tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21056565
Lý luận phê bình văn học
05.10.2011
Vũ Bằng
Khảo về tiểu thuyết (2)

Chương 4: Chủ đề truyện


Trong một chương trước, đã nói rằng tiểu thuyết Tàu diễn nghĩa và tiểu thuyết ta từ trước tới nay, viết ra đều là để “biểu dương một cái gì”.


Một số đông người đọc truyện mới, thường giống nhau ở một điểm là họ yên trí rằng: truyện thì phải có một “cái gì”, mà truyện mới thì không có “cái đó”, đọc lên “chả ra thế nào”. Họ còn lấy cớ rằng phàm cái gì viết ra đều phải nuôi một mục đích là duy trì luân lý hay là bổ ích cho nhân tâm thế đạo; nay nhất đán một quyển truyện viết ra mà không làm thỏa mãn được hai điều kiện đó thì là truyện vô ích, không đáng đọc.


Bởi thế, các cụ và nhất là các bà, thường cho rằng truyện ngày trước có nghĩa lý, còn truyện bây giờ là truyện viết chơi, và không phải nói, ai cũng biết sự hoan nghênh của người ta bao giờ cũng ngả về bên những truyện “có ích”, nghĩa là những truyện văn chương nghĩa lý, dù là những truyện hoang đường quái đản. Kìa, xem từ những truyện quái hiệp như Tây du, Phong thần đến những truyện kỳ tình như Song phượng kỳ duyên, Tái sinh duyên, Trung hiếu, Thần tiên, rồi đến những truyện dài bằng thơ như Kiều, Lục Vân Tiên, Nhị Độ Mai, Hoa Tiên, Mai đình mộng ký… thật không có một cuốn nào mà tính cách luân lý, khuyến thiện không rõ rệt. Truyện Tây du, từ đầu đến cuối, quy vào mục đích phải giữ lòng ngay thẳng, bởi vì người ngay thẳng, ăn hiền ở lành bao giờ cũng được Trời thương, ma quỷ tài phép đến đâu đi nữa cũng không hại nổi. Truyện Phong thần thì tỏ rằng những kẻ tôi trung bao giờ cũng được sung sướng, nếu có gặp vận nạn thì Trời cũng sai người đến cứu, hoặc có chết cũng thành thần cả; chỉ có những kẻ nham hiểm, độc ác mới bị chết khổ sở và hóa ma. Song phượng kỳ duyên, Tái sinh duyên, Trung hiếu, Thần tiên đều cùng chung mục đích là khuyên người ta ăn ở cho phải đạo, cũng như Lục Vân Tiên, Kiều, Nhị Độ Mai, Hoa Tiên, Mai đình mộng ký là những truyện dài bằng thơ mà hầu hết ở trên đầu tác giả thường vẫn để mấy câu luân lý “trung - hiếu - tiết - nghĩa” mà họ muốn đem ra chứng tỏ:


Hóa nhi thăm thẳm nghìn trùng,


Nhắc cân phúc tội rút vòng vần xoay.


Ngàn xưa mấy kẻ gian ngay,


Xa cơ báo ứng biết tay trời già:


Tuần hoàn, nhẽ ấy chẳng xa,


Chớ đem nông nổi mà ngờ cao xanh.


Trời nào phụ kẻ trung trinh,


Dù vương nạn ấy, ắt dành phúc kia.


Danh thơm muôn kiếp còn ghi,


Để gương trong sách tạc bia dưới đời.


Gian tà đắc trí mấy hơi,


Mắt thần khôn giấu, lưới trời khôn dung.


Uy quyền một phút như không,


Xem bằng lửa đá ví cùng đám mây.


(Nhị Độ Mai)


Trước đèn xem truyện Tây Minh,


Gẫm cười hai chữ nhân tình éo le.


Hỡi ai! Lẳng lặng mà nghe,


Dữ răn việc trước, lánh dè thân sau.


Trai thời trung hiếu làm đầu,


Gái thời tiết hạnh là câu trau mình.


(Lục Vân Tiên)


Trăm năm là kiếp ở đời,


Vòng trần này dễ mấy người trăm năm.


Cuộc phù sinh có bao năm,


Nỡ qua ngày bạc mà lầm tuổi xanh.


Duyên tế ngộ, hội công danh,


Là hai, với nghĩa sinh thành là ba.


Đều là đường cái người ta,


Là cầu noi đó, ai qua mới tường.


(Mai đình mộng ký)


Nhân sinh thành Phật dễ đâu,


Tu hành cứu khổ rồi sau mới thành.


Ai hay bền dạ làm lành,


Chứng minh trong chốn minh minh cũng tường.


(Quan Âm Thị Kính)


Nếu nói theo lối bây giờ thì những truyện đó đều là những truyện có chủ đề cả, cũng như những tranh vẽ của Tàu và của ta đều là những tranh vẽ có chủ đề: bảy ông tiên đứng trong rừng trúc là “Trúc lâm thất hiền”; người nhà quê dắt trâu rửa tai là “Sào phủ tẩy nhĩ”; bốn người đứng với nhau, một ông gánh củi, một ông ngồi câu, một ông thổi sáo, một ông cưỡi trâu là “Ngư tiều canh mục”.


Vậy thì chủ đề là gì? Chủ đề là một việc thuộc về lịch sử hay truyền kỳ, một ý tưởng triết lý, một bằng chứng đạo đức hay có khi là một tổ hợp của giai thoại yếu tố khả dĩ dùng làm nền móng hay phạm vi của một tác phẩm nghệ thuật. Chủ đề, chính vậy, là một cái gì ẩn náu ở dưới những ngoại quan, là cái thực tại cốt yếu đã chỉ định và phối trí những trạng huống vậy.(1)


Đến đây, tôi xin phép các bạn đọc ngừng lại một chút để chúng ta cùng xét xem ba chữ conte, nouvelle roman của Pháp thế nào, và nên dịch ra sao. Như trên đã nói, nguyên chữ tiểu thuyết của ta mượn của người Tàu để chỉ chung tất cả các loại truyện cũng đã sai nghĩa chính roman của nó rồi; vậy ta cũng chả lấy làm lạ là từ trước tới nay, chúng ta không phân biệt rõ thế nào là conte, nouvelle roman. Theo thói quen thì chúng ta vẫn dịch roman là trường thiên tiểu thuyết, nouvelle là đoản thiên tiểu thuyết, truyện ngắn (tự vị Đào Duy Anh) mà conte cũng là truyện ngắn.


Như vậy, ta không thấy một cái nouvelle khác một cái conte thế nào; mà chữ conte dịch là truyện ngắn cũng không phải nữa. Trong chữ conte không có nghĩa là ngắn cả, mà có phải bao giờ cái conte cũng ngắn đâu. Các bạn xem xuống dưới đây, sẽ thấy rằng ở nước ta và nước Pháp có những cái conte dài tới ba, bốn trăm trang giấy, vậy nếu gọi là truyện ngắn, có điều như mâu thuẫn.


Vậy, từ đây trở xuống, người viết bài này sẽ cứ gọi roman là trường thiên tiểu thuyết nhưng contenouvelle thì sẽ không theo thường lệ mà gọi là đoản thiên tiểu thuyết và truyện ngắn, nhưng sẽ châm chước người Nhật mà gọi nouvellevật ngữ conteđàm, truyện.


Bây giờ lại xin trở lại câu truyện ta đương nói.


Dù là trường thiên tiểu thuyết, vật ngữ, hay là truyện, bao giờ người ta cũng có thể cho một chủ đề vào được. Nhưng ta nên biết rằng theo phương pháp viết truyện mới bây giờ, có thứ truyện cần phải có chủ đề, có thứ không có chủ đề cũng chả sao, lại có thứ nếu cho chủ đề vào thì hỏng.


Thường thì truyện, nhất là truyện triết lý, rất cần phải có chủ đề. Người ta chưa bao giờ lại thấy một truyện triết lý không có chủ đề; cái chủ đề ấy có khi chính là luân lý của câu truyện vậy.


Vật ngữ có khi là sự miêu tả một phong cảnh, một người, có khi là sự miêu tả tình trạng, phong tục, thời đại, mà cũng có khi là một tác phẩm có chủ đề.


Nhưng đến thơ thì chủ đề làm hại thơ, nhiều khi thơ dở đi vì chủ đề. Bài “Chính khí ca” của Văn Thiên Tường có thể là một bài triết lý vững, một bài luân lý tốt, hơn nữa, một bài thơ khéo đặt chữ, chọn câu, tìm điểm, chứ không phải là một bài thơ hay vậy. Trường thiên tiểu thuyết bây giờ là một thứ văn, cũng như thơ, không chịu được chủ đề. Tại sao? Ở dưới này, tôi sẽ tìm những lý lẽ của các nhà tiểu thuyết có tiếng hiện nay để chứng tỏ cho điều đó. Bây giờ, hãy thử xét xem tại sao những truyện của các cụ để lại cho ta chỉ là truyện chứ không phải là tiểu thuyết, và do đó, chúng ta sẽ xét xem cái sự tiểu thuyết bây giờ không có chủ đề là phải hay trái, là hay hay dở?


Ngồi mà đọc lại những truyện như Thạch Sanh, Tống Trân, Nhị Độ Mai, Trê Cóc, Bích Câu, Hoa Tiên, Phan Trần, Lục Vân Tiên, Trinh Thử, Mai đình mộng ký, v.v… chúng ta đều thấy rằng không phải tự nhiên mà tác giả những truyện đó viết ra, nhưng chính vì có một ý kiến, một tư tưởng làm nguyên nhân. Người viết truyện, sau khi đã nhận chân được ý kiến đó, tư tưởng đó rồi, bèn xây dựng ra cuốn truyện, xây dựng ra cách nào để tỏ rõ ý kiến đó, tư tưởng đó đến triệt để.


Tôi xin lấy mấy cái thí dụ truyện Pháp để ta ngẫm nghĩ rồi do đó suy ra những truyện của ta.


Lấy một truyện đã được dịch ra tiếng Việt: truyện Miếng da lừa mà chúng ta đều đã đọc hay ít nhất đã đọc bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh, ra làm mẫu. Truyện đó chính là mẫu truyện xây dựng theo lối tôi vừa nói ở trên kia. Một người trẻ tuổi chán đời, muốn đi tự tử, tình cờ được một miếng da lừa có phép thần. Mỗi khi chủ nhân miếng da đó ước muốn một điều gì thì miếng da co lại một chút. Chả mấy lúc cái muốn đốt cháy lòng ta, cái được làm hư hại xác thịt ta”, chủ nhân miếng da lừa nọ không ước muốn gì được nữa vì miếng da co lại hết mất rồi. Và gã chết. Xem đó, thì có phải luân lý của truyện, chả cần phải ai nói, cũng đã rõ ràng minh bạch rồi không? Miếng da lừa không phải là một tiểu thuyết như người ta vẫn tưởng lầm, đó là một tác phẩm dày bốn, năm trăm trang giấy. Đó chỉ là một truyện triết lý - un conte philosophique.


Cuốn Le portrait de Dorian Gray của Oscar Wilde cũng là một quyển truyện thuộc vào thể truyện Miếng da lừa, một truyện triết lý chứ không phải là tiểu thuyết.


Ai đã đọc sách Pháp tất còn nhớ cái chủ đề của truyện này: một thanh niên trẻ đẹp, tài hoa là thói, lịch sự nếp nhà, đến nhờ một họa sĩ vẽ cho một bức chân dung. Về cái đời thực của chàng thì chất chứa rất nhiều tội lỗi. Tuy thế, chàng vẫn đẹp, đẹp một cách thần tiên, nhưng mỗi khi chàng làm một tội lỗi gì, trên bức chân dung lại hiện ra một vài điểm xấu xa, hèn kém, mà chàng cố sức giấu đi. Cho đến một ngày kia, vì tức giận, và cũng vì ngấy cái đời sống vô nghĩa lý, chàng nhảy xổ đến bức chân dung bất khả dung thứ đó để xé nát nó đi. Chàng ngã gục xuống cạnh đó và người ta thấy chàng xấu xa, nhơ bẩn ở cạnh bức chân dung vẫn trẻ đẹp như ngày mới vẽ.


Cứ thuật lại sơ như thế, ta cũng có thể thấy rằng truyện của Wilde là một truyện triết lý, một truyện luân lý, một truyện có tính cách răn dạy vậy.


Lại như truyện Candide của Voltaire tả những điều trông thấy về sự thay đổi của các chế độ chính trị và xã hội ở trên đời; nhiều người cũng vẫn cho đó là một tiểu thuyết. Sự thực truyện đó không phải là tiểu thuyết mà chỉ là một truyện triết lý như hai truyện triết lý trên kia vậy.


Cứ kể ra thì còn nhiều, nhưng muốn đơn cử làm thí dụ, thiết tưởng như thế cũng đã tạm đủ rồi, đủ để cho ta đem những thí dụ đó so sánh với những truyện diễn nghĩa và văn vần của ta. Truyện Bích Câu kỳ ngộ, Trê Cóc là truyện triết lý; truyện Lục Vân Tiên, Nhị Độ Mai, Phạm Công - Cúc Hoa, Hoàng Trừu, Trinh Thử là những truyện triết lý, và hơn thế, những truyện luân lý, những truyện có tính cách khuyên người ta ăn ở cho phải đạo.


Bên cạnh những truyện đó, lại còn có nhiều truyện có đủ tính cách là tiểu thuyết, là những bức họa miêu tả tính tình và phong tục nhưng cũng có chủ đề và cũng định biểu dương bằng cách này hay bằng cách khác một cái gì. Đó là trường hợp của những tiểu thuyết của phái tự nhiên và nhất là những truyện “di truyền, tiến hóa” của đại văn hào Emile Zola(1). Truyện Kim Vân Kiều của Nguyễn Du có thể liệt vào trong hạng này. So sánh với các truyện khác, Kiều có nhiều tính cách của một tiểu thuyết nhất, hành động và câu nói của các vai trong truyện tự nhiên, phóng khoáng và không bị trói buộc vào chủ đề quá, nhưng tựu trung cũng vẫn muốn tỏ rằng:


Chữ TÀI chữ MỆNH khéo là ghét nhau.



Lạ gì bỉ sắc tư phong,


Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.(1)


và:


Tu là cõi phúc, tình là dây oan.


Kiều cũng như những truyện của phái tự nhiên ở Pháp đều là tiểu thuyết có chủ đề.


Có một điều nên chú ý là những truyện hay tiểu thuyết có chủ đề đều để đem tóm thuật và để đem kể lại. Bao nhiêu ý định của tác giả đều được đem giãi bầy hoặc bằng cách kín đáo hoặc bằng cách rõ ràng trong tất cả tác phẩm (ví du, truyện Nhị Độ Mai, Lục Vân Tiên không có đoạn nào tác giả không muốn tỏ rõ rằng kẻ nịnh thì đáng ghét, người trung thì đáng yêu, kẻ bội bạc thì gặp sự không may, người tiết liệt, hiếu nghĩa thì bao giờ cũng gặp phúc). Triết lý của câu chuyện, nếu tác giả không tự mình diễn ra thì lại cho một, hai nhân vật nào đó ở trong truyện nói như một người giảng đạo. Vai giảng đạo đó ở trong truyện Lục Vân Tiên là ông Quán:


Tiên rằng: ông Quán cười ai?


Quán rằng: cười kẻ bất tài làm thơ.


Cười người Tôn Tẫn hững hờ,


Trước đã thấy máy không ngờ Bàng Quyên.


Trực rằng: lời nói hữu duyên,


Thế trong kinh sử có truyền cùng chăng?


Quán rằng: kinh sử đã từng,


Xem rồi lại khiến lòng hằng xót xa.


Hỏi thời ta mới nói ra,


Vì chưng hay ghét cũng là hay thương.


Tiên rằng: trong đục chưa tường


Chẳng hay thương ghét, ghét thương lẽ nào?


Quán rằng: ghét việc tầm phào,


Ghét cay ghét đắng ghét vào tới tâm.


Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm,


Để dân luống chịu lầm than muôn phần.


Ghét đời U, Lệ đa đoan,


Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần.


Ghét đời Ngũ Bá phân van,


Chuộng bề dối trá, làm dân nhục nhằn.


Ghét đời Thúc Quí phân bàng,


Sớm đầu tối đánh, lằng nhằng rối dân.


Thương là thương đức Thánh nhân,


Bị nơi Tòng, Vệ, lúc Trần, lúc Khuôn.


Thương thầy Nhan Tử dở dương,


Ba mươi mốt tuổi tách đường công danh.


Thương ông Gia Cát tài lành,


Gặp kỳ Hán mạt chịu đành phôi pha.


Thương thầy Đồng Tử cao xa,


Chí đà có chí ngôi mà không ngôi.


Thương người Nghiêm lượng ngùi ngùi,


Lỡ bề giúp nước, lại lui về cầy.


Thương ông Hàn Dũ chẳng may,


Sớm dâng lời biểu, tối đầy đi xa.


Thương bầy Liêm Lạc đã ra,


Bị lời xua đuổi về nhà dạy dân.


Xem qua kinh sử mấy lần,


Nửa phần lại ghét, nửa phần lại thương.


Ở trong Nhị Độ Mai, là Xuân Sinh:


Xuân Sinh cười nói, thưa rằng:


Tình người quyến cố xem bằng bể non.


Duyên này đã định tao khang,


Có đâu phụ nghĩa tham sang lẽ nào.


Tung rằng: khó chấp nê sao,


Xưa nay đổi vợ biết bao nhiêu người.


Con người sắc nước hương trời,


Quá thương khi đã ngỏ lời dê dâu.


Cạn lòng nếu chẳng nghĩ sâu,


Ăn năn e nữa đến sau lụy mình.


Sinh nghe mấy tiếng dỗ dành,


Đùng đùng nổi giận bất bình khêu gan.


Mắng rằng một lũ quyền gian,


Nhơ mình chưa chán lại toan hại người!


Mình đã là phận con nuôi,


Nữa còn lòng lại dắt ai vào cùng.


Ta đây một tấm lòng trung,


Quyết đem giãi trước mặt rồng có phen.


Thề không dung kẻ quyền gian,


… Vì dân trừ hại mới nên anh tài.


Ở truyện Tống Trân thì đó là vua Tần:


Vua Tần cầm thư xem ngay,


Khen rằng thực gái thảo ngay hết lòng.


Lại truyền khắp cả nội cung:


“Đàn bà đức hạnh dung công thế này.


Nước Nam sao lắm người hay,


Mới mười mấy tuổi biết nay thờ chồng.


Thôi là tận hiếu tận trung,


Thật là biết đạo tam tòng xưa nay.


Ước gì nàng ấy sang đây,


Trẫm nuôi tức khắc để rầy làm con…”.


Ở truyện Bạch Viên - Tôn Các, đó là Tôn Các và Nhàn Vân:


Đêm qua giấc mộng lạ lùng,


Gẫm yêu tinh vốn ở trong nhà này.


Chỉn e gặp giống chẳng ngay,


Vì anh quen bén mai ngày hại chăng.


Lạ chăng trong chốn núi rừng,


Lắm loài yêu mị thói hằng tà dâm.


Anh còn đôi đức song thân,


Kể công sinh dưỡng một phân chưa đền.


Giáo khoa còn nợ sách đèn,


Phải lo chung đỉnh đua chen với đời.


Công danh phú quý còn dài,


Vợ con chóc phọc vậy thời lo chi.


và:


Nghĩ mình cơm áo mẹ cha,


Sôi kinh nấu sử chốc đà bấy lâu.


Đường mây chưa nhẹ gót cầu,


Thẹn người khanh, tướng, công, hầu đua chen.


Dầu trần, dầu tục, dầu tiên,


Hiếu, trung cũng phải lo đền cho xong.


Còn ở Quan Âm Thị Kính thì người giảng đạo là đức Thiên Tôn và tác giả:


Giữa trời một đóa tường vân,


Đức Thiên Tôn hiện toàn thân xuống đền.


Vàn vân tỏ rạng tường loan,


Đông phan bảo cái giao hoan âm thầm.


“Truyền cho nào tiểu Kính Tâm,


Phi thăng làm Phật Quan Âm tức thì.


Lại thương đến đứa tiểu nhi,


Lên tay cho đứng liền tay bây giờ.


Kìa như Thiện Sĩ lờ đờ,


Cho là chim vẹt đứng nhờ một bên.


Độ cho hai khóm thông uyên,


Ra tay cầm quyết bước lên trên tòa.


Siêu thăng thoát cả một nhà,


Từ đây phúc đẳng hà sa vô cùng”.


Thực là lành lại gặp lành,


Nam vô di Phật tu hành thì coi.


Quan Âm Thị Kính, Lục Vân Tiên, Nhị Độ Mai, Tống Trân - Cúc Hoa, Bạch Viên - Tôn Các, những truyện có chủ đề đó cũng như Kim Vân Kiều đều để đem kể lại. Người đọc truyện nếu muốn tóm thuật câu chuyện chỉ việc nói:


- Một người thế này thì gặp cảnh ngộ thế này, bị thế này, phải làm thế này, thế nghĩa là ta phải thế này…


Lấy ví dụ quyển Kiều cho rõ:


- Cô Kiều đẹp, thơ hay, đàn giỏi, yêu Kim Trọng rồi vào lầu xanh, rồi đi tu, rồi cơ khổ mười lăm năm trong khi Thúy Vân yên hưởng hạnh phúc gia đình, như thế tỏ rằng:


Ngẫm hay muôn sự tại trời,


Trời kia đã bắt làm người có thân.


Bắt phong trần phải phong trần,


Cho thanh cao mới được phần thanh cao.


Có đâu thiên vị người nào,


Chữ tài, chữ mệnh, dồi dào cả hai.


Có tài mà cậy chi tài,


Chữ tài liền với chữ tai một vần.


Đã mang lấy nghiệp vào thân,


Cũng đừng trách lẫn trời gần, trời xa.


Thiện căn ở tại lòng ta,


Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.


Chả cần phải nói, ai cũng biết rằng tiểu thuyết và truyện có chủ đề bao giờ cũng giữ một địa vị trong văn giới. Nhìn xem văn chương ta, chủ đề biết bao nhiêu phen đã tạo những tác phẩm lớn lao, tuyệt tác. Truyện Kiều một phần hay cũng là do ở cái chủ đề thấm nhuần Phật lý và đạo giáo; truyện Lục Vân Tiên và truyện Nhị Độ Mai cũng vậy. Lắm khi lại có những truyện không có chủ đề không được. Ví như những truyện của André Gide tràn trề một sự sống mãnh liệt, đầy đủ, vừa thoát ly lại vừa quay lại, vừa hăng hái lại vừa phúng thế. Những truyện đó viết ra vì thanh niên. Gide hình như chỉ sống vì thanh niên; tiên sinh không bắt họ vào trong khuôn phép gì cả và cũng không bắt họ theo một cái đích nào; tiên sinh chỉ một con đường để cho họ đi, và hết sức gây một niềm tin tưởng, một nỗi tự phụ, một thí dụ độc lập trong lòng họ. Những truyện như L’Immoraliste La porte étroite, Isabelle La symphonie pastorale, những vở kịch như Paludes hay Les caves du Vatican và cả cuốn Le faux monnayeurs là cuốn tiểu thuyết tiên sinh viết khi đã chín rồi, đều có một ảnh hưởng rất rộng rãi, không phải vì thể truyện tiên sinh viết, nhưng chính vì những luận đề của những tiểu thuyết gia, và có khi tiên sinh lại phụ vào trong tiểu thuyết cả lời phê bình của tiên sinh về thái độ của những nhà tiểu thuyết đó đối với những tác phẩm của họ nữa(1).


Nhưng chúng ta nên biết rằng, nếu đối với truyện triết lý và truyện luân lý, chủ đề đôi khi làm cho một tác phẩm tăng giá trị lên thì nhiều khi nó lại là một cái họa cho những người nào mà tài năng chưa vững và cho cả những người nào viết truyện có chủ đề mà không phải là truyện triết lý hay luân lý. Độc giả xem truyện của những người sau này viết thường không thấy thú vị: bao nhiêu phẩm tính của các vai trong truyện nhất nhất đều bị phụ thuộc vào chủ đề cả, y như ta nói “Trói voi bỏ rọ”.


Truyện của họ viết nhiều khi không còn phải là đời nữa, mà nhân vật của họ không phải là người nữa. Họ làm toán đố: muốn đến giai đoạn này thì người này phải cử động thế nào, hành vi thế nào; muốn đến cái kết quả nọ, thì người kia phải nói ra sao, người khác phải nghĩ ra sao. Nhân vật của họ thành giả dối, thành ra bù nhìn, hoạt động dưới quyền điều khiển ngón tay của họ. Một nhà văn có thực tài và hết lòng tưng tiu chủ đề của mình thường thường làm những cái toán đố đó một cách dễ dãi, mà truyện họ viết không tức bực, khó khăn, vơ váo, và dù là họ có bị chi phối bởi chủ đề đi nữa thì nhân vật của họ tạo ra cũng vẫn có sống, vẫn cứ đủ tinh thần, vẫn cứ tự nhiên. Đó là trường hợp Tiên Điền Nguyễn Du, tác giả Đoạn trường tân thanh vậy. Truyện của cụ viết có chủ đề rõ rệt, mà không ai thấy qua một đoạn nào bị câu thúc vì chủ đề hết cả. Người đọc truyện từ đoạn Kiều đi thanh minh cho đến đoạn Kiều trầm mình sông Tiền Đường, quên hẳn đó là một truyện có chủ đề và ngỡ rằng mình đương xem tiểu thuyết của đời thực, mà tác giả đứng địa vị khách quan kể lại, không làm luân lý mà cũng không triết lý. Bao nhiêu nhân vật trong truyện: Kim Trọng, Kiều, Thúy Vân, Thúc Sinh, Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Hoạn Thư - nhất là Hoạn Thư và Sở Khanh - đều sống cả, nghĩa là không giả dối, đều phóng khoáng tự do, chứ không bị bắt vào một khuôn phép nào nhất định.


Đã đành Nguyễn Du là một người có thiên tài lỗi lạc, muốn điều khiển ý nghĩ và cây bút theo sở thích thế nào cũng được. Nhưng một người như thế, họa hoằn mới có, còn những văn nhân không làm chủ được khối óc và cây bút thì bao giờ cũng nhiều hơn. Bởi vậy, những truyện bị chủ đề làm hại tất cả tinh thần tác phẩm, xưa và nay, vẫn đầy rẫy trong rừng văn. Cái gì cũng muốn để bày tỏ một cái gì, cái gì cũng muốn vơ vào một kết quả gì, cái gì cũng muốn thu hẹp vào trong khuôn khổ, thành thử ra sự thực bị thương tổn, nhân vật bị đè nén, phẩm tính bị trói buộc.


Thật cũng là đáng tiếc.


(còn tiếp)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








(1) J’appelle sujet un évènement historique ou légendaire, une idée philosophique, un argument moral, parfois même une combinaison d’eléments anecdotiques susceptibles de servir de fondement ou de ressort à une oeuvre d’art. Comme le mot l’indique, le sujet est donc, bien exactement, ce qui git sous les apparences, la réalité essentielle qui détermine et coordonne les aspects.


(Georges Dubamel - Confidences d’auteurs - Conférence du 20 Mars 1936).




(1) Xem lời chú thích ở chương III.




(1) Trong một số đoạn Vũ Bằng trích dẫn Kiều, chúng tôi có sửa lại đôi chỗ theo bản Truyện Kiều do Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp ấn hành năm 1976 - (NBS).




(1) Visages du Roman par Marcel Arland - La France de l’esprit, 1943.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
Sở Cuồng Lê Dư – học giả tiên phong trong việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Nhật Bản - Đoàn Lê Giang 21.10.2017
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
xem thêm »