tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21050558
Lý luận phê bình văn học
07.10.2011
Vũ Bằng
Khảo về tiểu thuyết (4)

Chương 7: Một nhân vật sống


Phương pháp chọn lọc tài liệu và những sự nhận xét để quy vào cái “hằng cửu, bất biến” chọn sẵn, tôi vừa nói ở trên kia, mới nghe không có gì, nhưng suy cho kỹ, thực có công dụng rất lớn trong việc cấu tạo nhân vật trong tiểu thuyết.


Như chúng ta đã biết, tiểu thuyết tân thời, tiểu thuyết “gần đời, thiết thực”, nói tóm lại là tiểu thuyết, không có ý định chủ trương một học thuyết hay biểu dương một chủ nghĩa nữa rồi, bởi vậy những nhân vật đại biểu (personnages représentatifs) cũng không còn tồn tại nữa.


Đến đây ta cũng nên tìm biết một “nhân vật đại biểu” và một “nhân vật sống” khác nhau thế nào.


Hầu hết những nhân vật trong truyện Tàu đều là những “nhân vật đại biểu”. Như trong Tam Quốc, Khổng Minh là đại biểu cho cái trí, Tào Tháo đại biểu cho cái mưu, Lã Bố đại biểu cho cái vũ, Quan Công đại biểu cho cái trung và cái nghĩa. Người Tàu có một cái tài đặc biệt là đã định lấy một nhân vật nào để làm đại biểu cho một tính tình gì thì hầu hết đều đạt được ý định cả. Cả một pho Đông Chu liệt quốc bao nhiêu là việc và bao nhiêu là nhân vật, vậy mà cứ ngồi xem cho kỹ thì không một nhân vật nào giống một nhân vật nào. Nói riêng về cái nghĩa: Chuyên Chư hành thích Vương Liêu nhưng đợi cho mẹ chết mới hành sự, thế là hiếu nghĩa vẹn toàn. Yêu Ly về với Hạp Lư, đâm Khanh Kỵ; muốn cho thành công, để cho lực sĩ chặt tay, bắt giam cả vợ con vào ngục, như thế là bất hiếu, bất nhân. Kinh KhaThái tử Đan, sang hành thích vua Tần, cũng vì nghĩa, nhưng vì đường kiếm không tinh mà làm hỏng việc, lại làm uổng ba mạng người là Điền Quang, Phàn Ô Kỳ Tần Vũ Dương, như thế là bất trí.


Dù được nghĩa mà mất trung mất tín, hay được trí và nhân mà mất nghĩa, nhân vật trong truyện Tàu, bao giờ cũng vậy, nếu đã được tác giả dùng làm nhân vật đại biểu, bao giờ cũng đạt đến chỗ tối cao, hay tối hèn, không ai có thể làm những việc cừ khôi, hay kém hèn hơn được. Bởi vậy, những hành động của họ sẽ thiên thu khắc vào tâm óc người xem; cứ nói về một tính tình gì thì người ta nghĩ ngay đến những người đại biểu cho tính tình ấy; và một số nhân vật của Tàu, hiện nay, được Á Đông ta thờ phụng có lẽ cũng là vì cớ đó.


Đó là một điều rất hay; nhưng có một điều khá tiếc là những nhân vật đó xa người ta quá, siêu phàm quá, người đọc sách rất có thể kính phục, tôn thờ người ngay và khinh khi mạt sát người gian, nhưng tôn thờ kính phục hay mạt sát khinh khi đều là do một tấm lòng của một người đối với những vị thần xa cách người ta, chứ không phải là do một tấm lòng của người đối với người.


Những “nhân vật sống” trong tiểu thuyết bây giờ thì khác hẳn. Họ cũng là người như chúng ta, không hơn không kém, có một tấm lòng quảng đại nhưng lại rất có thể có những điểm kém hèn, có một khối óc quang minh nhưng lại rất có thể sa vào hầm tội lỗi. Một “nhân vật sống” là thế; một “nhân vật sống” là một nhân vật phản chiếu cái hình ảnh của đời, là một nhân vật như chúng ta đây, một nhân vật rất gần, rất thân thiết chúng ta, một nhân vật mà, nhìn vào lòng, thấy như nhìn vào lòng ta vậy.


Một “nhân vật sống” không cứ phải nói nhiều, hò hét nhiều, hành động nhiều, nhưng tự gây ra sự tình, biến cố, chỉ định lấy những cảnh ngộ(1) và cảm nghĩ rất phiền phức. Sống đây là sống cả vật chất lẫn tinh thần, sống cái đời sống bên ngoài và sống cả cái đời sống bên trong nữa - mà có khi lại sống cái đời sống bên trong nhiều hơn bên ngoài. Nhân vật chính của Dostoievsky trong vật ngữ Les nuits blanches chính là một nhân vật sống, sống cả bên ngoài, sống cả bên trong. Nghĩa cái sống bên ngoài đã nói đại khái ở trên kia; còn cái sống bên trong tưởng cũng nên đem vẽ lại ra đây để cho ta hiểu đại khái nghĩa cái sống trong một “nhân vật sống” như thế nào.


