tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21282954
Tiểu thuyết
29.09.2011
Hoài Anh
Vua Minh Mạng


Lại thấy huyện Yên Khánh, Yên Mộ thuộc Ninh Bình, đối ngạn với huyện Nam Chân trấn Nam Định, theo một dải bờ biển còn nhiều nơi bỏ hoang. Nguyễn Công Trứ lại đến ngắm đo đất phân phối cho dân đinh không phải theo chế độ “Công điền quân cấp” như ở Tiền Hải mà theo chế độ “Tư điền quân cấp”. Theo chế độ này, người chia được hưởng một đời, nhưng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền mua bán. Khi người được cấp ruộng chết đi, nếu không có con trai hoặc có con trai nhưng chưa đến tuổi thành đinh thì phải trả lại ruộng đó cho làng. Ruộng mới khai hoang sau 3 năm mới phải nộp thuế. Về số lượng, ruộng đất bình quân cho mỗi đihh theo chế độ tư điền quân cấp là 10 mẫu, tuy nhiên con số này có dao động ít nhiều ở từng lý, ấp, trại.


Chia đất xong cả thảy được 3 lý, 22 ấp, 24 trại và 4 giáp, số dân 1260 người, số ruộng 14,620 mẫu, chia làm 5 tổng, đặt riêng một huyện gọi là huyện Kim Sơn, thuộc vào phủ Yên Khánh, đạo Ninh Bình. Nhà cửa, lương tháng, trâu bò, cày bừa lượng lấy tiền công chi cấp cho. Số tiền 34 quan mua được một con trâu trị giá 30 quan, 1 cày trị giá 2 quan 5 tiền và 1 bừa trị giá 1 quan 5 tiền. Ngoài ra cứ 5 đinh còn được cấp 1 cuốc, 1 thuổng và 1 liềm.


Nguyễn Công Trứ lại dâng sớ xin lập Quy ước, khiến cho dân biết kiềm thúc lâu cũng nên thói hay được. Một là lập nhà học (đặt ruộng học tha thuế khiến dân cày ruộng để làm học bổng, học trò 8 tuổi phải vào học). Hai là đặt xã thương; chăm dạy bảo dân làm ăn. Ba là cẩn việc phòng giữ. Bốn là nghiêm việc khuyên răn. Minh Mạng khen phải.


Khi cử chức Tri huyện, triều đình bổ Tri huyện Quỳnh Lưu là Võ Danh Dương, người trấn Sơn Nam làm Tri huyện Tiền Hải. Nhận thấy Danh Dương tuy đỗ đạt nhưng không am hiểu việc canh nông, không cai trị nổi một huyện mới lập, nên Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Nhược Sơn bảo cử cho Phí Quý Trại làm Huyện thừa huyện Tiền Hải, để giúp đỡ Tri huyện trong việc bảo ban dân chúng làm ăn. Triều đình ưng thuận.


Xong xuôi công việc, Nguyễn Công Trứ về kinh phục mạng. Minh Mạng thăng ông lên chức Thự tham tri.


Cứ tưởng mọi điều êm thấm, ngờ đâu Thị lang Hoàng Quýnh vì hiềm cũ lại dâng sớ cáo giác ông và Nguyễn Nhược Sơn về việc đề cử Phí Quý Trại, một tên quyền sai đội trưởng không phải là khoa mục xuất thân làm Huyện thừa huyện Tiền Hải, chắc là có ăn hối lộ của y nên mới làm chuyện đó. Khi Minh Mạng hỏi thì Nguyễn Công Trứ thản nhiên tâu:


- Tâu bệ hạ, khi tôi ra đôn đốc việc khẩn hoang, đã nhận thấy rằng chỉ khử chua rửa mặn cho đất không đủ, mà còn phải đưa nước ngọt vào thì ruộng mới cày cấy được. Tôi bảo cử Phí Quý Trại vì y là người biết làm việc, mang lại lợi ích cho dân cũng như đưa nước ngọt vào đồng, để lúa thêm tươi tốt, chứ không có ý gì khác.


Minh Mạng truyền giao cái án này cho Cơ mật viện xét. Các triều thần vốn ghen ghét Nguyễn Công Trứ thừa dịp khép thành bản án: Nguyễn Công Trứ phải giáng làm Tri huyện ở kinh, Nguyễn Nhược Sơn bị giáng làm Huyện thừa huyện Tiền Hải, còn Phí Quý Trại bị cách chức đuổi về dân tịch. Minh Mạng y án.


Vụ án này làm cho Nguyễn Công Trứ sáng mắt ra. Giờ đây ông mới hiểu, trước đây Tả quân Lê Văn Duyệt chắc đã bảo cử cho ông với vua Gia Long, nhưng vua không dùng vì lúc thái bình vô sự, muốn thiến thân thiết phải qua con đường khoa cử, đâu có như trong thời loạn, vua Gia Long phải bôn tẩu chạy qua cả Mỹ Tho quê Lê Văn Duyệt để ông Duyệt xin đi theo, mới có chuyện “rồng mây gặp hội”. Một người công lao hiển hách như Lê Văn Duyệt bảo cử cho ông mà còn không đắt, huống hồ ông lại dám bảo cử cho một thầy đội không đỗ đạt gì lên làm Huyện thừa, bị tội là đáng kiếp.


