tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19994649
30.09.2011
Vũ Bằng
Tưởng nhớ một bậc thầy: Quan Thành Nguyễn Văn Vĩnh

Kính tặng cụ bà N. V. Vĩnh


Thân mến gửi bạn tâm giao Nguyễn Phổ


2-5-1936!


2-5-1970!


Ba mươi bốn năm đã qua rồi. Nhớ lại lúc đó hãy còn trai trẻ, tôi giúp việc cho tờ báo Trung Bắc Tân Văn - lúc ấy ông Nguyễn Văn Vĩnh đã nhường lại cho ông Nguyễn Văn Luận - tôi đương ngồi nói chuyện với hai cụ Mai Đăng Đệ và Nguyễn Đỗ Mục về hai chữ “công nhận” thì Ngọc Thỏ Dương Mầu Ngọc la lên một tiếng làm cho hết thảy mọi người có mặt trong tòa soạn lúc ấy thất thần.


Phụ trách dịch tin ARIP, Ngọc Thỏ Dương Mầu Ngọc có phận sự giở các điện tín ở khắp các nơi gửi về để đọc trước: điện tín nào liên quan đến các tỉnh thì trao cho người phụ trách tin tức các tỉnh, điện tín nào của các khâm sứ, công sứ thì trao cho ban giám đốc. Hôm ấy, Ngọc Thỏ đã nhận một điện tín thảm khốc: vị thủ lĩnh tinh thần của chúng tôi là ông Nguyễn Văn Vĩnh đã từ trần ở Tchépone (Lào). Mới đầu, không ai tin, chạy cả lại để xem thực hư ra thế nào. Trừ cụ Dương Phượng Dực thông thạo chữ Pháp đọc bức điện tín dễ dàng, các cụ nhà nho như: Sở Bảo, Hoàng Tăng Bí, Mai Đăng Đệ, Nguyễn Đỗ Mục võ vẽ chữ Pháp cũng cố đánh vần từng chữ xem có thật đúng hay Dương Mầu Ngọc đọc lầm. Đến khi hai năm đã rõ mười rồi, cụ Nguyễn Đỗ Mục bưng mặt khóc. Khóc cũng như cười là cái bịnh hay lây, bao nhiêu người ngồi đấy đều chảy nước mắt vì ai nấy đều cảm thấy như chính mình mất một người thân thích, một cái đầu, một hiền nhân quân tử mà hết thảy anh em làm việc không ít thì nhiều đều đã được thọ ơn và cảm phục những đức tính ít thấy trong người khác…


Nhưng Nguyễn Văn Vĩnh chỉ là một người thường


Đến lúc tin ấy lan ra ngoài, chúng tôi cảm thấy rõ rệt cái tang đó không phải là cái tang riêng của gia đình họ Nguyễn hay là của Đông Dương Tạp Chí, Trung Bắc Tân Văn, An Nam Nouveau, nhưng là cái tang chung cho các giới quốc dân. Linh cữu đưa về Hà Nội. Cuộc hội họp của các nhà báo bàn định về tang lễ. Việc túc trực bên linh cữu tại hội quán Tam Điểm ở gần ga Hàng Cỏ. Hai vạn người đi đưa đám. Điếu văn. Câu đối. Truy điệu. Còn nhớ ngày đó cái cảm tình của làng văn, làng báo ba kỳ đối với Nguyễn Văn Vĩnh thật là đôn hậu, sự thương nhớ của quốc dân thật là chan chứa; già có, trẻ có, không quản đường xa trời nắng thành tâm đưa Nguyễn Văn Vĩnh về nơi yên nghỉ cuối cùng. Thật là một cái tang lớn, giản dị mà trọng thể, ít thấy trên đất Đông Dương vậy.


Năm tháng sau, người ta vẫn nói đến đám tang này, không những vì làng báo làng văn luận bàn nhiều mà vì ai ai cũng thấy rằng, với cái tài hoa đó, một cái gì lớn lao lắm và quý báu lắm vừa tắt, không còn tìm đâu ra được nữa.


Ấy vậy mà cái người yêu mến, thương tiếc đó không phải đã xướng xuất ra những tư tưởng khả dĩ làm thay đổi cách cảm xúc và nghĩ ngợi của một thế kỷ hay của cả một dân tộc. Cái mà ông đứng làm tiêu biểu một cách rõ rệt, đó là một phương pháp; mà phương pháp đó cũng không phải ông tạo ra đâu; nhưng chính là do sự kết hợp của nhiều đức tính thượng đẳng và bác tạp; đồng thời, ông lại còn đem khuếch trương phương pháp đó ra làm cho nó hoàn bị, luôn luôn có những kết quả mới mẻ; ông đem cá tính của ông hòa trộn vào phương pháp đó và truyền cho nó một vẻ đẹp lạ lùng.


Sự hòa hợp thân mật và việc đem ứng dụng phương pháp đó - phương pháp truyền bá chữ quốc ngữ và mang cái tinh thần của người Việt Nam cho người Pháp coi và mang cái tinh thần Pháp cho người Việt Nam biết - đã làm cho Nguyễn Văn Vĩnh có một công lao đặc biệt.


Bổn phận những nhà văn, nhà báo đi bước sau này là phải làm thế nào trình bày ra ánh sáng phương pháp đó, cách làm việc đó, công cuộc đó. Ba mươi tư năm qua, đã có biết bao nhiêu người mang Nguyễn Văn Vĩnh ra khảo luận. Có người, không hiểu cố ý hay vô tình, gác hẳn cái đời viết báo ba mươi năm của ông ra để nhất định nhận thức với mình rằng ông chỉ là một nhà văn, và họ - trong số đó có ông Phạm Quỳnh - họ ngây thơ phê bình từng chữ của một trong số mấy mươi vạn bài văn ông đã viết. Có người quên hẳn cả cuộc đời chính trị sôi nổi của ông, bảo ông là một “nhà buôn, óc quen tính sự lỗ, lời, nghĩ chuyện ăn thua”. Có người cho ông là một người làm việc “đời ông không có cái thi vị đủ làm cho ta say mê hay có phong độ cho ta cảm phục”. Lại có người trách ông “mới” quá, bạo quá và hỏi rằng có phải “cái chương trình trực trị của ông chỉ có những người biết đọc văn Tây mới đủ tài thưởng thức”, nên ông đã bỏ báo quốc văn để chủ trương báo chữ Tây. Trái lại, lại có người cho rằng ông bảo thủ một cách sai lầm “chẳng những dung túng cho những tệ tục dị đoan mà lại còn lợi dụng cái mê tín của quốc dân là khác.


Những lời bình luận về Nguyễn Văn Vĩnh thật sôi nổi và bác tạp; đúng cũng có nhiều, nhưng sai cũng không phải ít. Bây giờ Nguyễn Văn Vĩnh đã là người thiên cổ rồi, tên đã vào lịch sử; luận bàn là quyền của quốc dân, khen, chê là điều mà ai cũng được phép làm; miễn là đừng để cho người dưới chín suối phải tủi thân hay tức bực vì bị người ta hiểu lầm.


Thực chất Nguyễn Văn Vĩnh


Vậy, Nguyễn Văn Vĩnh là người như thế nào? Nhân Văn Học ra số này để kỷ niệm ông, thiết tưởng chúng ta cũng nên tìm biết một lần nữa “Nguyễn Văn Vĩnh” thực ra thế nào. Có biết cái đời thực của ông, cách sống của ông và tất cả sự gắng sức bất tuyệt trong suốt một đời ông, ta mới có thể hiểu rõ được ý nghĩa của những công cuộc ông làm, đãn hậu mới thể phê bình một cách thấu triệt đến sự nghiệp của ông về phương diện văn chương, xã hội, tư tưởng, chánh trị cũng như về báo chí.