“… Chuyện đời tôi? - Tác giả tự thuật - Em ơi, đời tôi không có chuyện. Tôi sống cho tôi, nghĩa là cô độc; cô độc, hoàn toàn cô độc. Em có hiểu cô độc là thế nào không?


“- Vậy ra anh không quen biết ai hay sao?


“- Biết rất nhiều người - thế mà cô độc.


“- Thế anh có nói chuyện với ai không?


“- Tuyệt không nói với ai.


“- Thế là người gì!


“- … Em muốn biết tôi là người gì ư? Thế thì tôi là thế này: tôi là một mô hình.


“- Một mô hình là một gì?


“- Một mô hình là một người dớ dẩn, là một phẩm tính, là một… Nhưng em có biết thế nào là một người tư tưởng hay không?


“- Một người tư tưởng? Thì chính em, em là một người tư tưởng. Hàng ngày, ngồi bên cạnh bà em, em nghĩ bao nhiêu điều trong óc. Những ước mộng đó đi xa lắm. Có lần em mơ thấy em lấy một vị hoàng tử nước Tàu. Lắm khi mơ mộng cũng thú.


“- Tuyệt diệu! Ôi, nếu em là một người đàn bà đã mơ nghĩ đến chuyện lấy hoàng tử Trung Hoa, em sẽ hiểu tôi rõ lắm, em Nastenka ạ.


“- Vậy, ở thành phố Saint Pétersbourg, em Nastenka ơi - Có lẽ em không biết thành phố Saint Pétersbourg đâu nhỉ - có những nơi kỳ lạ lắm. Mặt trời, chiếu khắp bốn phương, không chiếu đến những chỗ đó. Mặt trời ở đấy chiếu như một cái mặt trời xa lạ nào, một cái mặt trời riêng, đặc biệt lắm, hình như chỉ để chiếu riêng nơi đó. Em Nastenka ơi, ở đó người ta sống một cái đời khác hẳn đời em, một cái đời không giống cái đời đương sôi lên ở chung quanh ta, một cái đời mà người ta phải khó khăn lắm mới quan niệm được thấy dưới một phương trời xa lạ, một cái đời không phải là cái đời nghĩa lý ở thời đại chúng ta bây giờ. Cái đời ấy là đời tôi đó, em Nastenka ạ. Một không khí quái đản xen lẫn với lý tưởng, mà than ôi, lại có cái gì như thô lỗ tục tằn, có cái gì như tầm thường đến thành ra nhàm hết sức… Trong cái xó đó, có những người kỳ lạ: những người tư tưởng. Một người tư tưởng không phải là một người đâu, nhưng là một mô hình… y sống trong bóng tối liên miên, như thể muốn trốn tránh ban ngày vậy; y thụt vào cái lỗ của y như một con ốc, à không, bảo là y giống một con rùa thì đúng hơn. Em nghĩ về y ra thế nào? Tại sao y lại yêu tha thiết bốn bức tường, bốn bức tường mà cách nào thì cũng phải sơn ám khói và buồn rầu? Tại sao người đàn ông đó mỗi khi có một người bạn đến chơi (y rất ít bạn và kết cục chẳng còn người bạn nào cả) thì y lại cuống quýt lên, nét mặt thay đổi luôn luôn? Như thể y vừa mới giết người vậy? Như thể y làm giấy bạc giả hay làm thơ để gửi cho một tờ báo kèm một bức thư nặc danh nói rằng thi sĩ làm thơ đó đã chết rồi, một người bạn lấy việc đưa đăng tập di cảo làm một bổn phận thiêng liêng? Tại sao, em Nastenka ơi, những bạn bè đến chơi nhà tư tưởng của ta lại không thể nào trò chuyện cùng y được? Tại sao không có tiếng cười và câu đùa cợt? Ấy vậy mà, ở chỗ khác, và ở những trường hợp khác, y cũng hay cười đùa, về vấn đề phụ nữ hay bất cứ vấn đề gì khác cũng vui như thế? Sau, tại sao người bạn mới quen biết đến chơi y lần đầu - mà hắn cũng chả đến lần thứ hai đâu - lại làm bộ với y khi nhìn thấy nét mặt mỏi mệt của y - mà y thì, sau khi cố làm ra vẻ vui câu chuyện, tỏ vẻ thiệp, nói chuyện đàn bà con gái, làm các cách để chiều người bạn đến thăm lầm, đâm ra lúng túng? Sau nữa, tại sao người khách bỗng đứng dậy sực nhớ ra một việc cần, cầm vội mũ sau một câu chào khó chịu, và rút tay mình ở cái bàn tay nóng hổi của chủ nhân ra, mà chủ nhân bắt chặt để tỏ một niềm hối hận không tả được? Tại sao, một khi ra cửa rồi, người khách lại cười ha hả lên và thề rằng sẽ không bao giờ để chân đến nhà cái người kỳ dị kia nữa, cái người kể thì cũng tốt, nhưng ta không thể không so sánh vẻ mặt của hắn với cái nét mặt của con mèo bị trẻ con hành hạ, vừa rồi, chui xuống dưới gầm ghế - cái ghế đó lúc nãy khách vừa ngồi - và trong bóng tối, con mèo đó giơ hai chân bé nhỏ lên chùi mõm và sau đó một hồi lâu cứ ngồi trầm ngâm mãi để nhìn cuộc đời và tạo vật.