Nhưng ông không lấy làm buồn, vì sau khi cái cơ ngơi đồ sộ ở Tiền Hải, Kim Sơn lập nên, dân chúng nhìn cánh đồng thẳng cánh cò bay đến mút tầm mắt, đã hát véo von ca ngợi công đức của ông:


Nước lã mà vã nên hồ


Tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan.


Lời khen ngợi từ cửa miệng dân gian, phổ vào câu hát truyền tụng nghìn đời, là phần thưởng quý giá nhất với ông giúp ông quên đi những gập ghềnh, rủi ro trên bước đường hoạn lộ.


 


X. Trịnh Hoài Đức từ Gia Định ra Huế làm việc, vốn làm quan thanh liêm nên không có tiền tậu dinh cơ riêng, mà phải ở một căn phòng trong Bộ Lại. Trong phòng ông không có vật gì quý báu, chỉ có sách, những bức thư, họa, văn phòng tứ bảo và sập gụ tủ trà.


Hai bên tủ trà để sách vở còn khoảng giữa lồng kính bày các bộ đồ trà. Nóc tủ dài và phẳng lỳ như tấm ván đen đánh bóng. Bên trái nóc tủ là chiếc lọ độc bình, sứ trắng men chàm, vẽ tứ quí mai lan cúc trúc, trong lọ không cắm hoa.


Trên nóc tủ trà treo một bức chữ cữ trung đường viết lối đại thảo câu “Bút tinh diệu nhập thần” viết lối “Nhất khí” chữ nọ nối liền với chữ kia từ lúc hạ bút cho đến lúc cất bút. Chữ “Thần” có cái sổ dài có cả xơ bút, thẫm nhạt như đuôi con hổ. Vách tường hai bên một bên treo bức tranh vẽ hoa sen do bạn ông là Lê Quang Định vẽ tặng ông khi hai người cùng đi sứ nhà Thanh, một bên treo bài minh Cấn Trai đề bích (Cấn Trai đề vách), ông viết khi còn hàn vi ở Gia Định.


Thiên địa chung nhân tú,


Nhân thừ thiên địa chân.


Tửu đa giới đãng tính.


Thi khổ cảnh lao thần.


Lý dụ cương duy lập


Danh thành đức nghiệp tân.


Đình hoa khai bất chiết,


Lưu thưởng tự nhiên xuân(1).


Thấy Phạm Đăng Hưng đến chơi. Trịnh Hoài Đức lấy từ trong tủ trà ra cái ấm song ẩm làm bằng sứ trắng, tráng men đỏ tươi ở ngoài gọi là ấm Châu Sa. Trôn ấm đề ba chữ “Thế Đức Đường”. Một chén tống để chuyên trà đặt trên đĩa bàn, hai chén quân đặt trên đĩa dầm, cùng ấm pha trà tất cả đặt trên khay bằng gỗ trắc khảm xà cừ. Ông đặt cái ấm đồng đỏ trên lò hình con cóc há mồm, cho trà vào ấm, chờ nước sôi đổ nước sôi vào ấm, lại chờ cho trà ngấm mới rót trà ra chén tống. Nước đầu rất đặc vì vậy khi chén tống đã đầy được hai phần ba, ông đổ thêm nước sôi vào chén tống. Từ chén tống, ông chuyển sang hai chén quân, rồi đẩy một chén sang phía Phạm Đăng Hưng nói:


- Rước quan huynh dùng trà.


Phạm Đăng Hưng nhấp một ngụm trà, chép chép miệng, rồi khen:


- Trà của quan huynh là loại trà gì mà ngon như vậy?


- Chẳng dám dấu gì quan huynh, ông Cần chánh điện học sĩ Nguyễn Du đi sứ nhà Thanh về, có tặng tôi một hộp trà Vũ di. Có thứ trà thượng phẩm này, chiều chiều tôi lại sai gia nhân chèo thuyền trên hồ Tịnh Tâm, mang trà bỏ vào trong những nụ sen rồi lấy dây buộc lại, mờ sáng hôm sau lại sai chèo thuyền đến, lấy trà ra, rồi đem pha uống nên trà mới có hương vị thơm mát như vậy.


- À, ông Nguyễn Du, tôi nghe người ta nói trên đường đi sứ về, ông ấy có ghé qua một xưởng chế tạo đồ sứ tại Cảnh Đức Trấn tỉnh Giang Tây, gặp lúc người ta đang chế một số đồ trà vẽ mai và hạc. Biết ông Nguyễn Du là một thi nhân nổi tiếng ở nước Nam, quân lo ngỏ lời xin quan chánh sứ phẩm đề ít chữ lên món đồ để làm kỷ niệm. Quan huynh có biết ông Nguyễn Du viết những gì không?


- Không. Ông ấy viết những gì, thưa quan huynh?


- Chà, ông ấy viết hai câu thơ nôm:


Nghêu ngao vui thú yên hà,


Mai là bạn cũ, hạc là người quen.