Đó là điều mà chúng tôi ước mong được thấy, nhưng vì mãi không thấy ai làm nên hôm nay thử mạo muội làm xem sao. Lấy tư cách là một ký giả đã từng được gần ông, giúp việc một cách hèn mọn trong một tờ báo mà ông là người sáng lập, lại là bạn của các con trai ông, cùng học một trường với con gái lớn ông là cô Nội, chúng tôi không hề có ý đem ca tụng một người mà chúng tôi kính trọng tin yêu, mà thực quả là chỉ muốn nêu Nguyễn Văn Vĩnh lên, một người theo đúng như ông, và luôn đó nói về những ý nghĩ của ông, hoài bão của ông để mọi người cùng rõ.


Biết đâu vì thế mà những nhà bác học từng bình luận về Nguyễn Văn Vĩnh sau này, chẳng tìm được những ánh sáng mới hơn, có những tìm tòi và kết quả xác thực hơn! Nếu nhân đó mà những bạn thanh niên, tin ở chủ nghĩa trực trị của ông, soi tấm gương cần lao và nhẫn nại đó tìm được ra những điều mới lạ hợp với chế độ tự do độc lập bây giờ, hay nhân đấy có những phát minh mới lạ về nền dân chủ, âu cũng là một việc có ích lợi không phải nhỏ.


Một chút ít tiểu sử


Nguyễn Văn Vĩnh sinh ở làng Phượng Vũ, tổng Phượng Dực, phủ Thường Tín (tỉnh Hà Đông) ngày 30 tháng 4 năm Nhâm Ngọ, tức là năm thứ ba mươi nhăm triều Tự Đức tây lịch 15 tháng 6 năm 1882.


Gia đình ông không lấy gì làm sung túc. Mới lọt lòng ra đời, đã phải trông thấy cái cảnh loạn ly của nước nhà và những cuộc binh hỏa gây nên nền Bảo hộ ở xứ này, cho nên về sau này, có người chửi ông bán nước, ông có nói: “Tôi sanh ra đời thì nước đã mất rồi còn nước đâu mà bán?”. Vì được mắt thấy cái cảnh đau thương của đất nước như vậy, và cũng vì nhìn rõ hơn ai cái tình trạng chậm tiến của nước mình so với Âu Tây, ông chú tâm học hỏi cần cù cái văn minh Âu Mỹ. Trong khi đó, ông yên lặng sống trong một xã hội quằn quại trong thời kỳ cải cách, làm quen với những hoàn cảnh đặc biệt, những cảnh điêu tàn do khói đạn gây nên với những sự hiểu lầm “thế tất phải có” hồi bấy giờ. Bao nhiêu sự việc đó in sâu vào trong trí óc Nguyễn Văn Vĩnh và rèn cho ông một tâm hồn cứng rắn, một quả tim sôi nổi. Đầu óc ông, cũng như chân tay ông, cần phải có việc làm luôn luôn. Ông mắc cái “bệnh hoạt động” ngay từ khi còn ít tuổi. Hoạt động nhưng không nóng tính; trái lại, lại quả quyết nhẫn nại, thêm vào những tư tưởng mới cấp tiến: đó là những đặc điểm của đời ông sau này.


Ông là một trong những người Việt Nam thứ nhất được hấp thụ văn minh mới và được tiêm nhiễm văn hóa Âu Tây. Ông hấp thụ thế nào? Tiêm nhiễm ra sao? Những ông giáo nào đã vỡ lòng cho ông và những ông thầy nào đã giúp ông mở mang trí óc một cách công hiệu nhất?


Những điều đó không ai biết nổi. Chỉ biết rằng năm 1892, mới mười tuổi, cái tuổi còn ngây thơ đùa rỡn, Nguyễn Văn Vĩnh đã thi tốt nghiệp trường Thông Ngôn và đáng lẽ đậu thứ 12, nhưng vì tuổi còn non quá, nên bị đánh hỏng và phải học thêm bốn năm nữa tức là năm 1896, mới được thi tốt nghiệp. Lần này, ông đỗ đầu và được bổ ngay làm thư ký tòa sứ Lao Kay.


Xem vậy, đủ biết ông thông minh đến bực nào.


Đã thế ông lại là người hiếu học đệ nhất. Bấy giờ, chưa có thư viện, các sách Tây còn hiếm, mà ông đã mua đủ các sách báo của Pháp để xem, đọc sách, xem báo suốt ngày, ai cũng phải chịu là người hiếu học. Đến tận bây giờ những người quen thân với ông từ hồi trẻ, như cụ bác sĩ Nguyễn Bá Tụng (năm nay bảy mươi lăm tuổi) thường vẫn kể lại rằng ông ham sách còn hơn ham đàn bà. Đến lúc bắt đầu có thư viện ở Hà thành - trong số đó có “Bình dân thư viện” ở vào chỗ đường Fracis Garnier - không có một người học trò nào chăm hơn ông. Muốn đi chơi khuya đến mấy giờ sáng cũng vậy, cứ về đến nhà, nằm lên giường là ông phải đọc cuốn sách gì, nếu không không ngủ được. Đọc như thế không bao giờ chán. Đọc bất cứ cái gì rơi xuống tay. Cái học như thế cốt lấy ở bề rộng - như lời ông thường nói. Sau này ta sẽ thấy cái học đó có ích như thế nào cho cái đời làm báo của ông và ta có thể suy ra tự bây giờ Nguyễn Văn Vĩnh, lúc bắt đầu xếp dọn cuộc đời mình, không hề có ý muốn làm một người thợ văn “gọt” chữ, hay đọc sách thấy tư tưởng đẹp, câu văn hay nào thì ghi lấy hầu có đem ra dùng sau này để “biên khảo” theo lối nhà… học giả.


Nguyễn Văn Vĩnh học một cái học phổ thông, cái học rất cần thiết cho một nhà làm báo. Không một vấn đề gì ông không biết, không một vấn đề gì, dù nhỏ mọn đến đâu, mà ông không viết được thành một bài duyên dáng, thâm trầm và ý vị. Tôi sẽ giới thiệu mấy mẩu văn, hoặc viết bằng quốc âm hoặc viết bằng Pháp văn, ở dưới đây. Đó là cuộc đời của ông về sau này. Ở đây, ta mới biết ông hồi mới mười bốn, mười lăm tuổi.


Năm 1897, ông được đổi về tòa sứ Kiến An - khi đó còn đặt tại Hải Phòng. Một cái cảng Hải Phòng rất mới, hỗn tạp và đô hội, mỗi chiều thứ bảy lại có những ông Tây vác súng - vì có nhiều trộm cướp - vác súng, chèo thuyền đi cực kỳ vất vả ra Đồ Sơn… nghỉ mát!


Trong tập nhật ký của ông - do anh Nguyễn Phổ trao cho tôi trước khi ký Hiệp định Genève - Nguyễn Văn Vĩnh không nói gì mấy về cách sinh sống và cách nghỉ ngơi của ông khi tòng sự tại Kiến An; chỉ biết rằng ở đây, ông có dịp được giao thiệp với người ngoại quốc rất nhiều nên bắt đầu học tiếng Tàu và tiếng Anh.


Xướng xuất lên phong trào diễn thuyết


Ông là người xướng xuất lên phong trào diễn thuyết, phong trào viết báo Nam, báo Pháp, phong trào phổ biến chữ quốc ngữ và truyền bá văn minh Âu Tây, phong trào đem cái hay cái đẹp của văn minh, văn hóa Việt Nam, diễn ra cho người Tây hiểu biết, phong trào mở hội giúp những người thanh niên đi Tây du học, phong trào Phật giáo, phong trào thể thao, v.v… nhất nhất bao nhiêu thứ đó, ông cũng là người chủ xướng hay ít ra cũng là một người lính tiền phong hăng hái.


Một cuộc đời lộng lẫy mà nhiêu khê như thế tất nhiên phải ảnh hưởng đến thân thế và sự nghiệp của ông. Muốn xét ông mà xét theo lối đại thể rồi do đó tìm những lời kết luận thì rất khó. Cái thân thế đó, cái sự nghiệp đó cần phải xét theo nhiều phương diện khác nhau.


Lời nói và hành động.