“Nastenka em ơi, em muốn biết con mèo đó sau ra thế nào, hay nói thế này thì đúng hơn, sau tôi ra thế nào, bởi vì tôi là một vai chính xoàng xĩnh trong câu chuyện đó. Em muốn biết tại sao suốt ngày tôi bị băn khoăn về sự đến chơi của mỗi người bạn? Tại sao tôi lại cuống cuồng khi cửa buồng mở ra? Tại sao tôi tiếp khách vụng thế? Tại sao tôi lại khổ vì chính sự không ưa khách của tôi?... Tôi xin nói tiếp: Nastenka em ơi, ngày có một giờ mà tôi thích lắm. Đó là giờ mà công việc đã xong xuôi cả rồi, mọi người hấp tấp đi về nhà nghỉ ngơi, vừa đi vừa nghĩ cách tiêu khiển buổi tối. Vào giờ đó, vị anh hùng của tôi - em Nastenka, em cho phép tôi dùng ngôi thứ ba để kể chuyện vì một người kể chuyện mà kể chuyện mình thực khó - vậy vào giờ đó, vị anh hùng của ta, vốn không phải là tên vô nghề nghiệp, cũng lên đường như mọi người. Nhưng một cảm giác vui vẻ lạ thường làm tươi hẳn nét mặt xanh xao mệt nhọc của y. Y nhìn ngắm một cách thích thú cái rạng đông của buổi chiều chìm dần dần ở trên nền trời mát dịu của Pétersbourg.