Trịnh Hoài Đức gật gù khen hay, rồi nói:


- Tôi đã được xem lời bình của ông Nguyễn Du trong tập thơ Hoa nguyên thi thảo của ông Lê Quang Định, thấy ông ấy phẩm bình rất xác đáng, đúng là một nhân tài của nước Đại Nam. Chẳng hay quan huynh có kiếm được bộ đồ trà thơ nôm ấy hay không?


- Ông Nguyễn Du có đem về một bộ của xưởng đồ sứ tặng làm kỷ niệm, nhưng có một xưởng đồ sứ ở Kinh đến mượn ông ấy đem về làm mẫu để dựa theo đó trang trí cho những đồ sứ men lam ở đây. Tôi thì tôi không thích chén Tàu mà thích loại chén “mắt trâu - lật đật” đáy tròn và nặng, khi đụng vào thì nó lay lắc như con lật đật, nhưng cuối cùng luôn trở về vị trí thăng bằng.


Trịnh Hoài Đức mỉm cười:


- Tôi nghĩ cái đạo làm quan cũng phải giống như con lật đật...


Lời Trịnh Hoài Đức nói vô tình khiến Phạm Đăng Hưng đỏ mặt. Nguyên Phạm Đăng Hưng là người huyện Tân Hòa, Gia Định, chỉ đỗ có Tam trường, được bổ làm Lễ sinh ở phủ, vậy mà chẳng bao lâu leo lên đến chức Tham tri Bộ Lại rồi Thượng thư bộ Lễ, nên những vị quan đỗ đạt cao không biết đến công trạng của ông khi chinh chiến, chỉ cho là ông khôn ngoan nên luôn luôn giữ được chức vị như Phùng Đạo đời Ngũ đại được gọi là “Bất Đảo ông” (con lật đật). Ông nhìn chiếc bình không đổi sang câu chuyện khác:


- Bình quan huynh không cắm hoa ý chừng để làm đúng, như lời thơ “Bình hoa khan bất chiết, Lưu thưởng tự nhiên xuân”?


- Không hẳn là như thế. Chơi hoa cũng là một cái thú tao nhã. Nhưng như ông Nguyễn Du đã nói: Chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa. Chơi hoa là cả một nghệ thuật tinh vi. Người xưa đã chia ra tiết hoa, mỗi tiết hoa có một thứ hoa mà mỗi tiết là mười lăm ngày. Mỗi tiết chia ra ba Thì hầu, mỗi Thì hầu là năm ngày, có một trận gió riêng, mỗi trận gió ăn vào một thứ hoa. Chẳng hạn tiết Tiểu Hàn, nhứt hầu là Mai, nhị hầu là Sơn trà, tam hầu là Thủy tiên. Tiết Kinh Trập, nhứt hầu là Đào, nhị hầu là Đường Lê, tam hầu là Tường Vi. Tiết Xuân phân, nhứt hầu là Hải đường, nhị hầu là Lê, tam hầu là Mộc Lan... Hoa nở đúng thì hầu là lúc hoa đẹp nhất, người ta mới ngắt về chơi, chứ cứ bạ hoa gì thì cắm hoa ấy chỉ là phường tục tử. Lại còn phân ra nhiều hạng: Vương giả chi hoa như lan, huệ, mẫu đơn; Phú hào chi hoa như hường, mai; Quân tử chi hoa như hoa sen; Ẩn dật chi hoa như cúc; Bình dân chi hoa như vạn thọ, mồng gà, nở ngày... Người phải chọn hoa hợp với cảnh ngộ của mình. Khi tôi viết bài thơ này, còn đang sống trong cảnh hàn vi ở Gia Định, trước nhà chỉ có bông lài, bông bần, bông mù u, bông dâm bụt, cần gì phải ngắt cắm vào trong bình. Phạm Đăng Hưng cười, Trịnh Hoài Đức hỏi:


À, bữa nay quan huynh rảnh đến chơi hay có chuyện gì vậy?


Phạm Đăng Hưng nhấp một ngụm trà nữa rồi nói:


- Từ ngày quan huynh cùng tôi định ra lễ nghi, nhiều quan lại trong triều phản đối nhưng vì điều lệ được hoàng thượng phê chuẩn, họ không làm gì được, ngấm ngầm căm tức, chỉ chờ dịp để hãm hại tôi. Mặc dù tôi đã thôi việc ở Bộ Lễ, chuyển sang sung chức Quốc sử quán phó tổng tài, nhưng mới đây ở bộ Lễ có chuyện mạo tặng phong cho các mẹ các quan viên, bọn họ liền xúm nhau dâng sớ đàn hặc tôi, nói tôi khi làm Thượng thư bộ Lễ, không biết răn đe nghiêm cấm thuộc hạ, bắt tôi phải chịu trách nhiệm về việc ấy, xin giáng cấp đổi đi nơi xa. Quan huynh bảo tôi nên làm thế nào?


