất thần tình mà vẫn tao nhã, dù rằng hạng mụ dầu là một hạng động cất mồm lên nói là chửi rủa và văng tục:


“Này này sự đã quả nhiên,


Thôi đà cướp sống chồng min đi rồi!


Bảo rằng đi dạo lấy người,


Đem về rước khách kiếm lời mà ăn.


Tuồng vô nghĩa ở bất nhân,


Buồn mình trước đã tần mần thử chơi!


Mầu hồ đã mất đi rồi,


Thôi thôi, vốn liếng đi đời nhà ma!


Con kia đã bán cho ta,


Nhập gia, phải cứ phép nhà tao đây!


Lão kia có giở bài bây,


Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe!


Cớ sao chịu ép một bề,


Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao!”.


Nhiều nhà tiểu thuyết bây giờ cứ tưởng muốn tả đúng ngôn ngữ của một người vô giáo dục thì cứ việc tìm những chữ, những câu gì vô giáo dục nhất mà gán vào miệng nhân vật đó. Sự thực, không cần đến thế: ta chỉ cần hội tất cả tinh thần những câu nói đó lại rồi diễn ra một cách có văn chương, đủ rồi. Xem như đoạn Sở Khanh mắng Kiều đây thì đủ biết:


… Sở Khanh lên tiếng rêu rao,


Nghe đồn rằng có con nào ở đây.


Phao cho quyến gió rủ mây,


Hãy xem có biết mặt này là ai!


Giá phải một nhà văn kém tài, chưa biết chỗ này đã dùng biết bao nhiêu tục tằn, và rất có thể biết bao nhiêu tiếng lóng của làng chơi phường bợm! Mà điều ta có thể gần như chắc chắn được, là thể nào nội trong câu nói đó cũng phải có chữ “Mẹ cha” hay “Tiên sư” vào!


Một nhà tiểu thuyết Việt Nam ở giữa thế kỷ XX này, nếu không phải là người bạc bẽo, ngày nào cũng phải tâm tưởng đến Nguyễn Du và cảm ơn cụ đã mở nhiều đường lối trong rừng văn để cho ngày nay chúng ta bước vào một cách dễ dàng. Cụ đã tự nhận làm tên lính tiên phong để làm những sự thử thách cho chúng ta bây giờ được hưởng, và chịu bao nhiêu khổ ải để tìm những phương pháp mới để cho chúng ta bây giờ dùng. Tôi không nói đến cái thiên tài của cụ làm sống lại và chia loại những hạng người trong xã hội. Tôi chỉ nói riêng về sự dụng công can đảm của cụ để đi tới thuật tả chân ngôn ngữ, cái thuật dùng những câu đối thoại ngăn ngắn, lịch sự, để chiếu vào tất cả một thứ ánh sáng chói lòa đến nỗi không có một ý tưởng nào của Bí Mật có thể trốn tránh được, tồn tại được. Những câu như:


Rằng: “Tôi chút phận đàn bà,


“Thân này đã đến thế này thì thôi!


“Nhưng tôi có sá chi tôi,


“Phận tôi đành vậy vốn người để đâu?


“Thân lươn bao quản lấm đầu,


“Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa!”.


Trong đoạn Tú Bà đánh Kiều:


Than ôi! Sắc nước hương trời,


Tiếc cho đâu bỗng lạc loài đến đây?


Giá đành trong nguyệt trên mây,


Hoa sao hoa khéo đọa đầy bấy hoa.


Tức gan riêng giận trời già,


Lòng này ai tỏ cho ta, hỡi lòng!


Trong đoạn Từ Hải ve vãn Kiều:


Từ rằng: “Tâm phúc tương tri,


“Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?


“Bao giờ mười vạn tinh binh,


“Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường,


“Làm cho tỏ mặt phi thường,


“Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.


“Bằng nay bốn bể không nhà,


“Theo càng thêm bận, biết là đi đâu?


“Đành lòng chờ đó ít lâu,


“Chầy chăng là một năm sau, vội gì?”.