“Khi tôi nói “nhìn ngắm một cách thích thú”, tôi nói dối đấy; y không ngắm đâu, y nhìn một cách mơ hồ, kiểu một người nhọc mệt, hay một người chăm chăm chú chú săn sóc trong lòng mình những việc cần thiết hơn. Cho nên y thỉnh thoảng vô tình mới nhìn ngắm cả được chung quanh mình nữa. Y bằng lòng mình, bởi vì từ giờ đến mai y không còn bị công việc làm bận rộn; y vui vẻ như một người học trò được thoát ly nhà trường, chạy quàng đi chơi. Hãy nhìn y mà xem, Nastenka em sẽ thấy rằng cái vui đã ảnh hưởng một cách sung sướng đến não cân y và đến trí tưởng tượng căng thẳng vì đau đớn của y. Y trầm ngâm nghĩ ngợi. Em tưởng rằng y nghĩ đến bữa ăn chiều hay buổi tối hôm qua? Y nhìn gì vậy? Có phải y nhìn cái nhà ông nọ vừa chào “một cách mỹ thuật” cái nhà bà kia khi bà đó đi cạnh y, trong cái xe đẹp có nhiều con ngựa đẹp? Không, Nastenka ơi! Những cái vặt đó không làm bận tâm y. Bây giờ y là một người giàu, giàu cái sống bên trong. Tôi nói cho em biết, y giàu lắm, và những tia sáng cuối cùng của mặt trời tà không chiếu vô ích cho y đâu. Những tia sáng đó đã gây trong tâm y một bầy cảm giác. Bây giờ y ngắm nghía từng cái lặt vặt trên đường đi; bây giờ “Bà Chúa Ngỗng” (em đã đọc Joukowsky chưa, hỡi em Nastenka?) đã đưa hai bàn tay ngọc ngà ra tết cái tơ vàng và bắt đầu làm rối những kiểu vẽ theo cách Ả Rập của một cuộc đời ngông nghênh và hư không. “Bà Chúa Ngỗng” đã đem vị anh hùng của chúng ta lên từng trời thứ bảy, “từng trời bằng pha lê” khác hẳn cái bờ hè đá hoa tuyệt mỹ này mà y giẫm chân lên, trong khi y đi về nhà. Hãy thử giữ lấy y, và bất thần hỏi y xem y đương ở đâu, y đã đi qua những phố nào, y sẽ không nhớ gì hết, mà cũng chả biết mình đi đâu, hiện đương đứng chỗ nào; y đỏ mặt lên, kiếm cách nói dối để giữ thể diện. Cho nên y giật bắn mình lên và suýt kêu hét lên khi có một người đàn bà dáng người phúc hậu chắn y lại trên hè để hỏi thăm đường. Mặt y tối sầm lại, y cứ việc tiến đi, mơ hồ thấy rằng khách đi đường quay lại nhìn y và cười; có những cô con gái, tránh xa y ra vì sợ hãi, lại quay ngay lại để ngắm cái miệng cười chìm đắm và dáng điệu của y. Nhưng vẫn cái tính ngông của y làm bay cả bà cụ, những người đi đường tò mò và những cô gái có tính hay trêu chọc kia; tính ngông đó gói tất cả lại vào trong bọc vải như những con ruồi vào trong một cái lưới, và con người kỳ dị của chúng ta đi về nhà mà không biết mình về nhà, ăn cơm mà không biết mình ăn và chỉ tỉnh lại khi nào người vú già Matrena vào dọn bàn và mang điếu cày đến cho y. Trời tối dần, y thấy lòng trống rỗng và buồn quá; tất cả cái lâu đài mộng tưởng của y đổ sụp xuống mà không kêu thành tiếng, mà không để dấu vết gì lại hết… như một cái lâu đài mộng tưởng; nhưng trong lòng y đã tràn lên một cảm giác lạ lùng, một sự ham thích mới và bỗng ở chung quanh y hiện ra một bầy ma mới. Y bỗng phấn khởi lên và lòng y sôi lên như nước trong bình cà phê của mụ già Matrena. Y cầm một cuốn sách không mục đích, giở hú họa ra và chưa đọc hết ba trang đã bỏ xuống từ lúc nào rồi. Trí tưởng tượng của y bị khích thích; một lý tưởng về hạnh phúc hiện ra; nói cách khác thì là y đã uống một liều thuốc độc mới rất là tinh tế chan chứa cái say ác độc của hy vọng vậy. Cái đời thực tế này có làm gì! Cái đời thực tế mà hết thảy đều lạnh lẽo và ủ ê rầu rĩ… Người tư tưởng nghĩ thầm: “Đáng thương thay là những người thực tế!”. Em ơi, em đừng nên lấy làm lạ sao y lại có trí tưởng đó. Chao ôi, nếu em có thể nhìn thấy những con ma con quái chập chờn ở chung quanh y, nếu em có thể nhìn những mầu sắc tuyệt diệu của bức họa và đời y ngưng kết lại và những sự biến hóa như thế nào! Bao nhiêu là mộng tưởng mập mờ, bông lông! Nhưng y nghĩ gì vậy? Y nghĩ tất cả! Y nghĩ đến đời thi sĩ bị hắt hủi rồi được suy tôn, đến Hoffman, đến Saint Barthélémy, đến những chiến công rực rỡ của Ivan Vassiliévitch lúc chiếm thành Kazan, đến Jean Huss lúc ra mắt ở hội tuyển cử giám mục, đến bản đàn Robert le Diable, đến Mina Brinda, đến đoạn Bérésina, đến cuộc bình thơ ở nhà bá tước phu nhân W. D., đến Danton, đến Cléopâtre và nhân tình của bà, đến cái nhà nhỏ ở Colomna, đến người tình bé nhỏ có thể ngồi sát cạnh y, trong căn nhà nhỏ này, suốt một buổi chiều mùa đông để nghe y, hiền lành, nhu mì như em vậy, em Nastenka ạ. Không, Nastenka, đối với anh chàng lười biếng mà ưa khoái lạc đó, cái đời thực tế này có làm gì, cái thực tế đáng thương mà y có thể đem hết ngày tháng để đổi lấy một giờ quái dị như những giờ này? Y cũng đã trải những giờ phút không lấy gì làm tốt đẹp; nhưng trong khi chờ đợi cho chúng quay trở lại (vì giờ phút này êm ái lắm) y không ước muốn gì cả, y đã diệt dục rồi, y có thể làm hết, y là ông hoàng, y là đấng tạo hóa của đời y, và mỗi lúc y tái tạo cuộc đời theo ý chí của y. Tổ chức một đời hư ảo dễ lắm! Và có ai chắc rằng đó chỉ là ảo ảnh không? Trong hai cuộc đời, chưa biết chừng cuộc đời này mới chính là cuộc đời thực vậy. Vậy tại sao, em Nastenka ơi, tại sao, giữa lúc đó, người đàn ông đó lại chảy nước mắt, người đàn ông mà ta biết chắc rằng không có một sự buồn rầu hiện tại nào có thể làm rung chuyển được? Tại sao lại có những đêm qua đi chóng như những phút giây? Và khi cái tia sáng màu hồng của bình minh rọi vào cửa sổ, nhà tư tưởng của ta mệt nhọc, đứng dậy và lăn kềnh ra trên giường…”.