Trịnh Hoài Đức biết những định thủ của mình, muốn chặt bớt vây cánh của mình trong triều đình, nên mới đánh vào Phạm Đăng Hưng. Ông suy nghĩ một hồi rồi nói:


- Tôi thấy trong chuyện này hoàng thượng có điều khó xử. Một phần quan huynh là người từng tán thành việc đưa ngài lên nối ngôi trước đây. Hai nữa, ngài lại là thân sinh ra vương phi của hoàng trưởng tử Miên Tông(1). Nếu hoàng thượng không xét xử việc này sẽ mang tiếng là vị tình riêng mà bỏ qua phép nước, sau đó ngài có thi hành cải cách mới gì cũng không có hiệu quả nữa. Tôi thấy quan huynh nên chuẩn bị trước, khi hoàng thượng giao sớ tấu cho đình thần bàn bạc, quan huynh xin giải chức đi tiền quân hiệu lực chờ xét án. Tôi nhớ trước đây quan huynh đã từng dâng sớ xin đặt kho ở xã, đề phòng chẩn cấp về năm mất mùa. Tiên đế dụ rằng: phép ấy tuy hay, nhưng người chủ thủ khó có thể được người tốt cả, sợ làm hại cho dân. Việc ấy rồi không thi hành. Nay nhân Quảng Nam có nạn mất mùa đói kém, quan huynh nên xin đến đó bán thóc gạo trích trong kho với giá rẻ cho dân, nếu quan huynh làm tốt việc này sẽ có thể đới công chuộc tội.


Phạm Đăng Hưng nghe ra, cám ơn Trịnh Hoài Đức rồi cáo từ.


Phạm Đăng Hưng đi rồi, Trịnh Hoài Đức thầm nghĩ, mình và Phạm Đăng Hưng được nhà vua quý trọng, tin cẩn, không tránh khỏi bị bạn đồng liêu ghen ghét. Khi Trịnh Hoài Đức được thăng thụ Hiệp biện đại học sĩ, lĩnh Thượng thư bộ Lại, kiêm lĩnh thượng thư bộ Binh. Trước đấy ở ban quan văn chưa có người nào được trao cho nhất phẩm. Minh Mạng muốn trao cho Đức, mới hỏi các quan đaị thần, bọn Nguyễn Văn Nhơn, Nguyễn Đức Xuyên đều thưa rằng nên. Đức biết tin dâng biểu từ chối. Vua dụ rằng: “Hiện nay bên văn không có ai hơn ngươi, nên cố gắng làm hết chức vụ, để giúp trẫm những điều chưa biết tới, ngươi chớ nên từ”. Đức mới nhận chức, châm chước, xếp đặt rành mạch, đều thích hợp với việc đời.


Chuyện Phạm Đăng Hưng khiến Trịnh Hoài Đức liên tưởng đến chuyện bạn thân của mình là Ngô Nhân Tĩnh. Năm Gia Long thứ 12, Ngô Nhân Tĩnh cùng với Lê Văn Duyệt đi hộ tống quốc vương Chân Lạp là Nặc Ong Chăn về nước. Đến khi trở về, có người nói là Tĩnh nhận của cho riêng. Duyệt tin thực, đem việc ấy tâu lên. Gia Long cho là không có sự thực, bỏ đi. Tĩnh lòng không tự yên, nhưng rút cục không làm thế nào để dãi tỏ lòng của mình được, thường than rằng: “Vẽ rắn thêm chân, ai khiến cho ta mang cái oan không dãi tỏ được ư?”.


Tĩnh lo buồn thành bệnh rồi chết. Trịnh Hoài Đức tâu giúp xin truy tặng, Gia Long không cho. Đức biết rằng Duyệt không ưa Tĩnh vì Tĩnh là bạn thân của mình nên mới tâu xin trị tội Tĩnh. Ông buồn rầu đã định dâng sớ xin cáo quan về, nhưng đến lúc Gia Long thăng hà, Minh Mạng mới lên nối ngôi, trọng dụng ông, nên ông cảm ơn tri ngộ, không nỡ bỏ về.


Việc các quan võ cậy có chiến công khinh thường, chèn ép đám quan văn như Đức, Tĩnh là chuyện có từ lâu. Khi đi sứ nhà Thanh, làm 18 bài thơ Nôm liên hoàn Đi sứ cảm tác, Trịnh Hoài Đức đã gửi gắm vào tâm sự cá nhân của mình:


Tấm lòng chăng phải phải phân trần,


Ít nói là người dưỡng tính chân.


Đã bện bó rơm làm đứa quỷ,


Lại trau cục đá tượng ông thần.


Dù cho đất phấn tô gương mặt,


Sẵn có cây da cậy tấm thân.


Cũng muốn đem mình đi thế ấy.


Đem mình đi thế ấy bần thần.


Bọn quan võ đã cậy thần thế lấn áp quan văn, ngay cả lòng vua yêu bề tôi cũng mưa nắng thất thường:


Bần thần lại giận đứa xung xăng,


Quán Sở lầu Tần đã mấy trăng.


Phơi phới mưa xuân hang dễ lấp,


Chan chan nắng hạ lửa đang hừng.