Ở tòa sứ Kiến An, Nguyễn Văn Vĩnh sang tòa sứ Bắc Ninh rồi về tòa đốc lý Hà Nội năm 1904. Sang đầu năm 1905, ông thôi việc, về sống một cách gần như yên vui với gia đình, với bạn bè mà ông khéo chọn lựa, với sách vở mà lúc nào ông cũng coi như những thân hữu không bao giờ phụ bạc.


Ông càng ra sức học hành, nhưng không chịu chỉ học cho mình mà thôi, học một cách lặng lẽ và tìm tòi những sự thật, những mới lạ để một mình mình biết. Không, hoạt động, ông bao giờ cũng vẫn là người hoạt động. Cả cái học của ông, ông cũng muốn cho nó hoạt động nữa, nên ông đã từng có mặt luôn luôn ở trong những cuộc hội họp của hai trường Trí Tri và Đông Kinh nghĩa thục. Ở đó, ông đã có bao nhiêu dịp cho đồng bào ta được thấy cái tài cao học rộng của ông, ông dùng lời nói hùng hồn, những dáng điệu chân thật, tự nhiên và duyên dáng của ông để làm cho người ta vui vẻ và phấn khởi. Bởi ông vạm vỡ, có sức lại lanh lẹn nữa, nên có khi suốt buổi họp, ông nói thao thao bất tuyệt và có khi không ngại tranh luận một lúc với hai ba người.


Ai nói đứng đắn, ông trả lời đứng đắn. Ai cười cợt, ông biến báo và có ngay những lời nói ngộ nghĩnh và châm chọc. Những học trò cũ trường Trí Tri, đến giờ học có ông dạy - cụ Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố lúc ấy cũng dạy buổi tối ngoài giờ làm việc ban ngày ở trường Viễn Đông Bác Cổ - đều vui vẻ như được hội diện với một người anh thân mật.


Thoạt đầu, ai cũng tưởng ông là một người bộp chộp, họ ngỡ rằng có hỏi ông điều gì ông giải nghĩa qua loa lúc đó rồi thì thôi. Thế như mà không. Có một câu gì khó, ai có một trường hợp gì nan giải mà hỏi ông, ông biên vào trong trí và về suy nghĩ tìm tòi kỳ cho được một câu trả lời xác thực. Thế rồi, sau đó một vài hôm, dăm bảy bữa, giữa lúc không ai ngờ nhất thì người hỏi nhận được của ông một bức thư chứa đựng hoặc phương pháp giải quyết cảnh ngộ, hoặc diễn dịch một câu văn khó hiểu, hoặc một chữ Nam dùng để giải cho thật đúng một chữ trong văn Pháp.


Trong những bức thư đó, trong những buổi dạy học đó, hay những cuộc tranh luận đó, Nguyễn Văn Vĩnh không làm vẻ hùng hồn. Ông nói dễ dàng và tìm những chữ thông thường để diễn tả một cách khoa học những điều rất khó nói. Lời ông không chậm mà cũng chẳng mau, chỉ vừa vừa, nhưng khi nào đến đoạn chính yếu của vấn đề thì giọng nói cũng như lời văn của ông cao lớn lên, to sang sảng, sôi nổi nhưng đầm ấm và mau hơn một chút.


Ai đã biết ông tất còn nhớ cái giọng nói ầm ầm, rõ ràng từng chữ của ông. Nguyễn Văn Vĩnh đọc một câu thơ hay kể một chuyện cổ tích cũng rành rọt như khi ông chuyện trò, cười cợt lúc đánh tổ tôm, tài bàn hay khuyên bảo con cái trong gia đình. Giọng ông vui mà hơi có vẻ nhạo đời, thỉnh thoảng lại sâu cay, làm cho người nghe, nếu có quên, cũng còn phải là lâu lắm. Nhất là ở những nơi công cộng thì ông nói lại càng tài lắm. Lời văn ông dễ dàng, ý tưởng ông biến hóa, nhưng không bao giờ tỏ ra rằng ông đã sắp đặt từ trước hay học thuộc lòng sẵn từ nhà. Những chữ, những câu của ông hình như nở ra một cách tự nhiên từ một ý tưởng vững chắc có tư tưởng, nở ra một cách bất thình lình, không ai ngờ, làm cho câu chuyện của ông càng có vẻ đậm đà, thú vị.


Nguyễn Văn Vĩnh, nhà viết báo


Thấy hoạt động bằng dạy học, bằng diễn thuyết chưa đủ, Nguyễn Văn Vĩnh dùng báo để lèo cái xe tư tưởng. Cái thích làm báo, lấy báo chí để truyền bá tư tưởng mới trong dân gian, Nguyễn Văn Vĩnh ôm ấp từ nửa cuối năm 1906 lúc ông đi Pháp (vì ông thôi việc đầu năm 1906, đến giữa năm thì đi Pháp học thêm và nhân đó, dự đấu xảo Mạc Xây). Chứng tỏ cho cái ham thích đó là bức thư dịch đăng ở đây do chính ông viết cho một người anh em tên là Thọ.


2 Juin 1906. Mấy hôm nay tôi đã có thì giờ dạo phố. Sở dĩ dám đi chơi, ấy là vì tôi đã bận quần áo tây. Buổi chiều ngồi ở hàng cà phê Camebere (phố chính Mạc Xây) nhìn cái đám người đi đi lại lại, chen lấn nhau ở giữa đám xe pháo và tàu bè, thú lắm… Ở đây, vài ông trưởng giả nói chuyện về tiền nong, đánh bạc được, kia một bọn vương tôn công tử ăn mặc diêm dúa, đầu đội mũ panama bẻ cụp xuống cho ánh điện khỏi làm lóa mắt. Đó là những cậu con nhà giàu, ăn bám vào bố mẹ, quanh năm suốt tháng chỉ sống ở cao lâu nhà hát, hoặc những anh đại lãn suốt ngày đêm quanh quẩn ở trong phòng để tìm kế sinh nhai và cờ bạc. Gần đám đó, nhưng ở trong những chỗ tranh tối tranh sáng, bọn gái non đi lại nhởn nha, cái hạng gái mà tôi nói với anh trong thư trước. Giữa đám đông trộn lẫn hàng trăm màu sắc đó, hàng ngàn thứ tiếng đó, ta nghe thấy bọn trẻ bán báo rao rầm trời “Le Matin”, “Le journal”, “Marseille Républicaine”, “Le Radical”, “Gomne russe”, v.v… làm cho lại nhớ đến những tiếng rao “ngầu nhục phở”, “Nem Sài Gòn” và “Mía mua!” ở nước ta!…


Nguyễn Văn Vĩnh bắt đầu nghĩ đến chuyện làm báo từ lúc đó và cũng từ lúc đó ông còn có ý du nhập kịch, một bộ môn khác của văn hóa Âu Tây vào nước ta.


27 Juin 1906. Đêm qua Đ. T. Kim và tôi đi xem diễn kịch “Le Cid” ở nhà hát lớn, đi xem không mất tiền, vì có ông Vierge mời.


Sướng quá, nhất là tại lần đầu tôi được đi xem diễn một tích hát cổ điển mà chúng ta chỉ mới được đọc thôi. Cách họ ngâm thơ làm cho ta hiểu thêm cái hay của văn chương, cái cao thượng của tình cảm thường thường người ta không được thấy rõ lắm trong khi đọc sách.


Duy có một điều đáng tiếc là Đ. và T. hình như không hiểu lắm nên dửng dưng coi thường. Nhưng anh Đ. dù không hiểu cũng làm ra cách hiểu, chứ đến ông T., nhà họa sĩ, thì dửng dưng đối với những cái đẹp khó trông thấy đó: ông quan niệm cái đẹp một cách khác chăng?


Lão T. của chúng ta, thấy tôi vỗ tay tán thưởng thì lại cho là bố vờ, là giả dối - và ông nói to lên với tôi như thế.