Những câu tả chân ngôn ngữ như thế thật là thần tình và muôn ngàn năm sau vẫn sẽ là những khuôn mẫu cho người ta học hỏi và bắt chước. Chỉ nghe một câu nói đó thôi, người ta cũng đủ thấy tất cả những cái đặc điểm trong một nhân vật mà tác giả đem ra tả và biết đại khái ý nghĩ, tư tưởng của nhân vật đó ra sao.


Chương 9: Thuật tả chân tư tưởng trong tiểu thuyết  Phương pháp tả chân tư tưởng cũng gần giống như phương pháp tả chân ngôn ngữ, không có mục đích chép đúng những ý nghĩ, tư tưởng của một nhân vật nhưng chỉ ghi lấy những cái cốt yếu khả dĩ biểu dương được đặc tính của tư tưởng đó mà thôi. Ở đây, việc chọn lọc ý nghĩ và tư tưởng để quy vào một cái “hằng cửu, bất biến” lại là một vấn đề quan trọng. Quan trọng nhất là làm thế nào cho chính những tư tưởng, ý nghĩ đó hoạt động, không làm cho người xem chán nản. Tiểu thuyết ngoại quốc, hiện nay, có vẻ rất chú ý đến thuật tả chân tư tưởng và làm hoạt động những tư tưởng đó. Nhiều bài văn của họ biến hóa không biết thế nào mà lường, thật đáng cho chúng ta chú ý. Lắm lúc ta tưởng như là tư tưởng ý kiến của người viết truyện, mà thực ra thì là ý kiến của nhân vật trong truyện; lại có khi tả những tư tưởng, ý kiến của nhân vật trong truyện mà thực ra là những ý kiến, tư tưởng của người viết truyện biến hóa đi. Giảng cho rõ điều này ra, thực khó; tôi xin phép dịch một đoạn văn để các bạn thấy đại khái thuật tả chân tư tưởng huyền huyền ảo ảo, biến biến hóa hóa tài tình như thế nào. Đây là chuyện một cô con gái đã hết xuân, ngồi nghĩ đến trai và mơ ước một gia đình đầm ấm. Tác giả là J. F. Dwyers W. Haynes.


“… Nhưng đến lúc cuối cùng, nàng giật mình kinh sợ. Nếu làm việc đó thì còn tội ác nào lớn cho tầy! Một người con gái giữa thanh thiên bạch nhật ve trai… tự thú rằng mình không chịu được nỗi đơn độc… giữa sở làm! Bè bạn và ông chủ… May thay, đến lúc cuối cùng, nàng lại tự kiềm chế được lòng rạo rực. Vả lại, như thế cũng chưa có thể giải quyết xong cảnh ngộ. Rượu đã rót ra cốc thì phải uống; đã để cho một người đàn ông ôm mình vào trong lòng thì tấm thân mình phải hiến người ta, phải tận hưởng, và sau khi hơi men đã bốc rồi thì sự say sưa phải đến… Không, bạn ơi, ta biết đâu rằng một cuộc ái ân như thế có thể lâu dài được. Chúng ta chớ nên đùa với ái tình và đừng nên để mang tiếng là một gái tơ mà đã… Phải, mà đã… gái tơ mà đã ngứa nghề… Sự xấu hổ nhục nhã không thể nào che đậy được. Nàng ba mươi sáu tuổi và nghĩ rằng bây giờ mới nghĩ đến chuyện chồng thì kể ra cũng đã muộn rồi. Nàng làm thư ký đánh máy cho một hãng buôn và mỗi buổi chiều thường ăn cơm ở cao lâu. Bây giờ mà thành lập gia đình, nàng sẽ bỏ cái lệ đó và sẽ cùng chồng thuê một căn gác, dù là ở tầng thứ mười ba cũng được. Chồng nàng, Green, cũng sẽ kiếm ra tiền và mỗi năm sẽ được tăng lương lên hai lần. Cũng như mọi người, nàng sẽ có một gia đình. Một cuộc đời bình thản và êm đềm, một người chồng đẹp và danh giá. Vợ chồng nàng sẽ bảo bồi mang cơm tháng đến tận nhà; ăn không nhiều, nhưng món ăn sẽ chọn lọc, và ngon và bổ. Tối, cả hai cùng ngủ chung một giường rộng: cái lối vợ chồng ngủ giường đôi, không thích lắm. Nàng sẽ xõa tóc ra cho phủ cả lên gối trắng. Sáng, họ cùng đi làm và đến chiều, chồng sẽ đến đón vợ và hai vợ chồng sẽ dắt tay nhau đi nhởn nha về nhà; họ sẽ uống cà phê, đọc nhật báo và nghe vô tuyến điện. Họ sẽ khiêu vũ với nhau. Và một ngày kia, nghe thấy mình sắp làm mẹ, nàng thẹn thò sẽ rỉ vào tai chồng: “Em bắt đền anh!”…”.


Trong văn chương ta, có nhiều người chuyển từ văn tả cảnh sang văn tả tư tưởng rất tài tình, người xem biết là ý kiến của tác giả xen vào mà không lý gì lại không nhận đó là tác giả tả chân tư tưởng của người trong truyện.


Xin lấy mấy thí dụ: Đoạn Kiều vào thanh lâu lần thứ hai:


Thoắt trông nàng đã biết tình,


Chim lồng khôn lẽ cất mình bay cao!


Chém cha cái số hoa đào,


Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi!


Nghĩ đời mà ngán cho đời,


Tài tình chi lắm cho trời đất ghen!


Tiếc thay nước đã đánh phèn,


Mà cho bùn lại vẩn lên mấy lần!


Hồng quân với khách hồng quần,


Đã xoay đến thế, còn vần chưa tha.


Lỡ từ lạc bước, bước ra,


Tấm thân liệu những từ nhà liệu đi.


Đầu xanh đã tội tình gì?


Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi!


Biết thân tránh chẳng khỏi trời,


Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.


Đoạn Tống Trân phải đi sứ sang Tần:


Than thôi dong ngựa lên đường,


Mấy ngày trải những dặm trường núi khe.


Tiếng quyên như giục đêm hè,


Vì ai nên nỗi biệt ly cửa nhà?


Tháng ngày vó ngựa xông pha,


Sang đến Tần quốc thành Hà nghênh ngang.


(Tống Trân - Cúc Hoa)


Đoạn Hạnh Nguyên trèo lên Lạc Nhạn đài, vào lễ ở đền thờ Chiêu Quân:


Cheo leo sườn núi trông sang,


Khe kia, suối nọ ngổn ngang mấy trùng.


Nửa ngày nổi trận âm phong,


Phất phơ lật lá, lạnh lùng suốt sương.


Đất đâu sơn thủy lạ nhường,


Ngẩn ngơ mình những cảm thương nỗi mình.


Xót thay đôi đức sinh thành,


Bao giờ nguôi được chút tình nhớ thương.


Một ngày một ngả bóng tang,


Da mồi sạm mặt, tóc sương điểm đầu.


Biết nhau thêm nhỡ nhàng nhau,


Quen hơi bén tiếng, bao lâu mà rằng.


Ấy ai chắp mối xích thằng,


Biết mà đứt chỉ, thà đừng vương tơ.


Như nhời thần mộng họa là,


Còn duyên chăng nữa cũng nhờ tái sinh.


Đường cùng giữ lấy thơm danh,


Thôi thì gác hiếu với tình một bên.


Chấp kinh nếu chẳng tòng quyền,


Nữa khi nước đến e nên cát lầm.


Tấc lòng cả quyết khôn cầm,


Tấm thân phó mặc dưới đầm sâu sâu!


và đoạn Xuân Sinh, Mai Sinh tiễn Hạnh Nguyên cống Hồ cùng nghỉ lại ở trùng đài Hàm Đan:


Bảo nhau rồi mới nhận ra,


Đông Nam phương ấy, ấy là cố hương.