Thu trao thư nhạn lời no ấm,


Đông gặp tin mai chuyện khó khăn.


Trời đất bốn phương non nước ấy,


Làm chi nên nỗi việc lăng nhăng.


Vì bị sự ghen ghét, gièm pha của một số võ tướng có công lao trận mạc cho rằng có thể trị nước bằng hành động quân sự và pháp luật hà khắc, không cần đến văn hóa và đạo lý, không hiểu như Lục Giả khi khuyên Hán Cao Tổ “có thể ngồi trên mình ngựa mà lấy được nước, không thể ngồi trên mình ngựa mà trị nước”, Trịnh Hoài Đức có lúc đã chán nản định từ quan đi ở ẩn. Nhưng nghĩ đến trách nhiệm đối với dân, với nước, phải lo sao xây dựng một nền văn hóa và đạo lý làm cơ sở tinh thần cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế làm cho dân giàu nước mạnh, ông lại gác bỏ ý định hưởng nhàn:


Đất yên cõi Việt rừng nho rậm,


Trời giúp nhà Ngu biển thánh cao.


Mới biết tài non đền nợ nước,


Dám đâu nói chuyện ẩn nguồn Đào.


Ông cũng đủ cái tài hoa và cao ngạo của nhà thơ đời xưa “Say nhè tửu bá coi khinh, Bôi lem năm vận ngông nghênh thi đàn”(1), nhưng ông nghĩ lúc này chưa thể gác bỏ tấm lòng lo đời để nghĩ đến riêng mình:


Lưu Linh vợ lại khôn từ chén,


Lý Bạch vua kêu chẳng xuống thuyền.


Hầu muốn học đòi theo thế ấy,


Song le thời thế hãy chưa yên.


 


Chưa yên ta phải tính làm sao,


Cơm áo ngồi không dễ đặng nào…


Đêm nằm trằn trọc nghĩ ngợi không sao quên được việc nước, nửa đêm ông trở dậy thắp nến viết tờ sớ, đại:


“Thần trộm nghĩ: nhà nước tuy yên, không nên việc chinh chiến. Khi Thế Cao Tổ hoàng đế ta, lấy việc vũ dẹp loạn, từ thị vệ, cấm binh đến các quân doanh, đã có chưởng lĩnh, phó tướng, lại có chánh doanh, phó doanh, chánh vệ, phó vệ, chánh cơ, phó cơ, ngày thường thì viên phó thay khó nhọc làm việc của viên chánh, có việc thì viên phó chia trách nhiệm xông ra trận của viên chánh, vì thế cho nên giữ tất vững, đánh tất được, dựng được nhiều công to, giúp nên đại định. Từ khi yên tĩnh, các quan huân cựu, bực tướng lão thành, già yếu và chết mất nhiều; nên chức quan coi quân thường vắng thiếu. Nay văn trị rực rỡ, không để ý đến việc quân đội, nhưng có việc văn tất phải có việc võ, xin trong bọn coi quân chăn dân chọn người siêng năng khó nhọc và tướng cũ, chuyển đổi cho thăng làm viên chánh; và tuyển người hậu tiến có tài năng, cất nhắc giao phó cho làm viên phó; hoặc châm chước bỏ bớt, hoặc đặc cách tuyển bổ quyết đoán tự lòng vua, lần lượt mà cử hành, sung bổ vào quân túc vệ, khiến cho danh phận dự định sẵn, Quân lính tập quen, thì trên dưới cũng yên, mà quân là quân có kỷ luật, tướng là tướng có tài năng. Nếu đợi khó nhọc nhiều lập được công rồi sau mới cất bổ, sợ hoặc khi có việc, vội vàng sung bổ, chưa chắc đã được người, mà công việc lại chậm trễ không kịp”.


Viết xong, Đức mang vào chầu, dâng lên vua. Minh Mạng đọc xong, nói:


- Sự lý ngươi dâng nói, nay và xưa tuy khác, nhưng việc hay thì cũng nên chọn và thi hành.


Minh Mạng giao cho Đức là Thượng thư bộ Binh họp bàn với các võ tướng như NguyễnVăn Nhơn, Nguyễn Đức Xuyên bàn việc cải cách việc võ bị. Sau khi bàn bạc xong, dâng sớ lên vua tâu xin những điều sau;


Ở những nơi hiểm yếu thì lập đồn ải, ở các cửa bể và các đảo thì lập pháo đài. Và lại làm tàu đồng tập thủy quân để phòng giữ mặt bể.


Binh chế thì có bộ binh, thủy binh, tượng binh, kỵ binh và pháo thủ binh.


Bộ binh thì có kinh binh và cơ binh. Kinh binh chia ra làm doanh,vệ, đội hoặc để đóng giữ ở Kinh thành hoặc sai đi đóng giữ các tỉnh. Mỗi doanh có 5 vệ, mỗi vệ có 10 đội, mỗi đội có 50 người, có suất đội và đội trưởng cai quản.


Những binh khí của mỗi vệ thì có hai khẩu súng thần công, 200 khẩu điểu thương và 21 ngọn cờ.