Nghĩa của sự sống cuộc đời bên trong, với thí dụ hơi dài trên đây, tôi mong rằng đã đem lại cho các bạn biết đại khái thế nào rồi. Các bạn hẳn đã chú ý thấy rằng cái sống của một nhân vật tiểu thuyết không chỉ ở bề ngoài, nhưng cần cả bề trong(1). Người ta, về xác thịt hầu hết giống nhau cả, chỉ là một viên đất thó của Trời đúc nặn; cái mà Trời định làm cho khác nhau, cái mà Trời định tâm đem đặt hình ảnh của Trời vào đó, chính là cái tâm hồn vậy. Tâm hồn điều khiển cử chỉ, sai khiến giọng nói và gây ra cảnh ngộ. Các bạn có thấy rằng một nhân vật tiểu thuyết thật sống tự gây ra sự tình biến cố, hành động tự nhiên và không hề muốn tỏ bày một tính tình, một học thuyết, một tư tưởng?


Xem vậy, cấu tạo được một nhân vật sống trong tiểu thuyết không phải dễ, người ta phải sống nhiều, kinh nghiệm nhiều, nghĩ nhiều, và không phải định tâm làm sống một nhân vật sống mà thành được một nhân vật sống đâu. Người ta còn trông vào sự rủi may, nhưng nói thế không phải bảo rằng ta không cần tìm biết đến những kỹ thuật của việc cấu tạo nhân vật trong tiểu thuyết.


Muốn lấy một ít thí dụ tỏ rằng phương pháp chọn lọc tài liệu và những sự nhận xét sẽ quy vào cái “hằng cửu, bất biến” có một công dụng rất lớn trong việc cấu tạo nhân vật tiểu thuyết, ta nên kể trước truyện Tây du diễn nghĩa, bởi vì nó có những thí dụ để làm cho ta hiểu. Xin nhớ đến Tề Thiên Đại Thánh và Trư Bát Giới. Suốt trong một cuốn truyện, bao nhiêu cử chỉ, ngôn ngữ, tính tình của Trư Bát Giới đều là quy vào sự muốn ăn ngon mà không phải làm, muốn gái đẹp, dù bỏ thầy bỏ bạn cũng cam. Y là một con lợn. Cái “hằng cửu, bất biến” của Trư Bát Giới, tác giả Tây du đã định cho nó trước khi viết truyện: Trư Bát Giới hễ thấy ăn ngon thì a vào, hễ thấy gái đẹp thì mê man. Tề Thiên Đại Thánh là con khỉ trung hậu, cáu kỉnh và nghịch ngợm phá phách - nhất là nghịch ngợm phá phách. Cái “hằng cửu, bất biến” của Tề Thiên Đại Thánh ở đó: phá Thiên cung, cướp ngôi Ngọc hoàng Thượng đế, đánh Phật Quan Âm, nhảy ở lò Bát quái ra lại đập phá nghịch ngợm luôn, bị đè dưới chân núi Hành Sơn vẫn nghịch, rồi sau này đánh bao nhiêu yêu quái, dù thua dù được, cũng đều nghịch nữa.


Trong văn chương ta, muốn lấy thí dụ một người đã làm chủ được phương pháp quy sự nhận xét của mình vào làm một cái “hằng cửu, bất biến” riêng cho nhân vật truyện, ta vẫn phải kể đến tác giả truyện Kim Vân Kiều.


Lấy Hoạn Thư ra làm thí dụ. Hoạn Thư chính là người đàn bà rất lịch sự:


Ở ăn thì nết cũng hay,


nhưng không vừa:


Nói điều ràng buộc thì tay cũng già.


Sở dĩ, sau này, nàng phải hành hạ Kiều, ấy cũng vì ghen tuông là thói của đàn bà; chính Hoạn Thư cũng biết ghen là xấu “Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình” nhưng không thể không ra tay được. Cái “hằng cửu, bất biến” của Hoạn Thư là ghen nhưng ghen lịch sự, ghen nhưng giữ gìn, và thâm. Bởi vậy, trong suốt một cuộc đời Hoạn Thư, ta đều thấy nàng hành động một cách kín đáo, lịch sự mà thâm. Xem thí dụ ở đoạn người vào tâng công với Hoạn Thư, Hoạn Thư rất thâm:


Tiểu thư nổi giận đùng đùng:


“Gớm tay thêu dệt ra lòng trêu ngươi!


“Chồng tao nào phải như ai,


Điều này hẳn miệng những người thị phi!”.


Vội vàng xuống lệnh ra uy,


Đứa thì vả miệng, đứa thì bẻ răng.


Đoạn gặp Thúc Sinh thì Hoạn Thư kín đáo:


Buồng đào khuya sớm thảnh thơi,


Ra vào một mực nói cười như không.


và vẫn thâm:


Đêm ngày lòng những dặn lòng,



Rằng: “Trong ngọc đá vàng thau,


“Mười phần ta đã tin nhau cả mười.


“Khen cho những miệng dông dài,


“Bướm ong lại đặt những lời nọ kia!