Xuân Sinh dòm biết ý nàng,


Muốn điều từ biệt với chàng Mai Sinh.


Một mình bước xuống làm thinh,


Mặc ai trên ấy tự tình với ai.


(Nhị Độ Mai)


Có nhiều người sẽ hỏi:


- Xem một đoạn văn tả chân tư tưởng nhân vật trong truyện, mà người đọc lại có thể ngờ là ý kiến của tác giả thì tư tưởng đó mất vẻ đi, còn hay hớm nỗi gì?


Xin nói ngay rằng trong những đoạn văn tả chân tư tưởng, thể nào tác giả cũng phải phổ ý kiến của mình vào; nhưng giá trị không phải là ở chỗ đó. Cái giá trị là ở chỗ những ý kiến tư tưởng mà tác giả đem cho nhân vật có đúng sự thực hay không.


Đến đây, tôi không thể không nhớ đến một cuộc tranh luận giữa hai nhà viết tiểu thuyết ở nước ta độ nào, một là nhà tả chân và một là nhà giáo dục. Nhà viết tiểu thuyết giáo dục đề xướng lên một câu hỏi để vặn nhà viết tiểu thuyết tả chân:


- Ông tả một người thư ký kế toán. Được. Nhưng ông thư ký kế toán đó lại nghĩ những chuyện bay nhảy và lại biết cuộc đời là đẹp; ông đó lại thương người và nhìn cái lá mùa thu mà đoán chừng con tàu hiện đương đưa tình nhân mình đi đến chỗ nào rồi… Tất cả những cái đó đẹp quá, nên thơ quá, ông có thực chắc rằng nhân vật của ông quả có những ý nghĩ và tư tưởng của ông gán cho không?


Đến tận bây giờ, tôi vẫn không biết người bị hỏi đã trả lời bài báo nọ ra sao; nhưng tôi nghĩ rằng, nếu có một thuật tả chân điên cuồng rồ dại thì hẳn phải là thứ tả chân có những lý thuyết đầu độc dân chúng và gây ra những câu hỏi tương tự như câu hỏi của nhà viết tiểu thuyết giáo dục kia.


Phải, nhà viết tiểu thuyết tả chân nọ tả đời một người thư ký kế toán đó! Phải, nhà viết tiểu thuyết tả chân nọ gán ý kiến và tư tưởng của mình cho ông thư ký kế toán đó! Cái quan hệ không phải là ông thư ký kế toán phải có đúng những ý kiến và tư tưởng đó. Cái quan hệ chính là ở chỗ ông thư ký kế toán đọc đến những tư tưởng và ý kiến đó thì nhận ra ngay là của mình. Cái quan hệ chính là ở chỗ nhà viết tiểu thuyết đã dò xét thấu đáo được những ý kiến và tư tưởng hằng ám ảnh đầu óc con người ta và tạo cho những ý kiến và tư tưởng đó một bóng dáng, một hình thức.


Bàn về lòng yếm thế, một nhà văn trẻ tuổi Anh Cát Lợi, Rupert Brooke, có viết rằng:


“Thế nào là lòng yếm thế và tại sao ông lại bảo rằng ông yếm thế? Yếm thế là gì?


“Ông nghĩ rằng chỉ có bây giờ thì nhân loại mới xấu? Hay ông cho rằng chỉ có người là xấu, ở trong lòng người không có một hạt giống tốt nào? Phần riêng tôi, là một kẻ chuyên ngồi viết sách, tôi cảm giác tôi không biết đời và người là gì cả, nhưng đối với người đời, tôi là một ông thầy thuốc chứa chan hy vọng, tuy rằng tôi không biết đích nên cho họ uống thuốc gì. Ấy là bởi vì trong tôi chan chứa một tấm lòng ái thế. Yếm thế không phải là tin rằng cõi thế này không tiến bộ được; đó là một cảm giác xui cho người ta tưởng rằng người đời không có ai muốn điều tốt, điều thiện cả; cái đáng làm cho ta kinh tởm nhất là sự thiếu thốn hy vọng, nó làm kiệt quệ tinh thần ta đi. Đó là một cảm giác có thể phát sinh sau một cuộc thí nghiệm đau khổ, nhưng thường là do sự cô quạnh, sự tiêu hóa không tốt mà ra; muốn chữa, cần phải có nghị lực, cảnh trời đẹp, hay những người can đảm. Thuốc chữa bệnh yếm thế, theo ý tôi, thì là thần bí chủ nghĩa. Các ngài chớ nhảy lên phản đối tôi làm gì vội. Điều cốt tử của thần bí chủ nghĩa của tôi là nhìn vào óc người ta, nhìn vào lòng người ta để xem không phải như những phế nhân, chuế nhân hay sầu nhân, nhưng xem như xem những sinh vật khác trong trời đất. Xem như thế, tôi bỗng thấy tất cả sự quan trọng của những người tôi gặp gỡ. Tôi đi dạo, tôi ngồi trên toa xe lửa và tôi nhìn thấy cái vinh dự và cái tốt đẹp của mọi người đàn ông và mọi người đàn bà. Tôi có thể nhìn một ông lão bán hàng bẩn thỉu rách rưới hằng giờ không chán mắt vào yêu thương cái nét răn cáu ghét ở cằm ông ta, và tôi yêu thương từng cái khuy ở cái áo gilê ròng rọc của ông ta nữa… Thực vậy, tôi xin nói cho ngài biết, một người lái buôn hằng năm có bệnh tê thấp ở Birmingham trông cũng tuyệt diệu, bất tử và có thể làm cho ta say đắm…”.


Xem như vậy thì đủ biết rằng công việc nhà văn dò xét tư tưởng người ta quan trọng đến bực nào.


Tôi cũng nghĩ như Rupert Brooke rằng phàm là người, ai cũng đẹp cả, ai cũng đáng để cho ta để tâm quan sát cả, bởi vì theo tôi, mỗi người là một thế giới, mỗi người là một công trình tuyệt xảo của Hóa công đúc nặn, mỗi người là một hình ảnh của Trời. Cái ngoại quan làm cho ta chú ý, đã đành; nhưng phần tinh túy, cái mà Trời nhọc công nhào nặn nhất, ấy là khối óc, ấy là tư tưởng mới lại là cái làm cho ta cần phải chú ý hơn nhiều lắm.


Người ta sinh ra đời có thể không biết sự quan hệ của tư tưởng với cuộc đời ra sao, nhưng không một người nào không biết tư tưởng. Một người không cảm giác cũng có tư tưởng. Một người có học cũng tư tưởng, một người vô học cũng tư tưởng, nhưng người nào cũng như người nào cũng đều đau khổ cả, bởi vì họ cảm giác tư tưởng của họ một cách không hoàn toàn. Họ đau khổ vì không đánh dấu được tư tưởng của mình lại, và không đem được những tư tưởng rất bí mật, rất u ẩn của lòng mình diễn ra bằng lời nói hay bằng câu, bằng chữ.


Trong truyện “Les nuits blanches”, Dostoievsky đã tả rất đúng nỗi băn khoăn đó như sau này:


Nastenka, người con gái, nhờ một người bạn trai viết thư cho nhân tình. Nàng hỏi:


“- Này, thế anh sẽ viết ra sao?


“- Viết gì?


“- Bức thư đó.


“- Tôi sẽ viết: Thưa ông.


“- Chữ “thưa ông” có thật cần đến thế không?


“- Cần lắm. Tuy vậy, tôi nghĩ rằng…


“- Thế rồi thì viết thế nào?


“- Thưa ông, ông tha lỗi cho nếu… Tuy vậy, không, ta cũng chả cần xin lỗi! Chính cái việc này đã tha hết cả lỗi rồi. Em chỉ viết thế này: Em viết thư này cho ông. Em không chờ đợi được, xin ông tha thứ, nhưng trong suốt một năm vừa qua, em đã sung sướng vì ước vọng. Đến bây giờ, em không thể chịu đựng được một ngày hoài nghi nữa thì chả biết là có lầm không? Có lẽ những ý định của ông nay đã thay đổi hết rồi. Nếu vậy, em sẽ không phàn nàn; em cũng sẽ không trách ông; em không phải là chủ trái tim ông; ông là người quân tử đừng cười em, mà cũng đừng giận em, tội nghiệp. Xin ông nhớ cho rằng đây là một người con gái đáng thương viết cho ông, không có ai chỉ bảo và nếu em có ngờ ông, ông cũng tha tội cho em, ông nhé. Chắc là ông không có bụng nào miệt thị người con gái đã yêu ông và vẫn còn yêu ông…


“- Phải rồi, chính thế! Chính em nghĩ thế và muốn viết như thế đấy. - Nastenka kêu lên như vậy. Sự sung sướng chiếu sáng trong mắt nàng - Chao ôi, anh đã làm tan những mối nghi ngờ cho em! Thượng đế đã đem anh đến cho em! Xin cảm tạ! Xin thâm tạ!”.


Cũng như người bạn trai của nàng Nastenka, nhà viết tiểu thuyết có bổn phận diễn ra bằng lời, bằng chữ những ý kiến, tư tưởng của người khác chất chứa ở trong đầu; những người có tư tưởng đó nghe thấy hay đọc thấy thì nhận ra là của mình đã nghĩ, của mình đã cảm, nhưng không biết diễn ra thế nào…


Những điều này đáng ghi nhớ: một nhà viết tiểu thuyết trong khi minh họa nhân vật, nếu chỉ khư khư ghi chép những tư tưởng đương nhiên rõ ràng như hai với hai là bốn, nếu chỉ biết ghi chép có những tư tưởng mà người ta cảm giác thường thường thì nhà viết tiểu thuyết đó chưa làm đủ thiên chức của mình.


Nhà tiểu thuyết phải mạnh bạo, phải can đảm giơ tay mở những cánh cửa ra và xé những cái vỏ bọc ngoài đi(1).


Có người xem truyện “Sait-on jamais”, một cuốn tiểu thuyết phân tách rất tỉ mỉ tâm lý của một người đàn bà ngoại tình, đã nói rằng:


- Cốt truyện hay, nhưng tâm lý không được đúng. Một ông thầy kiện, một ông thi sĩ rất có thể tư tưởng những tư tưởng đó. Nhưng một người đàn bà tư tưởng đến được những điều đó, cũng có vẻ hơi quá vậy!


Những người bình phẩm về tư tưởng theo lối người xem tiểu thuyết “Sait-on jamais” nói trên kia, ở xã hội ta rất nhiều. Họ có biết đâu rằng, nhà viết tiểu thuyết không những phải tả chân tư tưởng sẵn có của một người, lại có quyền tả cả những tư tưởng mà người đó có thể có (miễn là không sai sự thực).


Trong truyện “Les nuits blanches”, Dostoievsky còn đi xa hơn thế! Ông tả cả tư tưởng của đồ vật mà ông tưởng tượng là có thể có (mà không sai sự thực).


Như đoạn này:


“Tôi rất thân mật với những nhà cửa. Khi nào tôi đi qua, nhà nào nhà nấy chạy ra đón tôi, giương hết các cửa sổ ra nhìn tôi mà nói: “Chào bác! Bác vẫn bình yên chứ?”, “Nhờ Trời, tôi vẫn khỏe mạnh. Đến tháng năm này người ta sẽ tăng thêm cho tôi từng nữa”. Hoặc: “Sức khỏe ra thế nào?”, “Ngày mai, người ta sẽ chữa chạy cho tôi”. Hoặc: “Tôi suýt bị cháy. Trời ạ, tôi run sợ biết bao!”, v.v… Song tôi không yêu mến những căn nhà đó bằng nhau đâu, tôi yêu cái này hơn cái nọ. Nội tất cả những bạn hữu thân thiết đó, tôi có biết một cái nhà có ý định đến hè này thì đến nghỉ mát ở nhà ông kiến trúc sư: chắc chắn là ngày nào tôi cũng sẽ đến thăm phố đó để xem người ta có trông nom nó quá độ không, bởi vì những ông thầy thuốc đó!… Trời phù hộ cho nó!


“Nhưng không bao giờ tôi quên được một câu chuyện giữa tôi với một căn nhà màu hồng dịu, một căn nhà nhỏ bằng đá nhìn tôi một cách thân mật, một căn nhà lúc nào cũng khinh ra mặt những cái nhà xấu xí và ươn hèn ở chung quanh, làm cho tôi lấy làm thích thú vô cùng mỗi khi đi cạnh nó. Một bữa kia, người bạn đáng thương của tôi nói với tôi, nét mặt buồn khôn tả: “Người ta đem tôi quét vôi vàng! Quân ăn cướp! Quân mọi rợ! Họ không tha một chỗ nào, cột và chấn song… đều bị sơn tuốt tuột…”. Chính vậy, bạn tôi vàng khè như một quả chanh. Người ta có thể bảo rằng nó vỡ mật. Tôi không còn can đảm đến nhìn nó nữa, người bạn đáng thương rất đẹp mà nay đã thay đổi cả hình dung, người bạn đau khổ quét bằng những màu sắc của Nước Con Trời!…”.


Đọc mấy thí dụ kể trên đây, chúng ta có thể kết luận rằng: Tả chân tư tưởng không có một phạm vi nhỏ hẹp là chỉ tả những tư tưởng có rồi, nhưng phải tả cả những cái mà người hay vật tư tưởng ở trong óc mà chưa tỏ rõ ra bên ngoài. Cái quan hệ là những tư tưởng đó được công nhận, được coi là đúng.


Duhamel đã tỏ bày ý kiến của ông về vấn đề nói đó như sau:


“Về phần riêng tôi, tôi đã tóm tắt tính tình nhất định của tôi về vấn đề đó rồi. Ở chương đầu truyện Deux hommes, tôi phác họa tư tưởng của một người đi tản bộ. Rồi kết luận bằng một câu: “Y nghĩ đến tất cả những điều đó và trăm ngàn điều khác nữa, nhưng y không biết rằng y nghĩ”.


“Nếu tôi không giúp người ta làm cho người ta biết người tư tưởng gì, thì tôi còn sinh ra đời làm cái trò gì?”.


(còn tiếp)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








(1) Il doit, d’une main audacieuse, ouvrir des portes et déchirer des enveloppes. Câu này, tôi nhớ mang máng. Tiếc rằng lúc viết bài này, tài liệu không có ở dưới tay, nên không thể biên tên tác giả. Hình như là của R. M. Rilke.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ thiên tài Joseph Brodsky: những cái may trong cái rủi - Keith Gessen 20.07.2017
Joseph Brosky: Về thơ & đời - Joseph Brodsky 20.07.2017
Kinh Thánh: Tác phẩm văn hóa vô giá của nhân loại - Nguyễn Hải Hoành 16.07.2017
Thế giới xô lệch – Đọc tiểu thuyết đương đại tiếng Việt bằng triết học nhận thức - Lê Thanh Hải 13.07.2017
Ngôn ngữ nghệ thuật thơ Văn Cao - Hà Thị Hoài Phương 09.07.2017
Đôi lời về Vecte và nỗi đau của chàng - Quang Chiến 07.07.2017
Huyền thoại Faust - Triệu Thanh Đàm 07.07.2017
Thời gian không đổi sắc màu (3) - Phan Quang 07.07.2017
Thời gian không đổi sắc màu (2) - Phan Quang 07.07.2017
Thời gian không đổi sắc màu (1) - Phan Quang 06.07.2017
xem thêm »