Cơ binh là lính riêng của từng trấn, cũng chia ra làm cơ, làm đội. Cơ thì có quản cơ, mà đội thì có suất đội cai quản.


Tượng quân chia ra thành đội, mỗi đội là 40 con voi. Số voi ở Kinh thành 150 con, ở Bắc thành 110 con, ở Gia Định thành 75 con, ở Quảng Nam 35 con, ở Bình Định 30 con, ở Nghệ An 21 con, ở Quảng Bình, Quảng Ngãi, Thanh Hóa mỗi nơi 15 con, Quảng Trị, Phú Yên, Bình Thuận, Ninh Bình mỗi nơi 7 con.


 Thủy quân có 15 vệ, chia ra làm 5 doanh mỗi doanh có quan chưởng vệ quản lĩnh, và có quan đô thống coi cả 3 doanh.


Đọc xong sớ tâu Minh Mạng thầm nghĩ. Trừ trước đến nay chia riêng hai ban văn võ, quả là không hợp lý. Quan văn như Trịnh Hoài Đức chẳng phải là rất am tường việc binh hay sao? Nguyễn Công Trứ xuất thân quan văn mà rất giỏi trận mạc. Mà trong số quan võ thì tại có nhiều người thất học không hiểu binh thư đồ trận. Vậy mà vẫn chê bai quan văn trói gà không chặt, thật là nực cười! Dân cũng còn có thói quen coi trọng quan văn hơn quan võ, cho rằng: Quan văn thất phẩm đã sang, quan võ tứ phẩm còn mang gươm hầu”. Có lẽ phải xóa bỏ sự cách biệt chia rẽ giữa bên văn bên võ để làm sao cho “văn võ nhất tâm, quân thần đồng đức”(1).


Minh Mạng chuẩn y sớ tâu cho thi hành. Vua lại có dụ truyền bảo các quan phải luyện tập binh mã để phòng khi hữu sự. Vua biết rằng nước ta ở dọc bờ biển, thủy binh là rất quan trọng cho sự phòng bị. Thường vua bắt quan đem binh thuyền ra để luyện tập.


Vua lập toán giáo dưỡng binh, để cho các quan võ, từ suất đội trở lên ai muốn tình nguyện vào học, thì cho lương bổng, và cử quan đại thần ra dạy võ nghệ.


Còn khi nào có quân lính đi đâu, thì vua đặt lệ sai mấy người y sinh đi theo để săn sóc điều trị.


*


Trước đây Lê Chất dò biết Phạm Đăng Hưng vào khuyên vua nên khéo léo trong việc đối xử với Lê Văn Duyệt, khiến Lê Chất không thực hiện được âm mưu khích cho Lê Văn Duyệt bất mãn cùng mình chống lại triều đình. Lê Chất liền xui những quan trong triều cùng cánh với mình dâng sớ đàn hặc Phạm Đăng Hưng. Sau đó lại biết lời Phạm Đăng Hưng tâu vua là ý kiến của Trịnh Hoài Đức, không những thế Đức còn tâu xin cải cách việc võ bị, mượn cái đó để nén bớt quyền lực của mình, nên rất căm giận nói với người thân tín: Vua chỉ cậy có bọn Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Hữu Thận, làm tâm phúc. Chỉ đem độ vài trăm người vào chầu, quát to một tiếng, bọn ấy cũng phải phục xuống đất, rồi ta muốn làm gì thì làm.


Nghe được chuyện ấy. Trịnh Hoài Đức rất buồn. Giữa lúc ấy ông lại được tin vợ ông đã mất ở Gia Định, bèn dâng biểu xin nghỉ việc. Lại xin do đường biển trở về gia quán ở Gia Định, cho được thỏa nguyện “chồn chết quay đầu về núi”, và nói rằng hiện vợ chết còn chưa chôn, con đương ở nhà chịu tang, không có người nuôi dưỡng. Minh Mạng sai quan Bộ Lễ đem dụ chỉ đến yên ủi và lưu lại. Lời dụ viết:


“Xem lời trần tấu của khanh khiến người phải mủi lòng rơi lụy.


Từ ngày Khanh tiến chức Hiệp biện Đại học sĩ đến nay, quốc vụ quân cơ, tán trợ rất là nhiều đắc lực, trẫm đương để ý cậy nương, sẵn lòng yêu dấu. Khanh là người trung thành sáng suốt, há lại không tin lòng trẫm mà vội nói việc bỏ đi. Như nói về tình vợ việc nhà, thì ở đời ai lại không thiết nghĩa keo sơn, nhưng gặp lúc tình thế không biết tính sao thì cũng đối xử làm sao cho hợp lễ là được. Vả lại trong lúc khí suy bệnh nặng, tĩnh dưỡng rất cần, ta cho phép Khanh nghỉ việc bộ một thời gian, để an tâm điều trị, thuốc men thích đáng, chắc người lành trời giúp, khó gì không tật khử bệnh trừ; hà tất phải tính chuyện vượt biển băng vời, khiến người phải vì Khanh e ngại. Nếu nghỉ rằng khí hậu trong Nam ấm áp, có thể chữa chứng hàn thấp chóng khỏi, thì cũng phải chờ cho bệnh bớt người mạnh, rồi xin nghỉ về thăm nhà, đường bộ thênh thênh, há chẳng tốt hơn hay sao? Dấu như lời Khanh nói: “sương gió không chừng, lòng chỉ nguyện quay đầu về núi cũ”, Khanh là một bậc đại thần của nước, há vì một cớ mọn ấy mà không được toại nguyện hay sao? Điều ấy lại khiến người không hiểu vậy. Nói tóm lại, Khanh hãy an tâm tĩnh dưỡng, sao cho khí vượng thân cường, chẳng nên lấy việc mọn bận lòng, chính phải biết gìn vàng giữ ngọc; rồi đây tuổi trời thêm thọ, bình phục khang cường, cho thỏa lòng trông mong của trẫm”.