Cảm tưởng: người mình bướng quá. Muốn làm cho họ thấy sự tiến bộ, thật là khó quá. Chúng ta không bao giờ chịu nhận chúng ta thua kém các dân tộc khác. Vả lại, nhận tội lỗi của mình, có phải là một sự nhục nhã gì cho cam! Trong cõi đời này, ai lại chẳng có tính xấu? Người nào mà đã trông thấy nhiều điều lầm lỗi của mình, người ấy gần đi đến chỗ hoàn toàn. Hình như đức Khổng đã dạy ta như thế!!!


Đối với họ, đem giấu những nết xấu của mình đi, rồi lấy đó làm tính tốt, thế là yêu nước, thế là làm vẻ vang cho nòi giống đó!


Chao ôi, nhớ lại những tư tưởng đó, tôi lại càng cảm phục ông Nguyễn Hữu Thu. Ừ thật, những hạng “to đầu” ấy thì không thể làm gì được thật. Muốn có một lớp người khá, muốn có một lớp người hướng dẫn quốc dân vào con đường khoa học, ta phải mong ở lớp người đến sau, ở những bọn thiếu niên bây giờ. Óc họ chưa bị những thành kiến cổ hủ đồi bại ăn sâu đục thủng. Ngồi mà nghĩ rằng tôi sẽ là người đầu tiên để làm cái công việc đó để mà gây lấy một tương lai tốt đẹp đó, tôi sung sướng vô cùng. Cha mẹ, anh em, vợ con, tất cả đều phải nhòa trước tư tưởng đó để nhường chỗ cho một lòng vui thích êm ái nhất…


Đọc hai thí dụ thư tín trên đây, ta không khỏi ngạc nhiên nhận thấy hai điều này:


1) Văn của Nguyễn Văn Vĩnh viết, với cách trình bày, bố cục từ năm 1906 không khác gì văn ta viết năm 1970.


2) Tư tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh về văn minh, tiến bộ không gì khác tư tưởng của những người có học và suy tưởng năm 1970.


Riêng về nghề báo, sự mê say của Nguyễn Văn Vĩnh còn bàng bạc trong nhiều bức thư khác của Nguyễn Văn Vĩnh viết cho anh là Nguyễn Văn Thọ và bạn là Phạm Duy Tốn (tức là thân phụ thạc sĩ Phạm Duy Khiêm và nhạc sĩ Phạm Duy bây giờ). Không có mấy lá thư mà Nguyễn Văn Vĩnh không viết lên cảm tưởng của ông sau khi đọc bài báo nào hay.


Ông mua năm nhiều thứ báo, ngay khi còn ở nước nhà. Sang Pháp, ông đọc hàng ngày báo Humanité, Journal Matin, đọc không phân biệt những chủ nghĩa trái ngược nhau, có lẽ bởi vì ông muốn biết những chiến sĩ của các chánh đảng lớn bên Pháp làm báo khác nhau thế nào, cãi nhau về lý thuyết ra sao, mỗi đảng có cái hay ra làm sao, người thủ cựu viết bênh chủ nghĩa của mình ra thế nào, kẻ quá khích hô hào quần chúng ra sao.


Những báo đó, xem xong ông lại gửi về cho ông Thọ và ông Tốn và hai ông (lúc ấy Bắc Việt mới có mấy tờ báo Pháp như Argus, Avenir du Tonkin).


“Tôi vừa đọc thấy ở trong báo Avenir du Tonkin câu chuyện tình cảm động của Thọ Bình. Dù người phóng viên viết tin ấy có ý bênh Bình, nhưng tự tôi ở bên này cũng đoán được ra hết cả đầu đuôi câu chuyện”.


(Thư của Vĩnh gửi cho Thọ từ Marseille, 18-Aout 1906)


“Tuần này tôi sẽ gửi đều báo “Matin” về cho anh. Anh đọc đi và anh muốn đưa cho ai xem thì đưa”.


(Thư ở Marseille gửi cho Thọ, 17-Aout 1906)


“Những việc xảy ra ít lâu nay trong hoàn cầu không thể không làm cho bất cứ người nào ngạc nhiên. Bên Ý, núi Vesuve phun lửa. Bên Mỹ, các thiên tai San Francisco. Ở Pháp và ở Đức, đình công và đình công.


Ngày 1er Mai (1-5) mấy lâu nay được coi như là ngày cách mạng xã hội. Tôi muốn tả kỹ để cho anh thấy những việc gì đã xảy ra… Cùng với thư này tôi gửi luôn cho anh xem cho biết kỹ cái tình hình quốc tế ra sao vậy…


(Thư cho Phạm Duy Tốn, 2 Mai 1906)


Từ Revue de Paris đến Trung Bắc Tân Văn


Trong khi đó, Nguyễn Văn Vĩnh hàng tháng có bài đăng ở trên báo Revue de Paris, phần nhiều bài là để biểu dương cho thế giới thấy nền tiểu công nghệ và quan niệm về mỹ thuật của người Việt Nam. Những bài đó, ông gửi về cho bạn coi và không quên giục bạn hữu gửi những số báo có bài của họ sang cho ông coi. Họ bình phẩm tư tưởng của nhau và rất thiết tha để ý đến những tiến bộ của tinh thần và văn chương.


“Tôi đọc thấy trong Avenir du Tonkin một bản dịch bài A tế Á năm châu là bực nhứt của Đ.V.S. Có phải là bạn Đào Văn Sử của chúng ta không?


Bài cuối cùng của Hàn Thái Dương về những ông quan Pháp có vẻ hay hơn những bài trước. Còn về tập nhật ký của tôi, anh bảo rằng có người muốn sưu tập những thư từ của tôi để đăng tải lên mặt báo. Đừng, xin anh. Tôi thấy rằng mỗi ngày ý kiến của tôi mỗi thay đổi, nếu đăng lên bây giờ tôi sợ sau này chính tôi lại phản đối tôi”.


Nguyễn Văn Vĩnh thiết tha về nghề báo ngay từ lúc bấy giờ, nhưng ông chín lắm và dù có nhiều bạn bè thúc giục ông cũng vẫn chưa muốn chuyên tâm viết:


“Ở đây, tôi có rất nhiều dịp tốt để viết báo, nhưng tôi không làm. Sở dĩ như thế là ví tự bây giờ cho đến khi đạt được mục đích, tôi muốn hoàn toàn là vô danh, không ai biết cho tôi là ai cả. Cái mục đích ấy, tôi đã nói với anh nhiều rồi”.


Trong khi đó, Nguyễn Văn Vĩnh vẫn không ngớt đọc báo và dù công việc về đấu xảo Mạc Xây cực kỳ bận rộn, ông cũng vẫn có đủ thời giờ đi thăm những nhà báo Pháp và bài tường thuật các cuộc đi thăm đó gửi về cho Phạm Duy Tốn đã cho ta thấy rằng chưa bước chân hẳn vào nghề, ông đã say mê nghề như thế nào.


“Cuộc đi thăm lý thú nhất của tôi trong đấu xảo là cuộc đi thăm gian báo “Petit Marseillais”. Tòa báo đó có những tài liệu xác thực nhất, lý thú nhất về nghề in từ khi nghề đó bắt đầu phát triển - hay nói cho đúng từ khi nghề đó bắt đầu được nhập cảng vào Âu châu. Một cái makét về Guttenberg đứng trong cái nhà in thứ nhất của ông ta. Trong tủ kính, bày những sách vở và tài liệu linh tinh in từ ngày mới có nghề in đến bây giờ. Khách đến xem có thể theo dò từng bước lịch trình tiến hóa của nghề in, của cái nghề “nhân những bản thảo lên thành ngàn thành vạn”.


Trong một buồng riêng, có bày những máy móc tồi tàn nói cho ta cái quan niệm của sự cố gắng khổng lồ trong ba thế kỷ. Ai đã từng được trông thấy một người thợ xếp chữ, tìm từng chữ một xếp với nhau, buộc thành bát rồi cho vào khuôn, ai đã từng thấy thế mà cho nhìn vào chỗ này thì sẽ phải ngạc nhiên vô cùng. Không cần xếp chữ, không cần buộc, không cần lên khuôn gì cả. Một người chỉ cần điều khiển một cái cần như kiểu đánh máy chữ, trong vài tiếng đồng hồ là có một tờ báo in xong. Đó là máy Linotype. Máy Linotype khác máy đánh chữ ở chỗ này: đánh máy chữ thì những cái cần có chữ đập vào cái băng, chữ hằn vào băng mực, rồi in chữ lên trên mặt giấy.


Ở cái máy Linotype, những cái cần nâng lên hạ xuống và làm cho những khuôn chữ ở trong những cái ô rơi vào trong một cái rãnh. Cái rãnh ấy dài rộng theo chiều mỗi dòng chữ, khi nào cái rãnh có nhiều khuôn chữ ấy xếp thành hàng thẳng trong cái rãnh. Trước cái rãnh có lỗ hổng để cho chì chảy ở trong bánh xe. Rồi chì lỏng ấy ôm lấy những khuôn. Một cái khuôn đặc rơi ở trong rãnh ra, vào trong ngăn. Thế là dòng chữ thứ hai đã đứng xếp hàng ở cạnh dòng chữ thứ nhất, rồi dòng thứ ba, dòng thứ tư… cho đến khi thành một cái báo. Kèm thư này, tôi gởi về cho anh mẫu mấy chữ in bằng máy Linotype.


Máy này in chóng lắm, y như ta đánh máy. Có chậm dăm ba cái tích tắc mỗi dòng là vì cái công việc chì chảy mà tôi gửi  là “coulage”. Tôi còn có dịp nói với anh về cái máy in báo xong lại gấp luôn báo như tờ “Petit Marseillais”.


Nhờ được đi Pháp chuyến đó, Nguyễn Văn Vĩnh nuôi cái mộng làm báo lớn (vì trước đó báo chí ta chưa phát triển) và lần về nước ông đã thực thi ý định, bắt đầu bằng tờ Trung Bắc Tân Văn và nhà in Trung Bắc (đặt trụ sở ở đầu đường Hàng Bông, trông sang Đường Thành, chùa Kim Cổ). Nhà in Trung Bắc là nhà in lớn nhứt lúc bấy giờ ở Bắc Việt, còn tờ Trung Bắc Tân Văn là tờ báo thí nghiệm đầu tiên của ông Vĩnh với hy vọng rút được kết luận rồi ông sẽ làm một “nền” báo rất lớn với đủ máy móc tối tân, xuất bản báo chí như ở Anh, ở Pháp ra hàng mươi vạn tờ mỗi ngày, xây lại nhà in và nhà báo thành buyn đinh mười lăm từng, nhất nhất cái gì cũng bằng máy, đi trước Tàu và Nhật để cướp cho đất nước Việt Nam cái chức vị “anh cả” ở Á châu.


Bắt đầu thực hiện mưu đồ ấy với tờ Trung Bắc Tân Văn, Nguyễn Văn Vĩnh tập hợp tất cả những nhà văn tên tuổi thời đó lại: làm việc nhiều, làm việc ít hay làm việc gì, không kỳ quản, đồng thời gọi công ty, kêu hùn cổ phần mua nhiều máy móc tương đối là tối tân của Pháp lúc bấy giờ để làm một cái nhà in lớn in báo đẹp rồi dùng đó làm một điểm tựa để nhảy những “bước vọt” theo chương trình hoạch định là “làm một cái thành phố”, ra báo “dây chuyền” có đủ thợ cạo, tiệm ăn, tiệm hớt tóc, nhà tắm hơi, đài bá âm, đài thâu tin tức quốc tế, v.v… Nhưng Nguyễn Văn Vĩnh, con người nuôi nhiều mộng, đẻ ra nhiều sáng kiến đã vấp phải hai trở lực: tiền và nhân sự…


Về tiền, muốn thực hành một ý định vĩ đại như thế, đừng nói xa xôi, ngay ngân khoản của chính phủ bảo hộ lúc ấy cũng không dễ gì đài thọ. Ấy là nói thí dụ họ có nhiệt tâm ủng hộ chương trình của ông. Sự thật đâu có dễ dàng như thế.


Chính phủ Pháp thực thi chính sách ngu dân bao giờ lại có muốn con người Việt Nam khuếch trương tiến bộ như vậy. Đã thế họ lúc nào cũng nơm nớp lo sợ nhóm ông Nguyễn Văn Vĩnh theo sát nút phong trào Duy Tân, một mặt phát triển phong trào văn minh tiến bộ, một mặt lo ngấm ngầm làm loạn để lật đổ chế độ cai trị của người Pháp lúc bấy giờ, thành ra dù họ không cản nhưng cũng tìm đủ cách để cho ông Vĩnh không làm được công cuộc gì đáng kể.


Về nhân sự, Nguyễn Văn Vĩnh có nhiều bạn và lúc nào cũng chiêu hiền đãi sĩ, nhưng số bạn tốt bao giờ chẳng hiếm mà số bạn xấu bao giờ lại chẳng nhiều… Ở trường hợp Nguyễn Văn Vĩnh cư xử ra người lớn, lúc nào cũng hào hoa phong nhã, quân tử “nhịn miệng thết bạn”, biết là bạn lầm mà lúc nào cũng sẵn sàng khoan dung nên số bạn xấu manh tâm hại ông tương đối ít, nhưng Nguyễn Văn Vĩnh bị một cái đau khổ gớm ghê là trong số ngàn vạn bạn bè và người ủng hộ, không có mấy người có khả năng và ý chí đẩy mạnh công tác đến chỗ thành công hay ít ra gom công góp sức một cách nhiệt tình với ông để vượt những khó khăn cản trở. Ấy là chưa kể còn có những người không hiểu cố ý hay vô tình phá hoại, những người lợi dụng cái lòng quân tử, tin người của ông Vĩnh để vơ vét làm giàu cho riêng mình, những nhân viên làm việc tắc trách, ỷ lại ông Vĩnh xoay xở được nhiều tiền, bỏ bê công việc “sống chết mặc bay”. Thành thử ra ông Nguyễn Văn Vĩnh sống giữa bạn bè đông đảo mà hoạt động “đơn thương độc mã”, có tiền thì tiêu xả láng mà hết tiền thì chỉ có một mình ông xoay xở. Nói “một mình xoay xở”, có lẽ không đúng hẳn. Ở đời ai mà lại không có gặp người tốt giúp đỡ mình, hoặc cho vay cho mượn, hoặc an ủi khuyến khích, hoặc bầu chủ đi vay, nhưng dường như trong đời Nguyễn Văn Vĩnh tiên sinh những may mắn như thế ít khi xảy tới, trái lại số người ăn bám thì nhiều, hay những kẻ tưởng là ông “phởn” chỉ biết tiêu chớ không biết thương ông. Tôi muốn nói tới một số ít bạn bè “gỡ gạc”, “bòn rút” ông và nhất là một số người thân của ông cho là ông “hái ra tiền” ăn xài hoang phí như Tây con, tiêu không biết tiếc tay và không hề nghĩ đến ông một mặt chiến đấu “chống các kỳ đà cản mũi”, một mặt phục vụ cho lý tưởng cao cả của chính mình thờ phụng, lại mặt khác lo tiền để bù đắp vào những thiếu hụt lỗ lã trong công việc làm ăn, đồng thời lại phải lo chu cấp cho một gia đình mà phần lớn tiêu tiền “kỹ” lắm.


Vốn là người lì, Nguyễn Văn Vĩnh ít khi phàn nàn hay bày tỏ nỗi lo âu với bất cứ ai - trừ một vài người bạn rất thân thiết như Phạm Duy Tốn, Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc và bác sĩ Nguyễn Bá Tụng là người chia sẻ nỗi đau buồn nhiều nhất với ông trong khi gặp những bước đường không may, ngoài ra ông có tiền hay hết tiền không mấy ai biết rõ, nhất là các con trai. Là vì dù không có tiền mà con trai lớn của ông - trên Nguyễn Giang - có viết thư về giục gửi tiền, ông cũng cứ đi vay đi mượn gửi cho con và không phàn nàn một câu nào hết. Bè bạn hỏi vay, lúc nào ông cũng đi giựt để cho bè bạn mượn không nhiều thì ít. Hơn thế nữa, ông là một thứ “cà cuống” chết đến đít còn cay, bao giờ cũng chủ trương “người ta chết đuối ở đại dương chớ không chết đuối trên cạn” nên coi dăm bảy ngàn hồi đó như vài ba chục - nghĩa là không mùi mèn gì hết.


Là vì ông là một thứ người “trông lớn”, có thêm vài ba vạn không đi đến đâu hết, phải cần có vài bốn triệu (tức là có hàng trăm nghìn tỷ bây giờ) mới bõ bèn. Do đó ông coi bạc ngàn không ra trò gì cả, mà chủ nhắm làm những vố kiếm ra thật nhiều, rất nhiều để thực hành kế hoạch theo lý tưởng đã nuôi dưỡng từ lâu. Cũng như Balzac, Dostoievsky, ông sống vội một cái mộng mà tự ông lấy làm thực: ngày mai ta có tiền, ngày mai ta thực hành được mộng bình sinh, ngày mai ta sẽ hết những ân oán giang hồ và biến đổi cái xã hội này thành một xã hội rất mới, rất là đứng hàng đầu châu Á.


Không có một lúc nào Nguyễn Văn Vĩnh vọng ngoại hay có mặc cảm đối với các nước Á châu tiền tiến lúc bấy giờ như Tàu hay Nhật. Ông chỉ tin ở mình, ở dân mình và không bao giờ phụ họa với một số lớn các bạn nhà ái quốc lúc bấy giờ chỉ chửi Tây và than khóc cho nỗi nhà tan nước mất.


Annam Nouveau, tờ báo đầu tiên của người Việt miền Bắc viết bằng tiếng Pháp


Là một người thực tế, Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương không đánh Pháp đuổi Pháp về nước ngay, nhưng đòi người Pháp phải công bằng thành thực giúp người Việt Nam hấp thụ văn minh Âu Mỹ và nâng đỡ người Việt để góp mặt với đời. Một khi người Việt đã tiến bộ, đã tỉnh giấc thì tự nhiên họ phải nổi dậy đòi quyền lợi làm người, và thí dụ lúc ấy Pháp có ngoan cố không chịu thì người mình cũng đủ tài, đủ học, đủ lý trí sáng suốt để đoàn kết lại đòi Pháp phải cút đi bằng cách này hay cách khác.


Chủ trương “trực trị” phát sinh từ tinh thần đó. Người ta không lấy làm lạ Nguyễn Văn Vĩnh đứng hẳn ra mặt chống chính phủ Nam triều và cực lực phản đối chủ trương lập hiến bảo hoàng của Phạm Quỳnh. Nguyễn Văn Vĩnh viết không biết bao nhiêu bài báo về vấn đề đó trên báo Trung Bắc Tân Văn, nhưng sau thấy rằng viết bằng chữ Việt để đấu tranh chưa đủ, ông thấy còn phải viết bằng chữ Pháp để cho người Pháp nói riêng và thế giới nói chung hiểu rõ chủ trương trực trị của ông trên báo Annam Nouveau.


Trước Annam Nouveau, ở Bắc đã có một vài tờ báo Pháp có người Việt Nam viết, nhưng do người Pháp chủ trương như Argus, Avenir du Tonkin, Courer de Haiphong. Tuần báo Annam Nouveau là tờ báo Pháp ngữ đầu tiên do người Việt Nam điều khiển: người ấy là Nguyễn Văn Vĩnh.


Thực ra lúc làm Annam Nouveau mà trụ sở đặt tại 3 Place Négrier Hà Nội, Nguyễn Văn Vĩnh đã lúng túng vì tiền, nhưng, như trên kia đã nói, Nguyễn Văn Vĩnh càng bí, càng liều, càng làm to. Cùng với báo này, ông mở ở dưới nhà báo một tiệm sách, trong khi đã có một tiệm sách khác của nhà in Trung Bắc ở ngã ba Kim Cổ, khoảng rẽ ra nhà thương Phủ Doãn. Tất cả những công cuộc đó làm ra “để chờ thời” nhưng thời của Nguyễn Văn Vĩnh đợi hoài đợi hủy mà vẫn không thấy tới.


Cái tài đa diện của Nguyễn Văn Vĩnh


Sống với một hoài bão lớn lao, lại mang trong mình không biết bao nhiêu lo âu sầu não, một người không phải Nguyễn Văn Vĩnh tất nhiên phải có lúc nản chí mà đi tìm nghề khác hay nhất thời tạm bỏ cuộc đấu tranh để “chờ một cơ hội khác”. Nguyễn Văn Vĩnh không bao giờ thế. Hiểu theo đúng nghĩa chữ “chiến sĩ”, tôi dám nói rằng Nguyễn Văn Vĩnh quả là một chiến sĩ trung kiên với lý tưởng, không bao giờ biết mệt, tranh đấu bằng đủ các cách, bằng chính trị, bằng cách mạng nhưng bao giờ khí giới của ông cũng chỉ là ngòi bút.


Tôi được gần ông Nguyễn Văn Vĩnh vào lúc báo Annam Nouveau đang lên mà báo Trung Bắc Tân Văn đang xuống. Hà Nội lúc bấy giờ xôn xao bàn tán Phạm Quỳnh với chủ trương lập hiến ẵm được một món tiền của Pháp và được mật thám Marty khen “tốt tốt”, nhưng đồng thời, trong dư luận cũng có người loan truyền rỉ tai là Nguyễn Văn Vĩnh đả kích triều đình và đá nhẹ Pháp chưa hẳn đã không có “tí tỉnh” nào. Dư luận xì xào như thế, tôi cứ ghi chép ra đây, thực hư thế nào không dám biết. Riêng chỉ biết rằng từ khi được gần gũi tiên sinh, Nguyễn Văn Vĩnh chỉ có vài bộ quần áo tây hoặc bằng tussor hoặc bằng kaki, một cái “cát cô lô nhần” và một cái xe “bình bịch” hiệu Terrot, mỗi khi đi thì máy nổ làm cho người hai bên hàng phố muốn mắc bịnh “thiên đầu thống”.


Lúc ấy, Nguyễn Văn Vĩnh nhường tờ Học Báo cho Lê Thăng, nhà in thuộc công ty Vĩnh Thành, còn tờ Trung Bắc Tân Văn thì sắp sang ông Nguyễn Văn Luận. Nguyễn Văn Vĩnh thu hẹp phạm vi hoạt động trong tờ Annam Nouveau. Phần thì lo nợ, phần lo giải quyết chuyện tình cảm gia đình, phần lo cho con cái tiền nong đầy đủ, phần còn lại bận viết bài cho báo Annam Nouveau chống Pháp đả Quỳnh, ông Nguyễn Văn Vĩnh chỉ ra chỉ thị đã không đủ thời gian thay, nói chi đến chuyện xem lại một bài “phông” của Hoàng Tăng Bí, Dương Bá Trạc, một truyện khôi hài cù bảy ngày không cười của Sơn Phong Bùi Đức Long hay Hif Dinhf Nguyễn Văn Tôi, hoặc một cái tin xe cán chết người “nhưng đưa vào bịnh viện nhờ bác sĩ khám xét thì không làm sao hết”.


Đến đây, tôi không thể không nhớ lại cái tài viết báo của ông Nguyễn Văn Vĩnh. Không phải nói, ai cũng biết ông Vĩnh học nhiều biết rộng, cái gì cũng biết một tí nhưng biết đủ mọi mặt, biết đủ các vấn đề. Nhưng điểm đó không phải là một điểm đặc biệt, vì dù sao trong nước cũng có nhiều người tài ba như thế!


Nhưng khác một điều là những người kia thì không ứng dụng được cái tài của mình làm lợi ích cho người khác. Đàng này, ông Vĩnh học và hành ngay. Phải nói ngay thời đó, ông đã có một ý thức về nghề báo, như chúng ta ý thức bây giờ, và những bài xã thuyết hay, ý nghĩa, được người đương thời lưu ý đều ký tên “Tân Nam Tử”.


Tuy nhiên, đặc điểm của ông Nguyễn Văn Vĩnh vẫn không phải ở chỗ đó. Hiện nay, chúng ta thấy có những tiểu thuyết gia viết năm, sáu tiểu thuyết cho năm, sáu báo khác nhau, hoặc những tay kiếm tiền “có hạng” như Kim Dung viết sáu bảy truyện “chưởng” một lúc; những người ấy, ta phải nhận là có tài, nhưng dù sao các bản thảo đều chỉ thuộc về một loại như nhau: tiểu thuyết hẳn, ký sự hẳn, chưởng hẳn hay trào phúng, khôi hài hẳn… Tóm lại tức là cùng một thể văn. Đến Nguyễn Văn Vĩnh thì khác hẳn. Tôi còn nhớ có một lần Nguyễn Văn Vĩnh bị mấy nhà ngân hàng thúc nợ dữ quá, dọa tịch thu tài sản. Trong khi ấy thì nhân viên nhà báo mấy tháng không có lương, bỏ bê công việc; đã thế, trong gia đình lại không yên về tình cảm (ông Vĩnh có tất cả ba bà, bà sanh ra Nguyễn Nhược Pháp mất lúc anh mới sơ sinh); ấy là chưa kể mấy ông con quen lối sống con Tây đòi hết thứ này đến thứ nọ để ăn chơi phè phỡn. Đặt địa vị một người thường thì gặp bao nhiêu cảnh “bí rì rì” đó cùng một lúc, người ta dễ điên đầu.


Ông Nguyễn Văn Vĩnh hơn nhiều người khác ở chỗ không liều mà cũng không nhát sợ mà bỏ cuộc: Dù hoàn cảnh gay go đến chừng nào, ông cũng phớt tỉnh, nói năng oang oang, cười cợt hô hố như không có gì xảy ra, chỉ khi nào vắng vẻ ông mới thở hắt ra. Có lẽ trong tất cả bạn bè, bác sĩ Tụng, một trong những người bạn già lâu đời nhất của ông Vĩnh còn lại đến ngày nay, còn hầu hết đều quy tiên cả, là người được ông Vĩnh cởi mở nỗi lòng nhiều nhất.


Theo chỗ biết của tôi, bác sĩ Tụng không những chạy tiền cho ông Vĩnh (lúc đó ông Tụng còn là nhân viên đắc lực của Saigon Ngân hàng) mà còn lo dàn xếp cả chuyện gia đình cho ông Vĩnh, điều giải các cuộc tranh chấp giữa các bà (nói thác là người khác vay) đem về cho ông từ năm đến mười phân. Ông Vĩnh làm việc như con trâu con ngựa, không mấy khi muốn phiền người khác.


Có một lần, tôi đã được mục kích một cảnh như sau: không biết giận gia đình gì đó, ông lên gác nằm khoèo, nhờ ông Tụng mua cho một mẹt bún chả ăn trừ cơm, rồi viết luôn một bài xã thuyết cho báo Annam Nouveau, thảo một thư cho viên toàn quyền Pháp đưa ra nhà báo nhờ đánh máy luôn, dịch miệng chuyện Tê Lê Mạc phiêu lưu ký cho Dương Phương Dực (bút hiệu Đông Lĩnh) ám tả, trong khi chính ông lại quay sang nói chuyện với ông Tụng về chuyện thống sứ Pháp “có ý muốn giúp ông tiền bất cứ lúc nào, và bao nhiêu cũng được”, miễn là ông tạm gác ý kiến đả kích Pháp và ngưng chống nhà vua.


Thú thực cho đến bây giờ tôi sợ nhiều người giỏi, nhưng chưa hề sợ như sợ cái tài viết văn viết báo của ông. Tôi được biết tài của luật sư Vương Quang Nhường lúc theo thủ tướng Nguyễn Văn Tâm ra Bắc, hút rồi ngồi gác chân lên ghế, quay sang bên phải đọc một bài diễn văn chữ Pháp để cho nhân viên thông tin đánh máy, quay sang bên trái đọc một bài diễn văn chữ Việt để cho thủ tướng Tâm đọc nhân một buổi lễ khánh thành gì đó. Đem so sánh, tôi vẫn nghiêng về Nguyễn Văn Vĩnh nhiều hơn và cho đến bây giờ tôi vẫn chưa thấy có ai viết báo, viết văn nhiều loại khác nhau một cách nghĩa lý và tài tình như ông Vĩnh. Đã thế, cái lượng văn chương báo chí của ông lại nhiều gấp bội. Đúng như lời cụ Tô nói, ông Vĩnh viết có tới hàng vạn bài báo bằng tiếng Pháp, tiếng Việt, còn văn dịch trong “Âu Tây tư tưởng” hoặc đăng tải trên báo rồi mà chưa in từ Thơ ngụ ngôn - bởi vì ông Vĩnh còn làm thơ nữa - đến Gin Bala, từ Miếng da lừa đến Mai Nương Lệ Cốt, từ Trẻ con hát, trẻ con chơi đến Những kẻ khốn nạn, Ba người ngự lâm pháo thủ, Hai mươi năm sau thì cũng nhiều quá, không thể nào nhớ nổi, không thể nào ghi xiết…


Ông viết đủ mọi thứ, dịch đủ các loại, viết tin, viết xã thuyết, khảo cứu, phóng sự (volonté indochinoise). Nhiều cụ bỉnh bút của báo Trung Bắc Tân Văn kể chuyện cho tôi nghe rằng ông Vĩnh, về truyện dịch đắc ý nhất cuốn Ba người ngự lâm pháo thủ. Nhưng một bạn chí thân của ông từng sống những giây phút gay cấn nhất đời với ông, vốn biết rõ về đời công và đời tư của ông hơn ai hết, quả quyết là không có truyện nào ông vừa ý mà lại để nhiều công phu dịch thuật như truyện Mai Nương Lệ Cốt. Hầu hết các bài báo, truyện dịch của ông Vĩnh đều do bạn hữu hay thư ký thân tín chép theo lời ông đọc, chép xong, ít khi ông đọc lại, bảo đưa xuống nhà in xếp chữ luôn. Riêng có bản dịch Mai Nương Lệ Cốt là do chính tay ông viết, mà viết xong, ông không đưa cho nhà in xếp chữ ngay, lại đưa cho cụ Tụng “bình” lại và cùng tìm những danh từ thích đáng hơn, hay… tình tứ hơn, nếu cần; mỗi kỳ dịch như thế gồm bảy tám hay mươi mười trang viết; đăng báo gần hết lại dịch tiếp. Nhưng lần nào cũng vậy, dịch xong, bình xong rồi, ông cũng bảo Tư Đạt sang Gia Lâm đưa cho bà Vĩnh hai đọc trước. Thành thử truyện Mai Nương Lệ Cốt tuy ông Vĩnh không bao giờ nói ra, mà chính là cuốn truyện dịch ông để chú tâm nhiều nhất, cuốn truyện gọt giũa, công phu nhất.


Đây không phải là một bài chép về đời tình ái của Nguyễn Văn Vĩnh nên tôi không ghi lại những băn khoăn, buồn phiền của ông đối với mấy bà, cũng như vấn đề con cái của ông, nhưng có thể nói rằng đời tư của ông Nguyễn Văn Vĩnh là cả một cuộc đời vật lộn lao đao, hào hứng, lên xuống như nước thủy triều, bị bao nhiêu day dứt, nào là Tây, nào là tiền, nào là con, nào là vợ, nhưng không một lúc nào ông chịu ngồi yên, một mặt cứ đối phó, mà một mặt cứ lo chiến đấu, một mặt cứ lo chiều con, chiều vợ.