Thiếp dù vụng chẳng hay suy,


Đã dơ bụng nghĩ lại bia miệng cười!”.


Những đoạn sai Khuyển Ưng, Khuyển Phệ đi bắt Kiều, sai hoa nô đánh đàn và bắt được Thúc Sinh tình tự với Kiều ở Quan Âm Các mà chỉ cười, đều là ghen mà ghen thâm cả, nhưng trước sau Hoạn Thư vẫn là “con nhà họ Hoạn danh gia” lịch sự, biết thương người:


Rằng: “Tài nên trọng mà tình nên thương!



“Bể trần chìm nổi thuyền quyên,


Hữu tài thương nỗi vô duyên lạ đời”.


Sau này, đến khi Kiều trả ân trả oán, Hoạn Thư vẫn giữ được cái “hằng cửu, bất biến” của mình:


Rằng: “Tôi chút dạ đàn bà,


“Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.


Những lý lẽ Hoạn Thư dùng để tự bào chữa cho mình:


“Nghĩ cho khi các viết kinh,


“Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.


“Lòng riêng, riêng những kính yêu,


“Chồng chung, chưa dễ ai chiều cho ai!


“Trót lòng gây việc chông gai,


“Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng?”.


đều vẫn quy vào cái “hằng cửu, bất biến” đó và làm sáng tỏ câu tả người ở trên đầu:


Nói điều ràng buộc thì tay cũng già.


Đến Từ Hải. Từ Hải là một vị anh hùng phong nhã:


Giang hồ quen thú vẫy vùng,


Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo.


Vị anh hùng đó cũng là người, cũng mê gái, đó là lẽ tự nhiên; nhưng Từ Hải có một cái “hằng cửu, bất biến” là làm việc gì cũng đường đường chính chính, từ câu nói đến việc làm, không bao giờ khuất tất. Thúc Sinh chuộc Kiều còn hèn hạ, giấu giếm, sợ tiếng là lấy con em hành viện, phải giấu Kiều một nơi và nghĩ mưu nhỏ nhặt để đối phó với Tú Bà:


Mượn điều trúc viện thừa lương,


Rước về hãy tạm giấu nàng một nơi.


Chiến hòa sắp sẵn hai bài,


Cậy tay thầy thợ mượn người dò la.


Bắn tin đến mặt Tú Bà,


Thua cơ, mụ cũng cầu hòa dám sao!


Từ Hải thì không hèn, không giấu giếm thế:


Ngỏ lời nói với băng nhân,


Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn.


Buồng riêng sửa chốn thanh nhàn,


Đặt giường thất bảo, vây màn bát tiên.


Về sau này, Từ Hải ra hàng Hồ Tôn Hiến, cho phép Kiều báo ân báo oán, đều là do cái “hằng cửu, bất biến” đường đường chính chính nói trên kia vậy.


Lại đến nhân vật chính là Kiều.


Lẽ tất nhiên, lúc cấu tạo ra Kiều, Nguyễn Du không có ý định mang Kiều ra làm đại biểu cho chữ hiếu và trinh, bởi vì nếu muốn cho Kiều làm đại biểu cho hiếu, trinh thì có khối trường hợp khác, Kiều biểu dương được hai tính tình đó một cách vẻ vang hơn.


Nguyễn Du chỉ muốn tả hết cả cái đời truân chuyên của Kiều, bằng ngòi bút của một nhà tiểu thuyết và không định biểu dương gì cả, nhưng Nguyễn Du có một cái “hằng cửu bất biến” là Kiều là một cô gái đa cảm, bao nhiêu tình của Kiều vì vậy đều quy vào chỗ đa cảm đó: đi tảo mộ thấy mả Đạm Tiên thì khóc cho thân mình về sau; đêm về nằm mê thấy đưa cho Đạm Tiên tập Đoạn trường; đánh đàn cho Kim Trọng thì rầu rầu “tẻ vui âu cũng tính trời biết sao”; đương tắm, Thúc Sinh vào bảo họa thơ, cũng buồn:


Lòng còn gởi áng mây hàng,


Họa vần, xin hãy chịu chàng hôm nay.


Ở lầu Ngưng Bích thì nhớ cha mẹ và Kim Trọng:


Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,


Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.


Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,


Tin sương luống những rày trông mai chờ.


Bên trời góc bể bơ vơ,


Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.


Xót người tựa cửa hôm mai,


Quạt nồng ấp lạnh, những ai đó giờ?


Sân Lai cách mấy nắng mưa,


Có khi gốc tử cũng vừa người ôm.


Ở với Hoạn Thư, cũng nhớ nhà:


Bốn phương mây trắng một màu,


Trông vời cố quốc biết đâu là nhà?


Lại khi lấy Từ Hải, cũng buồn cũng nhớ cha mẹ, Thúy Vân và Kim Trọng:


Đoái thương muôn dặm tử phần,


Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa.


Xót thay huyên cỗi xuân già,


Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi.


Chốc đà mười mấy năm trời,


Còn ra khi đã da mồi tóc sương.


Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,


Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.


Duyên em dù nối chỉ hồng,


May ra khi đã tay bồng tay mang.


Tấc lòng cố quốc tha hương,


Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời.


Cái “hằng cửu, bất biến” đó của Kiều, của Nguyễn Du chính là cái đặc biệt của nhân vật Kiều và chính đó là một lẽ trong trăm ngàn lẽ làm cho Kiều “sống” vậy. Kiều lại còn “sống” vì trong suốt cả một cuộc đời luân lạc mười lăm năm, Kiều luôn luôn hành động, mà những hành động đó đều tự nhiên cả, không câu thúc, không bắt buộc, không sai khiến bởi ngón tay người viết truyện, không giả dối.


Bởi thế ta đã được chứng kiến Kiều lúc ngây thơ, khi đĩ thõa, lúc cao thượng, khi tiểu nhân, lúc đầy những ý tưởng thanh cao, khi thì nuôi trong óc những tư tưởng tầm thường thấp kém. Nhưng đại loại thì bao nhiêu tư tưởng và hành vi của Kiều đều không có gì xuất phàm; nàng chỉ là một người mà thôi, một người như chúng ta thôi: đa tình, trốn cha mẹ hẹn hò với trai, không giữ lòng được thanh cao nữa thì tiếp khách; rồi theo trai, nhưng vẫn nhớ quê hương, cha mẹ và tình nhân; khuyên Từ Hải ra hàng để phú quý phụ vinh; ăn cắp chuông vàng khánh bạc; báo ân báo oán và lấy làm danh giá về chuyện đó: “Xem cho rõ mặt biết tôi báo thù!”.


Bao nhiêu hành động đó phản chiếu rõ rệt cái tâm hồn người con gái Việt Nam, đều do Kiều tự gây ra cả, chứ ta không hề thấy Nguyễn Du gây ra sự tình, cảnh ngộ rồi bắt Kiều hành động theo những sự tình, cảnh ngộ đặt sẵn: đó thật là một cái tài mà nhiều nhà tiểu thuyết bây giờ không thể đạt hơn được.


Ngồi mà ngẫm thì hầu hết nhân vật trong Kiều đều “sống” cả: Kiều, Tú Bà, Sở Khanh, Mã Giám Sinh, Từ Hải, nhân vật nào cũng tự nhiên, cũng hợp với tâm lý “người”, cũng hành động một cách dễ dàng. Điều này là một đặc biệt của Nguyễn Du: Nguyễn Du không bắt một nhân vật nào có một thói quen riêng, mà người nào ra người đó, không hề lẫn lộn; mà người nào cũng có những tính tình riêng, và phải nói rằng những tính tình đó đều phiền toái cả, chứ không đơn giản.


Những tính tình hoạt động đó rất có thể tương phản nhau, đã gây một sức sống mãnh liệt cho những nhân vật trong truyện Kiều là những nhân vật, như trên kia đã nói, rất phức tạp. Những tiểu thuyết bây giờ thường không có những nhân vật như vậy, có lẽ bởi người ta ít tài, mà có lẽ người ta lười, thường chỉ bắt chước Homère và văn phái Médan lấy một hai dấu riêng hay thói quen riêng để làm cá tính cho nhân vật, để phân biệt nhân vật trong tiểu thuyết.


Homère, muốn làm sống nhân vật của mình chỉ dùng một ít dấu ở bề ngoài, như tả Achille thì lúc nào cũng là “Achille có đôi chân bước nhanh” (Achille aux pieds rapides). Lại như Emile Zola cũng thế(1): trong tiểu thuyết Germinal tả lão Bonnemort thì lúc nào Bonnemort cũng khạc đờm đen, cả quyển tiểu thuyết có mươi mười lăm bận ta gặp Bonnemort thì mười lăm bận đó, Bonnemort đều khạc đờm đen cả; và tất cả điều ta biết về Bonnemort chỉ là lão lúc nào cũng khạc đờm đen. Cũng trong tiểu thuyết Germinal đó lại có một tên gian tên là Chaval định bắt cóc nàng Catherine của Etienne Lantier: anh này thì lại không ngớt miệng kêu luôn luôn. Có một anh chạy hàng sách có tư tưởng xã hội luôn luôn ho, một người Nga luôn luôn im lặng, luôn luôn lên mặt, luôn luôn hiền lành.


Nhân vật của Emile Zola không “sống” nhiều(1). Tiện đây, ta cũng nên biết qua rằng một nhân vật “sống” nhiều có thể trở nên được một “nhân vật đại biểu” chứ một “nhân vật đại biểu” không thể trở nên một “nhân vật sống”.


Lại thí dụ như truyện Kiều.


Thúy Kiều, Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Hoạn Thư, - nhất là Hoạn Thư - là những thí dụ “nhân vật sống” trở nên “nhân vật đại biểu”. Đến bây giờ và mãi mãi, muốn nói một người con gái lưu ly oan khổ, người ta bảo “truân chuyên oan khổ như cô Kiều”. Người đàn bà nanh ác dỗ người là mụ Tú. Đàn ông đàng điếm ăn chơi, xỏ lá là thằng Sở Khanh, Mã Giám Sinh. Và muốn gọi một người đàn bà ghen tuông, người ta vẫn thường bảo là ả Hoạn. Những nhân vật đó, bây giờ, đã thành “nhân vật đại biểu” rồi. Ta rất có thể nghĩ rằng lúc Nguyễn Du cấu tạo ra Kiều, Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Hoạn Thư, cụ không bao giờ lại có ý nghĩ là họ thành những nhân vật đại biểu, chẳng qua là họ tình cờ mà hóa ra nhân vật đại biểu đó thôi. Nguyễn Du không nói: Ta tả Sở Khanh, ta nhất định cho nó thành đại biểu “những thằng xỏ lá”. Nguyễn Du chỉ tả một thằng dỗ gái. Tình cờ, Sở Khanh lại thành ra một thằng bợm, một thằng điêu, một thằng đi lừa đàn bà, một thằng giở mặt và thành một thằng xỏ lá. Thật là tình cờ. Nguyễn Du không ngờ rằng mình đã tạo ra được một “nhân vật đại biểu”. Đó là còn nhờ ở công các nhà phê bình nữa: họ đem trút vào cái “vai Sở Khanh” những tư tưởng, những phương pháp, những học thuyết, những ý kiến mà chính Nguyễn Du không có, hay không tưởng tượng được. Cũng thế, lúc Kiều được cấu tạo ra, nàng không có những tư tưởng, những ý kiến, những phương pháp, những học thuyết mà bây giờ những nhà phê bình đem đổ vào đầu. Nguyễn Du chỉ định tả một người con gái truân chuyên, thế thôi; những nhà phê bình đem ra tán rộng - và sự tán rộng này rất có ích lợi cho văn học - nên bây giờ mới hóa ra một “nhân vật đại biểu” như thế.


Tóm lại, một nhân vật tiểu thuyết ngay lúc được cấu tạo, không thể đại biểu được; nhưng về sau này, tình cờ mà trở nên được một “nhân vật đại biểu” đó thôi. Người ta không thể cố ý cấu tạo một “nhân vật đại biểu” được. Xem Emile Zola thì biết(1). Ông này có rất nhiều ý muốn làm cho nhân vật của mình thành “nhân vật đại biểu”. Như tả về một người đàn bà giặt quần áo, ông điều tra rất kỹ về đời thợ giặt, về cách giặt, về cách là, về cách hồ quần áo, ông lại không quên biên giá tiền giặt một cái áo bao nhiêu, ủi một cái quần bao nhiêu. Tả về thợ kẽm, ông ghi về đời thợ kẽm, những đồ dùng của một người thợ kẽm, lương lậu của một người thợ kẽm… Người đàn bà thợ giặt đó và người thợ kẽm đó, Zola muốn làm thành hai “nhân vật đại biểu”; nhưng, như ta thấy, họ không trở nên đại biểu gì cả, họ chỉ là hai người vô sản mà thôi.


Bởi biết như thế, những nhà tiểu thuyết chân chính bây giờ không bao giờ dụng ý làm cho nhân vật của mình thành “nhân vật đại biểu”. Họ chỉ mong làm cho nhân vật của họ “sống” và không có một ý định gì khác cả. Đó là tất cả điều đáng khen của những nhà tiểu thuyết bây giờ và cũng là cái nguy hiểm của họ nữa: nếu họ không bắt chước được đúng cái luân lý của đời, họ không còn cái gì luận mà gỡ lại nữa, dù là cái luân lý tiểu thuyết của những bài ngụ ngôn luân lý.


(còn tiếp)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








(1) Les personnages des romans, quand ils sont vraiment vivants, engendrent eux mêmes les évènements et déterminent des situations - DUHAMEL - (Le romanesque familier).




(1) La vie intense. Voilà le superbe, je ne changerais la mienne contre aucune, car j’ai vécu plusieurs vies et la réelle a été la moindre (lời của André Walter, nhân vật chính trong “Le Cahier blanc” của André Gide).




(1) Jules Lemaitre - Les Contemporains. t. ler.




(1) Les individus ne sont pas, dans Zola, très vivants - André Maurois: Sons nouveaux 1900 - Emile Zola: Germinal.




(1) Tài liệu của M. Massis (Phê bình quyển L’Assommoir).



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
Sở Cuồng Lê Dư – học giả tiên phong trong việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Nhật Bản - Đoàn Lê Giang 21.10.2017
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
xem thêm »