Rồi khiến ông tạm nghỉ việc bộ Lại và bộ Lễ, để chuyên tâm tĩnh dưỡng và ban cấp cho nhân sâm nhục quế. Minh Mạng lại nhận thấy Trịnh Hoài Đức làm quan rất liêm khiết, đến lúc ấy mà chưa có nhà riêng, bèn cho 2.000 quan tiền và săng gỗ ngói gạch để làm nhà ở. Trịnh vâng mạng, cất một sở nhà hiệu Quỳ viên, ở ngoài cửa đông Kinh thành để dưỡng bệnh.


 


XI


Vào cái thời đã có súng tay và đại bác, không thể giữ kiểu thành của thời đại chiến đấu bằng cung tên, gươm giáo, nên vua Gia Long đã quyết định xây Kinh Thành Huế theo kiểu Vauban, vừa mang tính phòng thủ chặt chẽ và kiên cố, vừa mang tính chống trả mạnh mẽ.


Kinh Thành có dạng gần như vuông. Mặt trước hơi khum ra hình cánh cung, vì phải chạy dọc theo bờ hơi cong của sông Hương. Thân thành ở cả bốn mặt chạy khúc khuỷu gần như đều đặn do việc thiết trí các pháo đài ở chung quanh để phòng thủ. Mỗi mặt thành có 5 pháo đài và mỗi góc thành là một giác bào. Nhưng thời Gia Long đều gọi chung là pháo đài cả. Như vậy 4 mặt thành có 24 pháo đài. Mỗi pháo đài có hai bộ phận chính: một đột giác được cấu tạo bởi haimặt pháo đài ở hai bên và hai hông pháo đài nằm kế tiếp hai mặt pháo đài.


Dọc trên tường bắn của các pháo đài, có những chỗ lõm xuống để đặt súng đại bác. Trừ những trường hợp đặc biệt, người ta trổ 3 pháo nhãn ở mỗi hông và 5 pháo nhãn ở mỗi mặt pháo đài. Quanh Kinh Thành có toàn bộ 404 pháo đài với 404 khẩu súng đồng. Thông thường tại mỗi pháo đài có một kho đạn được xây sau đột giác, nhờ đột giác che chở.


Trên thượng thành không phải là một mặt phẳng có độ cao như độ ở mặt ngoài của thân thành mà thấp dần vào trong. Trên thượng thành có xây Kỳ Đài. Đài xây bằng gạch 3 tầng, dưới lớn trên nhỏ, chồng lên nhau. Trên đài xây hai điếm canh và 4 pháo xưởng để bố trí 4 khẩu đại bác. Ở chính giữa mặt bằng của tầng cao nhất dựng cột cờ bằng gỗ.


Chung quanh Kinh Thành trổ 10 cửa vòm, trên xây vọng lâu 2 tầng. Vọng lâu là nơi lính canh đứng để nhìn ra xa. Sát ngoài chân thành cho đến bờ trong của hào, có một dải đất rộng chạy dọc quanh thành gọi là phòng lộ. Nó vừa giữ vững cho móng của thành, vừa dùng làm con đường để binh lính đi tuần tra, vừa giữ một chức năng quan trọng khác: nếu thành bi đại bác địch chọc thủng và đổ xuống thì gạch ống và đất trong mô thành tung ra sẽ được bề mặt dải phòng lộ hứng lấy cả chứ không cho hào bị lấp đầy tạo điều kiện cho bộ binh của đối phương vượt qua và xâm nhập thành. Hào bọc quanh thành rộng khoảng 75 thước ta, sâu khoảng 10 thước ta, được kè đá ở dá hai bờ và với mực nước khoảng 3 thước 75, hệ thống hào vừa dùng làm chướng ngại vật vừa dùng để trồng sen tô điểm cho cảnh quan. Thành giai nằm bên ngoài, bên trong sông Hộ thành. Đó là một dải đất trống vừa dùng làm con đường để binh lính đi tuần tra chung quanh Kinh Thành, vừa tạo ra một không gian trống trải và rộng rãi trước mặt thành để có thể phát hiện kẻ địch từ xa. Sông Hộ Thành bao bọc lấy Kinh Thành, nó còn dùng vào việc giao thông vận tải bằng ghe thuyền. Phần sông ở mặt trước của Kinh Thành là một đoạn của sông Hương. Ở 3 mặt kia đều được đào bằng tay, trừ đoạn trước Trấn Bình Đài có phần hạ lưu tự nhiên của sông Bạch yến được giữ lại.