Nói đến ông Vĩnh, người ta thường nhớ ngay đến loạt bài đả kích chủ trương quân chủ của Phạm Quỳnh theo sát với Tây, mà hầu hết đều quên rằng chiến dịch làm cho từ Bắc vào Nam sôi nổi, hăng say, chiến dịch lòng yêu nước của toàn dân lúc ấy, chiến dịch làm cho Pháp giựt mình, vì không ngờ Nguyễn Văn Vĩnh lại được dân chúng tin yêu đến thế, chính là chiến dịch “tẩy chay Hoa kiều”. Theo chỗ hiểu biết của tôi do các bậc đàn anh tâm sự, ông Vĩnh lúc ấy chỉ có viết một bài báo kêu gọi lòng ái quốc của đồng bào mà cả nước vùng lên tẩy chay Hoa kiều rầm rộ. Bài báo ký một bút tự của ông Vĩnh mà ít người được biết: Quan Thành. Tại sao lại là Quan Thành? Về sau này, một hôm nhân một câu chuyện với mấy ông bạn già, tôi hiểu dường như bút hiệu này lấy điển làng Phượng Vũ, huyện Thường Tín ngày xưa là Đông Quan, thành đây là thành nội, cũng như Tú Xương người ở Vị Xuyên lấy bút hiệu là Vị Thành. Bút tự Quan Thành, ông chỉ ký dưới những bài báo nào đề cập vấn đề xã hội, văn hóa.


Mân Châu Nguyễn Mạnh Bổng, anh rể của Nguyễn Tiến Lãng, đồng thời là anh vợ của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu khi đó, là người tán đồng ý kiến bài báo này nhất và cũng là người đã phổ biến ý kiến bài báo đó, chỉ huy công cuộc bài Hoa. Các phố Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Buồm ở Hà Nội là những đường phố có nhiều Hoa kiều sinh sống, bị tê liệt về thương mại trong nhiều ngày. Không ngày nào không có những vụ phá phách, các chú chạy trốn như vịt cả. Ngay hồi ấy ông Vĩnh đã hiểu biết thấu đáo tâm lý người dân, tung ra những đồng dao, câu vè trào phúng để cho thanh niên, thiếu nữ tham gia chiến dịch vừa phá Tàu vừa hát:


Vì ai nị được béo ngay,


Bạc nghĩa vong ân là chúng mày!


Ăn chực ở nhờ không biết phận,


Tỉu hà ma nị, ngộ tẩy chay!


Về sau này, dân ta kháng chiến chống Pháp, các câu vè, câu hát khích động lòng yêu nước, diệt thù bay ra như bươm bướm, đại khái:


Đất này đất tổ đất tiên,


Đất này chồng vợ bỏ tiền ra mua.


Bây giờ Nhật, Pháp kéo hùa


Chiếm trồng đay, lạc, ức chưa hỡi Trời.


Hay:


Chị em du kích Thái Bình


Ca lô đội lệch vừa xinh vừa giòn.


Người ta nhắc chuyện chồng con,


Lắc đầu nguây nguẩy: “Em còn giết Tây”.


Phương pháp tuyên truyền, khích động lòng dân như thế tưởng là mới, nhưng biết đâu ông Vĩnh đã đem áp dụng để bài Hoa từ hai ba chục năm về trước.


Thú thực, làm bỉnh bút tờ Trung Bắc, dưới sự chỉ huy của ông Nguyễn Văn Vĩnh, nhiều người lấy làm hãnh diện chứ không phải riêng tôi. Tôi giữ nguyên sự hãnh diện ấy đến bây giờ vì không những về phương diện chính trị, xã hội mà còn về phương diện văn hóa nữa, vì theo ý riêng tôi thì cho mãi đến ngày nay, vẫn nghe thấy các nhà học giả, các bậc cao nhân thông thái trẻ tuổi vẫn nói rằng “chưa có ai dịch thuật tài tình như ông Vĩnh”.


Nhân nói đến chuyện dịch, tôi không khỏi nhớ đến mâu thuẫn về quan niệm dịch sách giữa ông Vĩnh và con trai Nguyễn Giang, tác giả mấy cuốn thơ khó hiểu mà cũng là một họa sĩ, một nghệ sĩ, một dịch giả có tiếng với những cuốn như Giấc mộng đêm hè của Thạch Sĩ Ba (Shakespeare).


Ông Vĩnh chủ trương dịch thì nên tìm những sách nào bàng bạc cái tinh thần Á Đông chớ không nên chọn những tác phẩm Âu Tây có một nội dung và một tinh thần lạ hoắc đối với người mình.


Nguyễn Giang đề cập đến quan niệm dịch thuật ấy có một hôm nói với tôi và một hai người bạn:


- Ông Nguyễn Văn Vĩnh nghĩ như vậy, tôi không chịu. Theo tôi thì những tác phẩm có một tinh thần nội dung na ná với người Á Đông thì mình dịch làm gì, cho phí công. Tôi chủ trương phải dịch những sách hoàn toàn Âu Tây, lạ hoắc đối với người mình thì mới có ích lợi thật sự.


Ngay lúc Nguyễn Giang nói như thế, tôi không dám có ý kiến gì hết, nhưng đến bây giờ tôi vẫn cảm thấy “chối tai” khi nhớ rằng Nguyễn Giang, đề cập đến người sinh ra mình, đã nói một cách rất Tây là “… ông Nguyễn Văn Vĩnh”!


Qua mấy chữ “ông Nguyễn Văn Vĩnh” từ miệng người con trai yêu quý của ông Vĩnh thốt ra, có lúc tôi muốn tưởng Nguyễn Giang đã quên “ông Vĩnh đó” là người đã cho Giang thấy ánh mặt trời và nuôi nấng dạy dỗ cho nên người trí thức.


Hiện nay có bao nhiêu người tự nhận là văn nghệ văn gừng, tự nhận là ký giả ký thật, tự nhận là những người quốc gia phục vụ văn chương văn hóa nước nhà, cũng như Nguyễn Giang, quên khuấy mất rằng Nguyễn Văn Vĩnh đã có một thời chiến đấu cho chữ quốc ngữ, cho báo chí văn chương, cho sách vở, cho quyền lợi thương mại của người Việt Nam, cho quyền làm người của dân tộc Việt, cho tự do độc lập của quốc gia, cho sự tiến bộ của nhân dân xã hội.


Vì dân mình vẫn tự hào là dân tộc biết ơn những người góp công, góp sức cho sự phát triển của đất nước, vì tưởng mình cũng là một phần tử trong số những người biết ơn đó, tôi viết tập bài này tưởng nhớ Nguyễn Văn Vĩnh tiên sinh mà cũng là một dịp để tiếc nuối một bực thầy đã tạo một ảnh hưởng lâu dài cho trí óc tôi về phương diện văn xuôi cũng như Tản Đà tạo ảnh hưởng sâu đậm cho tôi về văn thơ phú lục.


Sài Gòn, tháng 6-1970


Văn Học số 111 (1-9-1970)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. Tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 







Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố: L’oeure de M. Nguyễn Văn Vĩnh - Bulletin de la Societé d’Enseignemet mutuel - Tome 16 No 1.2.




Annam Nouveau, trụ sở ở Place Négier, Hà Nội.




Trong Niên lịch thông thư có mục Tử vi, đoán ngày xấu ngày tốt.




Tài liu này ghi trong gia ph nhà h Nguyn, do anh Nguyn Dương và Nguyn Ph chuyn cho tôi coi lúc còn Hà Ni. Hai anh là con trai ca c Vĩnh.




Nguyên văn trong ch Pháp.




Hif Dinhf là cách viết Đình, cách này do Nguyn Văn Vĩnh đ ngh. Hì Đình Nguyn Văn Tôi tc là Nguyn Đỗ Mc – (VTN).




Tiểu thuyết Manon Lescaut của Abbé Prévost, nhà văn và nhà báo Pháp (1697-1763) – (NBT).



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (2) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Lượm lặt ở đám giỗ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Lưu Trọng Văn 06.06.2017
xem thêm »