Thấy mé bên tả Kinh Thành còn là thành đất chưa được xây gạch, nên Minh Mạng liền cho xây đắp mé bên tả để củng cố kinh sư làm nơi căn bản cho thiên hạ. Đến mùa đông mưa dầm, thành bị lở 2.057 trượng(1), vua sai Trần Văn Năng và Nguyễn Văn Vân dốc suất mọi cánh quân để đắp lại. Hai bờ của sông Hộ Thành, được Minh Mạng cho kè đá, mỗi lớp dày khoảng 3 thước 75, trên bắc một số cầu gỗ để người bộ hành qua lại. Minh Mạng lại cho ốp gạch dày 3 thước 2 ở mặt trong và ngoài Trấn Bình Đài Trấn Bình Đài nằm ngoài Kinh Thành chỉ cách Kinh Thành bằng một cái hào chung, một chiếc cầu cây bằng gạch và đá bắc qua để nối liền với nhau.


Công việc củng cố lại Trấn Bình Đài được giao cho Trần Văn Học.


Trấn Bình Đài cần thiết về mặt chiến lược quân sự mà pháo đài ở góc phía bắc Kinh Thành không làm thay nổi nhiệm vụ. Bây giờ, nếu đối phương từ bên ngoài muốn tấn công Kinh Thành thì phải đi bằng tàu thuyền của hải quân vào các cửa biển nằm dọc miền duyên hải Kinh đô, rồi ngược dòng sông Hương. Ở góc này của Kinh Thành có đến hai nhánh của sông Hương chĩa vào. Phải có Trấn Bình Đài để kiểm soát và chế ngự tất cả tàu thuyền lạ mặt xuất hiện trên hai nhánh sông đó, nhất là nhánh sông bên trái - nơi có cảng Bao Vinh tấp nập thương thuyền từ phương xa tụ về. Có người gọi Trấn Bình Đài là cái “cuống họng” của Kinh Thành, còn dân gian thì đặt cho nó một cái tên giản dị: Mang Cá.


Trước đó Minh Mạng sai Lê Chất đôn đốc việc sửa đắp đài Trấn Hải, Lê Chất cho cắm nhiều cây bằng gỗ mà trong đổ gạch đá. Sau đất cát bồi dần ở phía ngoài, nhờ đó mà pháo đài càng vững chắc. Minh Mạng lại sai xây đắp pháo đài Điện Hải ở tỉnh Quảng Nam. Thấy pháo đài ấy liền với bờ bể, bị nước xói làm vỡ lở, đã cắm cọc gỗ để xây đá mà sóng gió mạnh quá, vua sai xây một pháo đài trên ngọn núi nhỏ ở phía đông điếm Nam chân gọi là pháo đài Định Hải. Ít lâu sau, vua lại sai xây đắp pháo đài An Hải để làm thế ỷ dốc cho pháo đài Điện Hải và An Hải.


Đèo Hải Vân ở phía đông nam huyện Phú Lộc, là cửa ải ngăn chia giữa Thừa Thiên và Quảng Nam. Nửa đèo bắc Hải Vân thuộc huyện Phú Lộc, nửa đèo về nam thuộc huyện Hoà Vang. Phía tây là núi Bà Sơn, phía bắc là Hải Sơn, ba ngọn liên tiếp nhau, mạch núi kéo lên cao chót vót đến mây trời, chân choãi ra đến tận biển. Đường đi chín khúc quanh co mới vượt qua đèo.


Đặt chân lên đèo Hải Vân, người ta ngỡ như đang bước vào “thế giới nhà trời” với mây bay, lúc cuồn cuộn, lúc lững lờ, đi trên đèo như đi trên mây. Hai bên đèo cây cối xanh rì, rậm rạp, người đi như vượn leo, chim nhảy. Trên đèo có năm khe nước trong: Khe Kỹ, Khe Vũ, Khe Bé, Khe Lớn, và Khe Hổ Lang. Về phần bắc chân núi kề ra biển có hang Dơi, thuyền nhỏ qua đây thường bị đắm. Dân gian có câu ca: “Đi bộ thì sợ Hải Vân. Đi thuyền thì sợ sóng thần hang Dơi”. Đèo Hải Vân là cửa ngõ đi về Quảng Nam. Bước chân lên đây đưa tay với tận mây trời. Một bên là núi cao dựng đứng, cây cối um tùm tre dày như thành lũy, một bên là biển thẳm mênh mông sóng vỗ bờ ngàn đời không mệt mỏi. Xa xa, những cánh buồm trắng nhấp nhô. Mùi hoa dại của núi rừng thoang thoảng ngào ngạt. Bên kia sườn núi, những đồng mía, nương khoai, ruộng sắn, đồi chè với những nhà tranh mái rạ ẩn náu dưới những gốc cây đa cổ thụ hay những hàng cau thẳng tắp.


(còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 11.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »