tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18462367
28.09.2011
Tư liệu
Tiền Xích Bích Phú – Tô Thức

前赤壁賦-蘇軾


qián chì bì fù - su shì


Nguyễn Quốc Bảo soạn


Tô Thức 蘇軾 su shì , giản thể viết 苏轼 (1037-1101), tự Tử Chiêm 子瞻 zi zhan, hiệu


Đông Pha cư sĩ 東坡居士 dong bo ju shì, quê ở Mi Châu, nay là huyện Mi san1, tỉnh Tứ


Xuyên, đồng hương với những danh tài nổi tiếng như Đỗ Phủ, Lý Bạch,…Tô Tử là một


trong Tám Đệ Nhất Đại gia đời Đường Tống2, phụ thân Tô Tuân 蘇洵 su xún cùng em


trai Tô Triệt 蘇轍 su chè cũng là hai văn hào nổi tiếng, nên thường gọi là Tam Tô


san su 3.


Ông là một nhà Đại Văn học, Thư họa và Họa gia


nổi tiếng thời Bắc Tống (người đời thường gọi là Tô


Đông Pha), Kì thi, từ, phú, tán văn, thư pháp và hội


họa đều là những thành tựu cực cao toàn tài trong


thiên niên lịch sử Văn học Tàu, nghệ thuật của họ Tô


được công nhận như đã đạt đến mức Tối Kiệt của


một Đệ nhất Văn học Đại gia: Tán văn sánh với Âu


Dương Tu 歐陽修 ou yáng xiu nên được gọi là Âu


歐蘇 ou su, Thi sánh với Hoàng Đình Kiên


庭堅 huáng tíng jian nên gọi là Tô Hoàng su huáng, Từ sánh với Tân Khí Tật


辛棄疾 xin qì jí nên gọi là Tô Tân 蘇辛 su xin, thư pháp liệt vào bực Bốn Đại Thư


Pháp Gia đời Bắc Tống «Tô, Hoàng, Mễ, Thái 米蔡 su, huáng, mĭ, cài», Hội họa


đã làm căn bản cho Hồ Châu Họa phái 湖州畫派 hú zhou huà pài sau này. Tô Thức từ


nhỏ đã tỏ ra thông mẫn và ham học, hai mươi mốt tuổi đỗ Tiến sĩ, sớm được bổ nhậm


Hàn Lâm học sĩ kiêm Thị độc4, Long đồ các học sĩ rồi thăng Binh bộ thượng thư; sau đó


1 Xin xem Chú thích phần cuối bài


2 Đường Tống Bát Đại Gia 唐宋八大家 táng sòng ba dà jia: Hàn Dũ hán yù, Liễu Tông


Nguyên 柳宗元 liŭ zong yuán, Âu Dương Tu 欧阳修 ou yáng xiu, Tô Tuân su xún, Tô Thức


苏轼 su shì, Tô Triệt 苏辙 su chè, Vương An Thạch 王安石 wáng an shí và Tằng Củng 曾巩 céng


gǒng.Trứ tác của Tô Thức rất nhiều, hiện nay tồn tại còn Đông Pha Toàn Tập 坡全集 dong bo quán


và Đông Pha Nhạc Phủ dong bo lè fŭ.


3 Thời Mạt Hán nổi danh cũng có Tam Tào phụ tử 三曹父子san cáo fù zi, tức Tào Tháo曹操cáo cào,


Tào Phi 曹丕cáo pi và Tào Thực 曹植cáo zhí.


4 翰林學士兼侍讀 hàn lín xué shì jian shì dú. Khái niệm Thị độc là bồi thị hay luận học khi Vua đọc


sách, hoặc thụ thư hay giảng học cho các hoàng tử. Chức tước Đế Vương thời cổ đại, thị độc là quan giảng


học cho Hoàng tử. Chức vụ thị độc và học sĩ tương đồng, tuy cấp bậc khác biệt và tương đối thấp hơn. Đời


Chim Việt Cành Nam 2


thì sự nghiệp bị trắc trở; nguyên do bị Tạ Cảnh Ôn vu hãm, nên bị biếm5 về Hàng Châu


để xét xử. Năm bốn mươi ba tuổi, lại phát sinh án lý «Ô đài Thi án 烏臺詩案 wu tái shi


àn», ông bị tù và giáng chức xuống làm quan ở Hoàng Châu. Thời gian ở đây ông đã


trước tác Thừa thiên tự dạ du, Đông pha, Huệ sùng xuân giang hiểu cảnh, đương thời là


những tác phẩm nổi tiếng. Qua triều Tống Thần Tông, tể tướng Vương An Thạch cải


cách thay đổi phép tắc, Tô Thức dâng sớ phê bình tân pháp, nên lại nhập ngục, rồi lại bị


biếm đi nhậm chức những địa danh xa xôi như Hàng Châu, Mật Châu, Từ châu, Hoàng


Châu, Huệ Châu, và cả Quỳnh Châu là nơi hẻo lánh trên đảo Hải Nam. Triều Tống Huy


Tông, Tô Thức được ân xá trở về Bắc, lâm bệnh ở Thường Châu rồi mất, thọ sáu mươi


sáu tuổi.


Lúc tại chức ở Hoàng Châu, Tô Thức cất nhà ở Đông Pha (sườn đồi phía Đông, do đó có


danh Tô Đông Pha cư sĩ). Hai bài Tiền và Hậu Xích Bích Phú đều được trước tác ở đây.


Xích Bích là tên một trận địa nổi tiếng, thuộc huyện Gia Ngư tỉnh Hồ Bắc phía Nam sông


Dương Tử, nơi mà năm Kiến An 13 (DL 208), Tào Tháo từ Giang Lăng đuổi đánh Lưu


Bị, rồi Tháo bị khốn quẫn và đại bại bởi Chu Du, tướng Đông Ngô Tôn Quyền, dùng hỏa


công đốt hết chiến thuyền. Bờ sông bị lửa đốt cháy đỏ nên có tên Xích Bích (Sườn Núi


Đỏ).


Hoàng Châu nơi Tô Tử bị đày, bây giờ là huyện Hoàng Cương (tỉnh Hồ Bắc), cũng có


một dãy núi đỏ, cũng có tên là Xích Bích, nhưng không phải Xích Bích ở huyện Gia Ngư


tỉnh Hồ Bắc. Tô Tử du thuyền tại đây, thấy trùng tên, liên nghĩ đến trận chiến Xích Bích


ngày xưa, cao hứng làm nên Bài Phú để luận thiên hạ sự, luận anh hùng và ký thác tâm


sự.


Thư Họa Tiền Hậu Xích Bích Phú của Chúc Vĩnh Minh 祝永明


Zhu Yunming (1460–1526) Bảo tàng viện Thượng Hải


Tống có chức Hàn Lâm Thị Độc 翰林侍讀 hàn lín shì dú, qua Triều Minh và Triều Thanh thì bãi bỏ


hẳn Hàn Lâm Viện Thị Độc 翰林院侍讀 hàn lín yuàn shì dú.


5 Quan bị giáng chức gọi là biếm biăn. Biếm truất 貶黜 biăn chù giáng chức quan và không dùng


nữa.


Chim Việt Cành Nam 3


Tôi không am tường về các thể Thi Phú. Chỉ biết Phú là một thể văn biền ngẫu, cấu trúc


phức tạp, dùng nhiều trợ ngữ và phá ngữ, như trong Tiền Xích Bích Phú. Tự điển viết


Phú: giản thể viết: bộ bối, bèi (gt:), nghĩa là dãi bày. Dãi bày vào thơ gọi là


Phú thi, văn xuôi biền ngẫu đối nhau có vần gọi là Phú. Đọc trên Võng lạc, thấy thể Phú


có từ thời Tiên Tần bên Tàu với những bài nổi tiếng Cao Đường Phú, Thần Nữ Phú của


Tống Ngọc. Thời Hán triều, thể Phú thịnh hành nhất với nhiều tác giả như Giả Nghị, Tư


Mã Tương Như, Dương Hùng, Đông Phương Sóc, Trương Hành... Thời Kiến An, Tào


Thực viết Lạc thần phú, một áng văn chương tuyệt phẩm. Cổ nhân có câu Hán Phú


Đường Thi, Tống Từ Nguyên Khúc. Việt Nam tiếp thụ và cải biến văn học Tàu, nên tất


nhiên có tác phẩm viết bằng thể Phú ; sử sách chép Văn Tế Cá Sấu của Hàn Thuyên, di


sản văn chương chữ Nôm thế kỷ 15 và 16 có chép Quần Hiền Phú Tập (1457 triều Lê


Nhân Tông); nhưng tất cả đều thất lạc. Lúc còn đi học tôi thích đọc Trương Hán Siêu đời


Trần (Ông làm quan trải bốn triều vua: Trần Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông, Dụ


Tông), với bài Bạch Đằng Giang Phú viết bằng Hán tự, diễn Nôm có bản của Đông Châu


Nguyễn Hữu Tiến và Bùi Văn Nguyên. Thời Lê mạt, giữa thế kỷ 18, trong văn chương


Nôm có thấy Ngã Ba Hạc Phú (Nguyễn Lân), Quách Tử Nghi Phú (Nguyễn Hữu Chỉnh).


Sau này, thể Phú thịnh hành, có rất nhiều bài nổi tiếng như Tụng Tây hồ của Nguyễn Huy


Lượng đời Lê mạt Tây sơn, Chiến Tụng Tây hồ của Phạm Thái đời Nguyễn sơ, Hàn nho


Phong vị Phú của Nguyễn Công Trứ, Tài tử đa cùng Phú của Cao Bá Quát, Thầy Đồ Dạy


Học và Hỏng Thi của Trần Tế Xương, vân vân. Văn Tế cũng là thể Phú Đường luật,


những bài nổi danh: Tế Trận Vong Tướng Sĩ của Nguyễn Văn Thành và Tế Võ Tánh và


Ngô Tòng Châu của Đặng Đức Siêu, Văn tế Nghĩa sĩ Cần Guộc của Nguyễn Ðình Chiểu.


***


Phần tiếp của bài viết có thêm Diễn Nghĩa, Diễn Nôm, Diễn Anh Ngữ và chép lại Xích


Bích Hoài Cổ của Đỗ Mục và Vịnh Tiền Xích Bích của Nguyễn Công Trứ. Lúc xưa, cũng


như các học sinh khác, tôi đọc bài « Dịch Tiền Xích Bích Phú » của Phan Kế Bính, tuy


không rành Hán văn nhiều, nhưng hỏi thân phụ dăm ba chữ, rồi cảm thấy bài dịch không


sát với Nguyên tác, lại có phần thiếu sót mà sau này Nguyễn Hiến Lê đã chua thêm. Nay


mạn phép tiền nhân, xin diễn nghĩa lại, lấy cái cảm hứng của kẻ hậu sinh để trả ơn tri


ngộ.


Diễn Nghĩa có điển tích thơ Minh Nguyệt, tức thiên Nguyệt Xuất


trong Kinh Thi, mục Trần Phong, chương Yểu Điệu là chương


đầu của thiên Nguyệt Xuất. Trong bài ca, Tô Thức có câu: Vọng


mỹ nhân hề thiên nhất phương. Tô Thức là kẻ bị biếm, đi nhậm


chức nhỏ ở Hoàng Châu, đâu còn lòng dạ nào nghĩ tới người


Tình. Mỹ nhân ở đây phải hiểu là hiền nhân quân tử, bạn của Tô


Thức ở triều, hoặc có thể nói đến Vua, mà tuy bị biếm, Ông lúc


nào cũng giữ trọn đạo Công thần. Vương Dật trong Ly Tao Tự có


câu: Linh tu mỹ nhân dĩ bể ư quân. Mật phi dật nữ dĩ tị hiền thần,


cầu long loan phụng dĩ thác quân tử, nghĩa : Vua, người đẹp


được cho là sánh ngang với vua ; người đẹp Mật Phi là kẻ hiền


thần, rồng loan phụng để chỉ người quân tử. Khi diễn bài Phú qua


chữ Nôm, tôi cố gắng ôm sát nguyên tác, một là tránh trật ý của


tác giả, hai là dựa trên thể đối của bài bằng những trợ ngữ hoặc phá ngữ để mong giữ


Chim Việt Cành Nam 4


chút ít văn thể. Tỷ dụ cuối bài có câu: Tương dữ chấm tịch hồ chu trung, bất tri đông


phương chi ký bạch. Các bản Hán ngữ đều viết chữ chẩm. Thiều Chửu tự điển ghi:


chẩm nghĩa là gối, nhưng có âm chấm nghĩa là gối đầu. Nên tôi viết chấm và diễn nghĩa:


Cùng gối đầu nằm xéo trong thuyền, không biết trời đã sáng phương đông. Cụ Nguyễn


Hiến Lê diễn: Gối đầu lên nhau mà ngủ; cụ Phan Kế Bính viết : không biết vầng đông đã


sáng bạch tự lúc nào.


Diễn Nôm có bài của Đào Nguyên Phổ, sát ý, tôi rất chuộng, đọc rất suôi, diễn thơ không


bị gò ép nhiều. Bài của Quân Công Thị không biết viết năm nào, chỉ biết ông sinh năm


Mậu Thân 1848, trong bài ông dùng các thổ ngữ cổ miền Trung. Bài diễn Nôm của Ông


cậu tôi TchyA viết dở chừng (không đầy đủ nghĩa) khoảng thập niên 50, đặc biệt tôi thích


bài ca kiểu Minh nguyệt chi thi mà TchyA diễn theo vần điệu những bài hát ả đào, vì lý


do đó, tôi mới có ý soạn Tiền Xích Bích Phú, để có dịp chép lại và bổ sung bài Diễn


Nôm. Tất nhiên một kẻ mù đặc cán mai về thi phú như tôi, thì đây là chuyện làm ẩu,


nhưng cũng vì mê đôi chữ nghĩa và có chút ít máu xịa (tên TchyA trong nhà gọi trẹ ra)


nên thôi thì một liều ba bảy cũng liều…Ngoài ra tôi cũng hân hạnh xin chép thêm Bài


Diễn Nôm của Ông Bạn Trương Ngọc Thạch, một hậu sinh với thi hứng rất cao và cũng


muốn hoài cổ, đi tìm đồng tình và đồng điệu với tiền nhân.


Diễn Nghĩa


(Bất Tiếu Bảo)


Nhâm tuất chi thu, thất nguyệt ký vọng, tô tử dữ khách, phiếm chu du ư xích bích chi hạ.


Thanh phong từ lai, thủy ba bất hưng; cử tửu chúc khách, tụng minh nguyệt chi thi, ca


yểu điệu chi chương. Thiểu yên, nguyệt xuất ư đông san chi thượng, bồi hồi vu đẩu ngưu


chi gian, bạch lộ hoành giang, thủy quang tiếp thiên; túng nhất vi chi sở như, lăng vạn


khoảnh chi mang nhiên. Hạo hạo hồ, như phùng hư ngự phong, nhi bất tri kỳ sở chỉ;


phiêu phiêu hồ, như di thế độc lập, vũ hóa nhi đăng tiên.


Mùa thu năm Nhâm Tuất, ngày rằm tháng bảy, Tô Tử cùng khách, đi thuyền bơi dưới núi


Xích Bích. Gió thanh (sạch) từ từ lại, sóng không gợn; nâng rượu mời khách, ngâm thơ


Minh Nguyệt, ca chương Yểu Điệu. Lát sau, trăng lên trên núi Đông San, lửng lơ khoảng


Chim Việt Cành Nam 5


giữa sao Ngưu sao Đẩu, sương trắng tỏa ngang sông, nước sáng nối liền trời; một lá cỏ


lau (thuyền) thao túng khắp nơi, vượt qua vạn khoảng mênh mông. Ôi mênh mông, như


trên không cỡi gió, không biết dừng lại ở đâu; ôi nhẹ nhàng, như bỏ sót đời còn một


mình, hóa thành lông bay lên tiên.


壬戌之秋,七月既望,蘇子與客,泛舟游於赤壁之下。清風徐來,水


波不興;舉酒屬客,誦明月之詩,歌窈窕之章。少焉,月出於東山之


上,徘徊於鬥牛之間,白露橫江,水光接天;縱一葦之所如,淩萬頃


之茫然。浩浩乎,如馮禦風,而不知其所止;飄飄乎,如遺世獨立


,羽化而登仙。


rén xu zhi qiu, qi yuè jì wàng, su zi yŭ kè, fàn zhou yóu yú chì bì zhi xià. Qing feng xú lái,


shuĭ bo bù xìng; jŭ jiŭ shŭ kè, sòng míng yuè zhi shi, ge yăo tiăo zhi zhang. shǎo yān, yuè


chu yú dong shan zhi shàng, pái huái yú dòu niú zhi xián, bái lù héng jiang, shuĭ guang


jie tian; zòng yi wĕi zhi suǒ rú, líng wàn qĭng zhi máng rán. hào hào hu, rú féng xu yù


feng, ér bù zhi qí suǒ zhĭ; piao piao hu, rú yí shì dú lì, yŭ huà ér deng xian.


***


Ư thị ẩm tửu lạc thậm, khấu huyền nhi ca chi. Ca viết :


Quế trạo hề lan tưởng, kích không minh hề tố lưu quang. Miểu miểu hề dư hoài, vọng mỹ


nhân hề thiên nhất phương.


Thôi thì uống rượu vui thích lắm, gõ mạn thuyền mà ca. Ca rằng:


(Cây) quế thuyền hề (hoa) lan (mái) chèo, kích (gõ) không sáng hề ngược dòng nước


trong, man mác hề ta hoài bão, ngóng mỹ nhân (quân tử, hiền nhân) hề tận một phương


trời.


於是飲酒樂甚,扣舷而歌之。歌曰:


桂棹兮蘭槳,擊空明兮泝流光。渺渺兮予懷,望美人兮天一方。


yú shì yĭn jiŭ lè shèn, kòu xián ér ge zhi. ge yue :


guì zhào xi lán jiăng, jí kōng míng xi sù liú guang. miăo miăo xi yú huái, wàng mĕi rén xi


tian yi fang.


***


Khách hữu xuy đỗng tiêu giả, ỷ ca nhi hòa chi. Kỳ thanh ô ô nhiên, như oán như mộ, như


khấp như tố, dư âm niệu niệu, bất tuyệt như lũ; vũ u hác chi tiềm giao, khấp cô chu chi ly


phụ.


Ấy có khách thổi ống tiêu, dựa lời ca mà hòa nhịp. Tiếng tiêu ôi thôi đốt cháy, như oán


như quyến luyến, như khóc như than oan, dư âm niệu niệu, không dứt như sợi tơ ; làm


Chim Việt Cành Nam 6


thuồng luồng ở ẩn múa may nơi hang hốc tối tăm, làm đàn bà góa trong thuyền cô quạnh


cũng sụt sùi.


客有吹洞簫者,倚歌而和之。其聲嗚嗚然,如怨如慕,如泣如訴,餘


音嫋嫋,不如縷;舞幽壑之潛蛟,泣孤舟之嫠婦


kè yǒu chui dòng xiao zhĕ, yĭ ge ér hé zhi. qí sheng wu wu rán, rú yuàn rú mù, rú qì rú sù,


yú yin niăo niăo, bù jué rú lǚ; wŭ you huò zhi qián jiao, qì gu zhou zhi lí fù.


***


Tô tử thiểu nhiên, chính khâm nguy tọa, nhi vấn khách viết: hà vi kỳ nhiên dã ?


Khách viết: nguyệt minh tinh hi, ô thước nam phi, thử phi tào mạnh đức chi thi hồ? Tây


vọng hạ khẩu, đông vọng vũ xương, san xuyên tương mâu, uất hồ thương thương, thử phi


mạnh đức chi khốn ư chu lang giả hồ? Phương kỳ phá kinh châu, hạ giang lăng, thuận lưu


nhi đông dã, trục lô thiên lý, tinh kỳ tế không, si tửu lâm giang, hoành sóc phú thi; cố


nhất thế chi hùng dã, nhi kim an tại tai? Huống ngô dữ tử, ngư tiều ư giang chử chi


thượng, lữ ngư hà nhi hữu mi lộc; giá nhất diệp chi biển chu, cử bào tôn dĩ tương chúc; kí


phù du ư thiên địa, miểu thương hải chi nhất túc, ai ngô sanh chi tu du, tiện trường giang


chi vô cùng! Hiệp phi tiên dĩ ngao du, bão minh nguyệt nhi trường chung; tri bất khả hồ


sậu đắc, thác di hưởng ư bi phong.


Tô Tử xịu mặt, sửa áo ngồi thẳng ngay ngắn, hỏi khách rằng : Cớ sao gây nên sự thể như


thế ?


Khách đáp : Nguyệt minh tinh hi, ô thước nam phi (Trăng sáng sao thưa, quạ chim bay về


Nam), ấy không phải thơ Tào Mạnh Đức (Tào Tháo) ư ? Tây trông Hạ Khẩu (Hán Khẩu,


Hồ Bắc), đông nhìn Vũ Xương (Hồ Bắc), núi sông uốn khúc lẫn nhau, ôi rạng rỡ xanh


tươi, đó phải chăng nơi Mạnh Đức bị khốn quẩn bởi Chu Lang ? (Chu Du, Công Cẩn).


Đương khi phá Kinh Châu (Hồ nam), hạ Giang Lăng, thuận dòng sang tới Đông, thuyền


bè ngàn dặm, cờ tán rợp trời, rót chén rượu đứng trên sông, cầm ngang ngọn giáo ngâm


thơ ; thật là anh hùng một đời, mà nay còn ở đâu ? Phương chi tôi nhập bọn, người đánh


cá kẻ kiếm củi trên bãi sông, cá tôm là bạn hươu nai là hữu, dạo thuyền nhỏ như chiếc lá,


nhắc bầu và chén rượu rót cho nhau ; gửi thân phù du nơi Trời Đất, là một hạt thóc trên


bể khơi bát ngát, rồi thương đời chỉ khoảnh khắc chốc lát, mà ham muốn thay sông dài


không cùng! Cắp tiên bay đi ngao du, ôm trăng sáng để sống đời; biết không thể thốt


nhiên có được, nảy ra tiếng đau khóc sót lại trong gió.


蘇子愀然,正襟危坐,而問客曰:何為其然也?


客曰:月明星稀,烏鵲南飛,此非曹孟德之詩乎?西望夏口,東望武


昌,山川相繆,鬱乎蒼蒼,此非孟德之困於周郞者乎?方其破荊州,


下江陵,順流而東也,舳艫千里,旌旗蔽空,釃酒臨江,橫槊賦詩;


固一世之雄也,而今安在哉?況吾與子,漁樵於江渚之上,侶魚蝦而


友糜鹿;駕一葉之扁舟,舉匏樽以相屬;寄蜉蝣於天地,渺滄海之一


Chim Việt Cành Nam 7


粟,哀吾生之須臾,羡長江之無窮!挾飛仙以遨游,抱明月而長終;


知不可乎驟得,托遺響於悲風。


su zi qiăo rán, zhèng jīn wēi zuò, ér wèn kè yue: hé wéi qí rán yĕ ?


kè yue: yuè míng xing xi, wu què nán fei, cĭ fei cáo mèng dé zhi shi hu? xi wàng xià kǒu,


dong wàng wŭ chang, shan chuan xiang miào, yù hu cang cang, cĭ fei mèng dé zhi kùn yú


zhou láng zhĕ hu? fang qí pò jing zhou, xià jiang líng, shùn liú ér dong yĕ, zhú lú qian lĭ,


jing qí bì kong, xĭ jiŭ lín jiang, héng shuò fù shi; gù yi shì zhi xióng yĕ, ér jin an zài zai?


kuàng wú yŭ zi, yú qiáo yú jiang zhŭ zhi shàng, lǚ yú xia ér yǒu mí lù; jià yi yè zhi piān


zhōu, jŭ páo zun yĭ xiang shŭ; jì fú yóu yú tian dì, miăo cang hăi zhi yi sù, ai wú sheng zhi


xu yú, xiàn cháng jiang zhi wú qióng! xiá fei xian yĭ áo yóu, bào míng yuè ér cháng


zhong; zhi bù kĕ hu zòu de, tuo yí xiăng yú bei feng.


***


Tô tử viết: khách diệc tri phu thủy dữ nguyệt hồ ? Thệ giả như tư, nhi vị thường vãng dã;


doanh hư giả như bỉ, nhi tốt mạc tiêu trường dã. Cái tương tự kỳ biến giả nhi quan chi, tắc


thiên địa tằng bất năng dĩ nhất thuấn; tự kỳ bất biến giả nhi quan chi, tắc vật dữ ngã giai


vô tận dã. Nhi hựu hà tiện hồ ? Thả phu thiên địa chi gian, vật các hữu chủ. Cẩu phi ngô


chi sở hữu, tuy nhất hào nhi mạc thủ. Duy giang thượng chi thanh phong, dữ san gian chi


minh nguyệt, nhĩ đắc chi nhi vi thanh, mục ngộ chi nhi thành sắc. Thủ chi vô cấm, dụng


chi bất kiệt. Thị tạo vật giả chi vô tận tàng dã, nhi ngô dữ tử chi sở cộng thích.


Khách hỉ nhi tiếu, tẩy trản canh chước. Hào hạch ký tận, bôi bàn lang tạ. Tương dữ chấm


tịch hồ chu trung, bất tri đông phương chi ký bạch.


Tô Tử nói: Thế khách cũng biết Nước cùng Trăng chứ ? Nước chảy mãi không trở lại, thế


mà chưa từng đi đến nơi, trăng tròn rồi khuyết, cũng không tăng mà chẳng giảm. Đem tự


Biến đổi mà quan sát, thời há chăng Trời Đất cùng là một chớp mắt; đem cái Không Biến


đổi mà xem, thời sự vật với Ta đều vô tận. Sao lại phải thèm thuồng? Vả lại trong Trời


Đất, muôn vật đều có chủ, ví thực không phải của ta, dầu chỉ một li tuyệt không lấy. Chỉ


có gió mát trên sông, cùng trăng sáng khoảng giữa núi, tai thì được nghe tiếng, mắt gặp


thì thành sắc. Lấy không cấm, dùng không hết. Sự vật tạo nên kho vô tận, chính là của


chung Tôi với Bác.


Khách mừng cả cười, rửa chén đổi rót rượu. Đồ nhắm hạt quả đã hết, chén mâm bừa bãi.


Cùng gối đầu nằm xéo trong thuyền, không biết trời đã sáng phương đông.


蘇子曰:客亦知夫水與月乎?逝者如斯,而未嘗往也;盈者如彼,


而卒莫消長也。 蓋將自其變者而觀之


,則天地曾不能以一瞬;自其不變者而觀之,則物與我皆無盡也。而


又何羨乎?且夫天地之閒,物各有主。苟非吾之所有,雖一毫而莫取


。惟江上之清風,與山閒之明月,耳得之而為聲,目遇之而成色。取


Chim Việt Cành Nam 8


之無禁,用之不竭。是造物者之無盡藏也,而吾與子之所共適。


客喜而笑,洗盞更酌。肴核既盡,杯盤狼籍。相與枕籍乎舟中,不知


東方之既白。


su zi yue : kè yì zhi fu shuĭ yŭ yuè hu ? shì zhĕ rú si, ér wèi cháng wăng yĕ ; yíng xu zhĕ


rú bĭ, ér zú mò xiao cháng yĕ. gài jiang zì qí biàn zhĕ ér guan zhi, zé tian dì céng bù néng


yĭ yi shùn ; zì qí bù biàn zhĕ ér guan zhi, zé wù yŭ wǒ jie wú jìn yĕ. ér yòu hé xiàn hu? qiĕ


fu tian dì zhi xián, wù gè yǒu zhǔ. gǒu fei wú zhi suǒ yǒu, sui yi háo ér mò qŭ. wéi jiang


shàng zhi qing feng, yŭ shan xián zhi míng yuè, ĕr de zhi ér wéi sheng, mù yù zhi ér chéng


sè. qŭ zhi wú jìn, yòng zhi bù jié. shì zào wù zhĕ zhi wú jìn cáng yĕ, ér wú yŭ zi zhi suǒ


gòng shì.


kè xĭ ér xiào, xĭ zhăn gèng zhuó. yáo hé jì jìn, pei pán láng jí. xiang yŭ zhĕn jí hu zhou


zhong, bù zhi dong fang zhi jì bái.


Chim Việt Cành Nam 9


Chim Việt Cành Nam 10


Diễn Nôm


Bài của TchyA & Bất Tiếu Bảo


Thu Nhâm Tuất ngày Rằm tháng bẩy


Khách lắm người hội với Tô Công


Thả thuyền một lá trên sông


Cuối dòng Xích Bích bình bồng ngao du


Gió hiu hắt sóng thu chẳng gợn


Nhấc chén quỳnh chúc bạn mua vui


Ngâm thơ Trăng Sáng mà chơi


Lấy chương Yểu Điệu lựa lời xướng ca


Non Đông bỗng gương Nga thấp thoáng


Lững lờ treo trong khoảng Đẩu Ngưu


Ngang sông sương trắng một mầu


Lừng lừng nước sáng soi cao tiếp trời


Thuyền một lá rong chơi đây đó


Bơi một vùng non nước bao la


Lồng lộng vui thú yên hà


Tựa là cỡi gió biết mà dừng đâu


Lâng lâng tựa bể sâu xa lánh


Chơ vơ như mọc cánh lên tiên


Thôi thì uống rượu liên miên


Mạn thuyền ta gõ hát liền hò khoan


Hát rằng : Lái quế (anh ơi) chèo lan


Vỗ bầu không sáng (mà để) theo làn nước trong


Bâng khuâng (tình bằng) lòng những hỏi lòng


Đợi người bạn ngọc (thế mấy) ngóng trông phương trời


Khách du bỗng có một người


Ống tiêu hòa lại theo lời xướng ca


Tiếng ai oán rên la rầu rĩ


Nhường quyến luyến van vỉ nhớ nhung


Ngân dài không dứt tơ trùng


Vẳng ra lại gợn, gợn xong lại rền


Rồng nhảy múa trong miền hang tối


Xụt sùi thương cùng nỗi góa chồng


Thoát nghe Tô Tử trạnh lòng


Ngồi ngay sửa áo khăn xong hỏi rằng


Chim Việt Cành Nam 11


Cớ sao bỗng tự dưng buồn thế


Tình cảnh gì khá kể nghe xưa


Khách rằng: Trăng sáng sao thưa


Trời nam chim quạ ngẫn ngơ bay ào


Há chẳng phải thơ Tào mạnh Đức


Vũ Xương kia khu vực miền Tây


Đông thì Hán Khẩu này đây


Nước non tươi tốt cỏ cây xanh rì


Phải chăng đó trước vì Công Cẩn


Tào đã từng khốn quẩn đây không?


Thuận giòng trẩy xuống phía Đông


Phá Kinh Châu lại hạ vùng Giang Lăng


Thuyền ngàn dậm tràn sang tấp tới


Cờ ngất trời phất phới tung bay


Qua sông uống rượu vui vầy


Cất ngang một ngọn giáo dài ngâm thơ


Một đời cũng đã là dũng sĩ


Nay còn đâu dư khí anh hùng


Bầy choa6 câu bắn trên sông


Chơi cùng tôm cá bạn cùng hươu nai


Thuyền lá nhỏ thả chơi không bến


Rượu bầu còn chuốc chén khuyên mời


Phù du gửi đất gửi trời


Bể khơi dường hạt thóc thôi đó mà


Cuộc ngắn ngủi đời ta có ngán


Khen sông trôi vô hạn thì hên


Cắp Tiên bay bổng lên trên


Ôm ghì chị Nguyệt vẹn tuyền với trăng


Được như thế biết rằng chẳng có


Tiếng tiêu thừa gửi gió làm khuây


Tô rằng: trăng nước vơi đầy


Khách ôi có biết sự này từ xưa


Trăng tròn khuyết khi mờ khi sáng


Nước thấp cao khi giáng khi thăng


Thấp cao mặt nước vẫn bằng


Khuyết tròn trăng vẫn là trăng đó mà


6 Bầy choa là thổ ngữ miền Thanh hóa, đặc biệt tại quê ngoại Quảng Xương, nghĩa chúng tớ đây. Tôi cố ý


dụng chữ để tưởng nhớ đến Ngoại Tổ ở Quảng Xương và TchyA Đái Đức Tuấn có thời đi tu tiên tại đây.


Chim Việt Cành Nam 12


Từ chỗ Biến mà ta quan sát


Trời đất cùng một chớp mắt thôi


Xét vòng Không Biến mà coi


Ta cùng trời đất cùng dài như nhau


Cớ sao lại khen dâu bể nhỉ


Ngẫm kỹ xem trên thế gian này


Giữa gầm trời rộng đất dầy


Vật nào mà chẳng có thầy chủ thương


Nếu không phải của thường ta có


Dẫu tơ hào tí xíu cũng không


Chỉ duy gió mát trên sông


Và trong khoảng núi trăng trong một vành


Tai nghe tiếng mắt hình dung sắc


Không ai cấm cứ lấy mà chơi


Dùng thì chẳng hết được rồi


Ấy kho vô tận của trời đất chung


Tôi với bác đều cùng một lứa


Cùng một lòng lấy đó làm vui


Khách nghe hớn hở tươi cười


Chén quỳnh rửa sạch lại mời chuốc nhau


Các thức nhắm trước sau hết sạch


Để mâm bàn chén tách ngổn ngang


Gối đầu cùng ngủ trong khoang


Li bì đâu biết sáng toang lúc nào.


Bài của Trương Ngọc Thạch


Thu Nhâm Tuất ngày rằm tháng bảy,


Tô Tử đi cùng khách dưới thuyền,


Núi Xích Bích cao vút bên trên,


Gió hiu nhẹ không lên gợn sóng,


Mời khách chén rượu nóng, ngâm liền


Bài Minh Nguyệt thuộc thiên Yểu Điệu.


Trên đỉnh núi Đông Sơn sừng sững,


Trăng lên dần lơ lửng tầng cao


Nằm ngay giữa hai sao Ngưu Đẩu.


Chim Việt Cành Nam 13


Sương trắng tỏa ngang đầu nước sáng,


Nước với trời liên mạng vào nhau,


Thuyền lướt sóng nhẹ tựa cỏ lau,


Qua vạn khoảnh rộng sâu sông nước.


Mênh mông như trên không lướt gió,


Không biết đang đây đó nơi nao,


Nhẹ nhàng như sót lại ta nào,


Hóa thành lông bay vào tiên cảnh.


Nhắp chén rượu vui vui trong bụng,


Gõ mạn thuyền nổi hứng ca vang,


Ca rằng: "Thuyền quế, chèo lan,


Trên trời rực sáng dưới làn nước trong.


Mang mác nhẹ lòng tơ tưởng nhớ,


Ngóng mỹ nhân cách trở phương xa."


Khách hứng lấy tiêu ra hòa nhịp,


Tiếng tiêu nghe kịp đốt tâm can,


Như ai oán, như khóc, như than.


Âm mướt như tơ lan tuôn mãi,


Thuồng luồng nghe quằn quại trong hang,


Sụt sùi khóc, goá phụ trong khoang


Thương phận mình lang thang chiếc bóng.


Tô Tử buồn, sửa tà, ngồi thẳng,


Hỏi khách rằng: "Chẳng hiểu cớ sao


Tiêu âm bác thảm sầu quá đáng ?"


Khách đáp rằng: "Trăng sáng sao thưa,


Quạ về Nam, thơ Tào Mạnh Đức?


Tây Hạ Khẩu, Vũ Xương đông bắc,


Núi với sông uốn khúc vào nhau,


Cỏ cây xanh rực rỡ tươi mầu,


Chẳng phải đây khổ sầu Mạnh Đức


Bởi Chu Lang vây bức hay sao?


Trong khi đang đánh phá Kinh Châu,


Chiếm Giang Lăng, tuyến đầu đông tiến,


Thuyền ngàn dặm hiển hiện chặt sông,


Cờ trước gió mênh mông rợp khắp,


Rót chén rượu, tay cắp ngọn giáo,


Trổi ngâm lên mấy đạo vần thơ.


Anh hùng oanh liệt khi xưa


Nay đâu còn nữa âu là phận ta !


Thân đánh cá vào ra kiếm củi,


Bạn cùng hươu, nai, cá với tôm,


Ngồi lá thuyền sớm tối chiều hôm,


Chim Việt Cành Nam 14


Nâng bầu rượu mời nhau lưng chén,


Gửi thân phận phù phiếm ở đời


Như hạt thóc biển khơi bát ngát,


Thương mảnh đời khoảnh khắc chóng qua,


Mong được làm sông xa vô tận,


Cặp tiên bay lên tận cõi trời,


Ôm trăng sáng sống đời vạn kiếp.


Biết không thể thốt nhiên có hết


Mượn tiếng tiêu gửi đến gió sương."


Tô Tử nghe như vậy tiếp luôn:


"Bác cũng biết Nước cùng Trăng chứ ?


Nước chảy miết không về chốn cũ,


Ta đi mãi chưa đủ đến nơi.


Tròn rồi khuyết, trăng thời vẫn thế,


Lấy cái Biến để ta quan sát


Trời đất này cũng như chớp mắt,


Lấy Bất Biến phân tìm sự thật


Ta thấy rõ sự vật vô biên,


Tại sao lại li ên miên thèm khát ?


Của trên đời ắt nhiên có chủ,


Không của ta, thủ giữ làm chi ?


Gió trên sông vi vu nghe tiếng,


Trăng khe núi chiếu sáng ta xem,


Tha hồ đem dùng hoài không hết.


Cùa trời đất hệt kho vô tận,


Là của chung, vận hưởng bác tôi.


Rót thêm rượu, khách cười thoải mái,


Đồ nhắm cạn, bừa bãi chén mâm,


Gối mạn thuyền, ngả lưng nằm xuống,


Chẳng biết trời chuyển hướng rạng đông.


Bài của Đào Nguyên Phổ


Năm Nhâm Tuất qua rằm tháng bảy,


Ông Tô công7 cùng mấy người quen,


Trên sông Xích Bích con thuyền,


Gió hiu hiu thổi, sóng êm êm dừng.


Cuộc mời khách tay nâng chén rượu,


7 Tôi nghĩ chữ Ông (Tô Công) ở đây là một thừa từ, nhũng ngữ cú冗語句, pléonasme rǒng yŭ jù, cũng


như ta nói Cụ Khổng Tử (thường hay nói Khổng Tử hay Cụ Khổng).


Chim Việt Cành Nam 15


Thơ Nguyệt minh Yểu điệu ngâm rền,


Non đông chợt thấy sáng lên,


Vầng trăng lơ lửng giữa chiền đẩu ngưu.


Móc ngang sông phau phau làn trắng,


Nước in trời loang loáng vẻ xanh,


Buông theo chiếc lá lênh đênh,


Ðè muôn đợt sóng mông mênh cõi ngoài.


Lồng lộng tựa lưng trời cỡi gió,


Mà biết rằng dừng đỗ nơi nao,


Nhởn nhơ thoát tục lên cao,


Hóa ra lông cánh bay vào cõi tiên.


Vui vẻ rượu nhắp liền mấy chén,


Gõ nhịp thuyền cất tiếng hát ran,


Hát rằng: “Chèo quế buồm lan,


Ðập tung ánh sáng, miết lên ngược dòng.


Xa thăm thẳm chạnh lòng tưởng nhớ,


Trông mỹ nhân cách trở phương trời.”


Khách liền thổi sáo họa bài,


Vo vo tiếng sáo như người khóc than.


Như mến tiếc căm hờn mọi nỗi,


Giọng ngân dài tựa mối tơ vương.


Hang sâu quằn quại thuồng luồng,


Thảm tình gái góa thuyền xuông sụt sùi.


Ông Tô xốc áo ngồi chỉnh chệ,


Hỏi khách sao buồn thế này ư?


Khách rằng: “Trăng sáng sao thưa,


Ðàn chim ô thước lững lờ về nam”.


Câu thơ ấy ai làm thủa trước,


Chẳng phải Tào Mạnh Ðức đó không?


Vũ Xương, Hạ Khẩu tây đông,


Nước non quanh quất mấy trùng xanh xanh.


Ấy chẳng phải Tào binh thuở nọ,


Bị Chu Lang đánh đổ đấy không?


Kinh Châu vừa mới phá xong,


Giang Lăng đạp đổ thuận sông xuôi thuyền.


Sông nghìn dặm chật liền tàu chiến,


Trời bốn phương che kín bóng cờ.


Giữa vời lọc rượu nhởn nhơ,


Quay ngang ngọn giáo ngâm thơ một bài.


Anh hùng nhất trên đời lừng lẫy,


Mà bây giờ nào thấy ở đâu,


Huống ta vớt củi buông câu,


Lứa đôi tôm cá, bạn bầu hươu nai.


Thuyền một lá vui chơi chèo chống,


Rượu lưng bầu êm giọng chuốc luôn.


Xác vờ gởi mặc kiền khôn,


Chim Việt Cành Nam 16


Tẻo teo hạt thóc trong cồn bể xanh.


Thoáng một chốc kiếp sinh là mấy,


Khen con sông nước chảy khôn cùng.


Cắp tiên chơi chốn non Bồng,


Tay ôm chị nguyệt những mong trọn đời.


Biết không thể vật nài thế được,


Giọng buồn ngâm gởi trước gió bay.”


Ông Tô rằng: “Khách có hay,


Kìa kìa nước ấy trăng này đó không?


Nước kia vẫn xuôi dòng chảy xiết,


Mà chưa từng đi hết chút nao.


Trăng kia có lúc đầy hao,


Mà ta chưa thấy khi nào bớt thêm.


Cứ lúc biến mà xem trời đất,


Thì chẳng qua chớp mắt mà thôi.


Cứ khi không biến mà coi,


Thì ai ai cũng lâu dài như nhau.


Vả thử ngẫm trong bầu vũ trụ,


Có vật gì không chủ đâu mà.


Vật gì chẳng phải của ta,


Dẫu từ một mảy chớ hòa nhúng tay.


Chỉ trên nước hây hây gió thổi,


Với sườn non vòi vọi trăng treo,


Tai nghe văng vẳng tiếng reo,


Mắt trông thấp thoáng có nhiều vẻ tươi.


Mặc sức lấy nào ai dám giữ,


Tha hồ tiêu vẫn cứ chứa chan,


Của trời kho đụn vô vàn,


Mà đôi ta hãy chơi tràn là vui.


Khách mừng rỡ miệng cười tay rót,


Nhắm cạn rồi mâm bát ngổn ngang,


Kề lưng dựa gối trong khoang,


Quá say nào biết đã tang tảng ngày.


Bài của Quân Công Thị (*)


Năm Nhâm tuất mùa thu tháng bảy,


Mới qua rằm trăng hãy còn hin.


Ông Tô cùng khách dời thuyền.


Chơi nơi Xích Bích gần miền Kinh Châu.


Gió phảng phất dòng sâu sóng lặng,


Cất chén mời khách hẳn vui ưa;


Ngâm nga Nguyệt xuất thi xưa,


Chim Việt Cành Nam 17


Liền câu yểu điệu cảnh giờ khéo in.


Phương đông thoắt trăng lên chóp núi,


Trong Đẩu, Ngưu noi dõi dần dà;


Sông trong, nước rạng bao la,


Ngang giăng móc trắng, là đà trời xanh.


Bồng một chiếc thích tình hứng cảnh,


Nước mênh mang muôn khoảnh xông pha;


Phới như cỡi gió bay qua,


Nương không lóng biết đâu là đến đâu.


Phơ phơ giống đời hầu có một,


Bỏ phàm trần cởi lốt lên tiên;


Chừng khi ấy dốc rượu liền,


Vui chi xiết gõ mạn thuyền ca xoang.


Trổi một khúc: "Thuyền lan, chèo quế,


"Vỗ trong ngần ngược vẻ rạng trôi;


Đăm đăm luống dạ ai hoài,


Mỹ nhân trông tưởng cách trời một phương."


Thổi tiêu sẵn có chàng đạo sĩ,


Nương lời ca rủ rỉ họa theo;


Cô cô loan phượng tiếng kêu,


Dở hờn, dở khóc, dở chiều, dở than!


Tiếng thừa thãi khoan khoan réo rắt,


Rõ ràng nghe chẳng dứt như tơ;


Đầm sâu giao lặn mưa kỳ


Thuyền không gái góa sầu bi lỡ đường.


Đông Pha lão nghe tường buồn bã,


Sửu bào ngồi hỏi gã thấp cao;


Hỏi rằng: "Do dĩ làm sao,


Tiệc vui thổi khúc tiêu tao lấy gì?


Khách dẫn thi: "Tinh hy nguyệt bạch,


Mạnh Đức ngâm Xích Bích phải không?


Xanh xanh đoái khắp tây đông,


Vũ Xương, Hạ Khẩu non sông tí mù.


Ấy chẳng phải đánh đua tài trí,


Nên Tào Man khốn bị Chu Lang;


Đương sơ Kinh địa phá tan,


Giang Lăng cũng đã tro tàn dòng xuôi.


Thuyền ngàn dặm nối đuôi giữa sóng,


Cờ muôn cơn rợp bóng trên không;


Rượu thi tới bến gác dòng,


Hùng tài tót thế gẫm không ai bì.


Đến giờ há còn chi đâu có?


Huống nữa là ngư nọ tiều kia.


Đòi ta bãi bạc, cồn le,


Vui vầy tôm cá, bạn bè hươu nai.


Lênh đênh vãi thuyền chài một lá,


Chim Việt Cành Nam 18


Hê ha khuyên rượu lã vài hồ;


Dầm vàng gởi cái phù du,


Dự chi hốt thóc xô bồ biển thương.


Đời người gẫm thảm thương thấm thoắt,


Sông giang khen dài dặc không cùng;


Giày phi tiên cắp thung dung,


Ôm châu minh nguyệt muốn cùng dài lâu.


Liệu chẳng khá kíp cầu mà đặng,


Đem tiếng thừa phải nhắn gió đông".


Ông rằng: "Này khách biết không?


Mặt trăng phải tỏ, lòng sông phải dò.


Nước chảy mãi có mô trôi thẳng,


Trăng khuyết tròn trọn chẳng tiêu hao.


Hãy coi lẽ biến làm sao,


Lại coi chẳng biến thế nào thời hay.


Biến nháy mắt trời xoay đất trở,


Chẳng biến thời như rứa đeo tai;


Vật người chẳng hết còn hoài,


Có gì mà lại dong dài khong khen.


Vả lại xét trong nền Tạo hóa,


Các vật đều có gã chủ trương;


Dầu ta không có nõ màng


Mảy lông chớ đúng, muôn vàn kể chi.


Vui mặt nước những khi êm mát,


Cùng đầu non mấy lượt thanh tao.


Trăng thanh gió mát nghêu ngao,


Trăng non, gió nước dồi dào hòa hai.


Tiếng không hẹn lọt tai càng đớt


Sắc tình cờ vào mắt mà nên;


Mua vui nào phải tốn tiền


Tai dùng không chán, mắt nhìn không no.


Ấy tạo vật là kho vô tận


Ta cùng ngươi chỗ sẵn chơi chung".


Khách cười chi xiết mừng lòng,


Vội vàng rửa chén, rắp mong nghiêng bầu.


Cơm rượu thảy hồi lâu ráo xáo,


Chén bát đà lộn lạo ngửa nghiêng;


Cùng nhau chiếu gối trong thuyền,


Không dè trời đã rạng liền hướng đông.


(*) Quân công thị tức Hoằng Hóa Quận vương, Miên Triện, con thứ 66 của vua Minh


Mạng. Minh Mạng Nguyễn Phúc Kiểu có 78 con trai, út là An Thành Vương Miên Lịch.


Chim Việt Cành Nam 19


Diễn qua Anh Ngữ


Bài của Liu Shih Shun


Bài diễn ra tiếng Anh dùng ghi âm Hán tự Wade-Giles (WG), không dùng hanyun pinyin


(py), thông dụng nên gọi là phổ thông hỏa, pǔtōnghuà. Có rất nhiều cách ghi âm: tỷ như


EFEO là cách ghi âm của Ecole francaise d’Extreme-Orient, do Seraphin Couvreur tạo ra


khoảng 1902 dùng bởi cộng đồng nói Pháp ngữ (francophonie) cho tới giữa thế kỷ 20.


Cộng đồng Anh ngữ thì dùng Wade-Giles, người Tàu


gọi là 威妥瑪拼音, Uy Thỏa mã bính âm wei tuǒ mă


pin yin. Cách ghi âm này dựa trên thổ ngữ Mandarin


Bắc Kinh do Thomas Wade xướng khởi khoảng giữa


thế kỷ19, chính thức hóa bằng quyển Tự điển Chinese-


English của Herbert Giles năm 1892. Hầu như các sách


tiếng Anh viết về Tàu, đều dùng Wade-Giles suốt cả thế kỷ 20, bây giờ thì hầu hết thay


thế bằng Bính âm, nhưng Đài loan vẫn còn dùng mã ghi âm WG này. Thí dụ năm Nhâm


Tuất ở đây tác giả ghi thêm Emperor Shen-tsung of the Sung dynasty, 1068-1085, the fifth


year of Yuan-feng (1078-1085) being 1082. Shen-tsung (WG), là Vua Thần Tông py sẽ


viết là shénzong 神宗, đời (Bắc) Tống (WG: Sung; py: song; Tống triều 宋朝; pinyin:


sòngcháo; Wade-Giles: Sung-Ch'ao), niên hiệu Nguyên Phong WG: Yuan-feng 元豐,


py: Yuánfēng. Tôi không quen với WG, nên phần nhiều, khó nhận ra chữ. Đặc biệt Xích


Bích, py: chìbì, WG viết Ch’ih-pi. Trên Võng, ít hay không thấy dùng WG nữa. Nay chép


lại bài Diễn Anh ngữ này của Lưu Thế Thuận Líu Shì Shùn, tôi khá thích vì diễn sát với


nguyên tác của Tô Tử dụng từ ngữ rất chính xác, nên nhân dịp tôi chua thêm những hán


tự bằng Bính âm pinyin, bên cạnh các ghi âm Wade-Giles mà tác giả Liu Shih Shun8


dùng. Ở đây tác giả Tàu viết: Nhâm Tuất là năm thứ Năm niên hiệu Nguyên Phong triều


Thần Tông, trong khi trong Cổ Văn Trung Quốc, Nguyễn Hiến Lê ghi: Nhâm Tuất tức là


năm thứ tư niên hiệu Nguyên Phong, đời Tống Thần Tông (1082); năm đó Tô Thức 46


tuổi. Theo Âm Lịch thì rằm (ngày Giáp Ngọ) tháng Bẩy (Mậu Thân) năm Nhâm Tuất là


ngày 11 tháng 08 năm 1082. Sử Sách cũng viết vua Thần Tông trị vì từ 1067 (không phải


1068) đến 1085, và niên hiệu Nguyên Phong khởi đầu năm 1078. Như vậy Nhâm Tuất


1082 là năm thứ Năm (5) của niên hiệu này. Tô Thức sinh năm 1037, năm 1082 ông 46


tuổi ta.


8 Dựa trên phiên âm WG, LIU SHIH SHUN, tôi đoán tên ông là 劉世順 tức Lưu Thế Thuận Líu Shì


Shùn. Ông du học ở Mỹ khoảng năm 1920, là tác giả nhiều sách phổ biến văn hóa Tàu viết bằng Anh ngữ


(One hundred and one Chinese Poems, Chinese Classical Prose,…) và đặc biệt một luân án


Extraterritoriality Its Rise and Its Decline (1925). Ông là đại sứ Tàu ở Gia Nã Đại (1946).


Chim Việt Cành Nam 20


First Fù (1) on the Chìbì (Red Cliff) (2)


qián chì bì fù - su shì


(TR: LIU SHIH SHUN Líu Shì Shùn)


On the sixteenth of the seventh month, in the fifth year of Yuánfēng (Yuan-feng) (3), I


took a trip by boat with some friends to the Chìbì (Ch'ih-pi). The wind was blowing


gently; there was not a ripple on the water. I raised my cup and toasted my friends. We


recited the poem from the Books of Songs on the 'Bright Moonlight,' containing the line


on the sedate lady. Shortly after, the moon rose over the eastern mountain and hovered


between the Dipper and Aquila. The white dew lay all over the river, and the light


reflected in the water reached up to the sky. We let our small boat drift along over the


vast expanse ahead of us. Now we seemed to float away, and, freed from this world, to


take wing and become immortal.


In this mood, we drank happily and sang, beating out the rhythm with our fingers on the


side of the boat:


On a cassia boat, with orchid oars


We struck the water, rowing up the river,


As the moon shone over the waves. I long


For the beauties on the other side of Heaven! (4)


Among my friends there was one who played the flute and who accompanied my song.


The sound of the music was melancholy. Now it seemed complaining and yearning; now


it seemed weeping and pleading. Even when the song was finished, its reverberations


seemed not to die away but lingered on like an unbroken thread. Dragons hiding in the


dark ravines would have been roused to dance, and widows languishing in their solitary


boats would have been moved to tears.


Overcome by sadness, I adjusted my garment, sat up solemnly and asked my friends:


Why is it that things are what they are? They replied as follows: The moon is bright and


the stars are few. Crows and magpies fly southward. Was this not the poetry of cáo mèng


(Ts'ao Meng-the) (5). Between xià kǒu (Hsiak'ou) (6) in the west and wŭ chang


(Wuch'ang) (7) in the east interwined a host of gray mountains and rivers. Was this not


the scene of his siege by Zhōu Yú (Chou Yü) (8)? When Cáo Cāo (Ts'ao Ts'ao) sailed


down to jiang líng (Chiangling) (9) after overrunning jing zhou (Chingchou) (10) and


followed the waters of the river eastward, his ships lined up the river for one thousand li


(11), and his flags covered the sky. Looking out on the river, he drank copious draughts,


and, as he grasped his spear, he composed poetry. He was a great hero in his time, but


where is he now? Moreover, now that you and I are fishing and cutting wood on the brink


of the river, fish and prawns are our companions, stags, and deer our friends. We row a


flat leaf-like boat and drink with one another. We are like tiny insects in a vast world and


mere specks in the deep, deep sea. We lament our ephemeral lives and admire the eternal


Yangtze. To travel far and wide with roving immortals and embrace the moon till the end


Chim Việt Cành Nam 21


of times is something that cannot be achieved. In this certainty, we have left the


reverberations of our music to mingle with the sobbing wind.


My friend, said I, do you know about the water and the moon? The former goes on and


on, but it never comes to an end. The latter waxes and wanes, but it never decreases or


increases. If we see everything from its changing aspect, even heaven and earth cannot


last for a twinkling of an eye. If we look at everything from its unchanging aspect, it and


we can never end. What is there, then, to be admired? Furthermore, everything on earth


has its owner. If a thing is not owned by us, we cannot lay hands on the tiniest part of it.


Only the gentle breeze on the river and the bright moon over the mountains feast the ear


with sound and the eye with color, and these we can take at perfect liberty and use


without exhausting them. These are the unlimited reserves of the Creator, which you and


I can enjoy together.


My friends were gratified and smiled. We washed our cups and resumed our drinking.


When all the food was consumed and the cups and dishes were scattered around, we lay


in complete disorder till dawn came up the east and took us unawares.


Notes


(1) Rhymed or partly rhymed prose.


(2) A mountain in Huangkang Hsien, Hupeh, intentionally or unintentionally confused


with another of the same name, situated in Chiayu Hsien, where Ts'ao Ts'ao was


disastously defeated by the combined forces of Shu and Wu during the Three Kingdoms


period.


(3) Reign of emperor Shen-tsung of the Sung dynasty, 1068-1085, the fifth year of


Yuan-feng (1078-1085) being 1082.


(4) The allusion was to high officials in the capital.


(5) Courtesy name of Ts'ao Ts'ao, the emperor of Wei, another one of the Three


Kingdoms, who was one of the most active political figures in his time.


(6) Modern Hankow, a city in Hupeh Province.


(7) Wuch'ang Hsien, Hupeh.


(8) A famous general of the state of Wu.


(9) Chiangling Hsien, Hupeh.


(10) Prefecture in Hupeh.


(11) Each equivalent to one-third of a mile.


Chim Việt Cành Nam 22


Vịnh tiền Xích Bích


Nguyễn Công Trứ (**)


Gió trăng chứa một thuyền đầy,


Của kho vô tận biết ngày nào vơi?


Ông Tô tử qua chơi Xích Bích


Một con thuyền với một túi thơ.


Gió hiu hiu mặt nước như tờ,


Trăng chênh chếch đầu non mới ló.


Thuyền một lá xông ngang ghềnh bạch lộ


Buông chèo hoa len lỏi giữa sơn cương.


Ca rằng: quế trạo hề lan tương,


Kích không minh hề tố lưu quang,


Diểu diểu hề dư hoài


Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương


Người ỷ ca réo rắt khúc cung thương,


Tiếng tiêu lẫn tiếng ca vang mặt nước.


Sực nhớ kẻ cầm ngang giáo vịnh câu thơ thuở trước.


Nghĩ sự đời thêm cảm nỗi phù du


Đành hay trời đất dành cho


Hai kho phong nguyệt nghìn thu hãy còn.


Còn trời còn nước còn non.


(**) Bài Vịnh trên đây thật hay. Nhưng tôi nghĩ cái tự mãn của Nguyễn Công Trứ, khi


công thành danh toại, vịnh chữ Nhàn hơi lố, dám ẩu tả (avoir le culot) trong bài hát nói


Chữ Nhàn kể đến một thú thanh cao Tô Đông Pha, mà không kị cái uất ức của người bị


biếm ở Hoàng Châu, gặp nhiều trở ngại trên đường công danh, khi viết Xích Bích Phú.


Tôi ngạc nhiên là Cụ Trứ là người học rộng, sao không hiểu tâm sự của Tô Công.


Sông Xích Bích buông thuyền năm Nhâm tuất


Để ông Tô riêng một thú thanh cao


Chữ nhàn là chữ làm sao?


Chim Việt Cành Nam 23


Xích Bích Hoài Cổ - Đỗ Mục


赤壁懷古 杜牧


chì bì huái gŭ - dù mù


赤壁懷古-杜牧


折戟沉沙鐵未銷


自將磨洗認前朝


東風不與周郎便


銅雀春深鎖二喬


Xích Bích Hoài Cổ - Đỗ Mục


Chiết kích trầm sa thiết vị tiêu,


Tự tương ma tẩy nhận tiền triều.


Đông phong bất dữ Chu Lang tiện,


Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều.


Diễn Nghĩa – Bất Tiếu Bảo


Kích gãy chìm trong cát sắt chửa tiêu


Bởi đem mài rửa nhận ngay triều đại trước


Gió Đông không kịp thuận tiện cho Chu Lang


Xuân thâm nghiêm đài Đồng Tước khóa hai Kiều


chì bì huái gŭ - dù mù


zhé jǐ chén shā tiĕ wèi xiao,


zì jiang mó xĭ rèn qián cháo.


dong feng bù yŭ zhou láng biàn,


tóng què chun shen suǒ èr qiáo.


Đỗ Mục (803-852) tự là Mục Chi , hiệu là Phàn Xuyên người huyện Vạn Niên , quận


Kinh Triệu (tỉnh Thiểm tây). Năm 828 (đời Ðường Văn Tông), đã thi đậu tiến sĩ. Ðỗ


Mục là tác giả bài A Phòng cung phú nổi tiếng. Có thanh danh ngang với Lý Thương


Ẩn; người đương thời gọi hai ông là Lý Ðỗ; Ông còn được gọi là Tiểu Ðỗ để phân biệt


với Ðỗ Phủ là Lão Ðỗ. Cũng như Bài Bạc Tần Hoài hay những bài thơ hay khác của Đỗ


Mục, được nhiều người ưa chuộng, Xích Bích Hoài Cổ cũng được nhiều tác giả diễn


Nôm, như Trần Trọng San, Trần Trọng Kim, Ngô Tất Tố... Bản diễn của Tương Như


khiến tôi có đôi phần hợp ý, câu 4 Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều lấy lại câu Một


nền Đồng Tước khóa xuân hai Kiều đã được Nguyễn Du dùng, tuy chưa sát nghĩa lắm


với nguyên tác.


Chim Việt Cành Nam 24


Xích Bích Hoài Cổ


Cát vùi lưỡi kích còn trơ


Rửa mài nhận dấu triều xưa rõ ràng


Gió đông ví phụ Chu Lang


Một nền Đồng Tước khóa xuân hai Kiều


Nhị Kiều đây là Đại Kiều, vợ của Tôn Sách, và Tiểu Kiều, vợ của Chu Du. Khổng Minh


khích Chu Du đánh Tào Tháo, có nói rằng: Tào Tháo thường nói xây đài Đồng Tước để


khi chiếm được Đông Ngô, sẽ bắt Đại Kiều và Tiểu Kiều về ở đây để mua vui lúc tuổi


già. Nền cũ đài Đồng Tước nay còn di tích ở huyện Lâm Chương, tỉnh Hà nam.


Chú thích:


Cố cư của ba Đại văn hào Tô Tuân, Tô


Thức, Tô Triệt ở tại thành phố Mi San tên


cũ là Mi châu, cách kinh đô Thành Đô


成都 chéng dou khoảng 80km. Tại đây


còn lại di tích lịch sử, nay là một trọng


điểm văn vật bảo tàng, Tam Tô Từ


, tỉnh Tứ Xuyên 四川 sì chuan.


Thành đô cũng là quê quán của tiện nội,


cách đây ít lâu lúc viếng thăm di tích, tôi


được kể Cụ Tô là người sành ăn ngon, nấu


nướng rất giỏi. Cụ thường phát minh và chế biến những món ăn mới lạ, hậu sinh có nóiđến các món Đông Pha nhục 東坡肉 dong bo ròu và Đông Pha ngư 東坡 dong boyú. Lúc Cụ bị biếm, tại chức ở một quận lị nhỏ nhen như Quỳnh Châu trên đảo Hải Nam, Cụ tha hồ rảnh rỗi nghiên cứu và phát chế ra nhiều công thức đầy giá trị về nghệ thuậtnấu nướng.Đông Pha nhục bây giờ là một danh thái 名菜 míng cài (món ăn nổi tiếng) thập phần mỹvị ở Hàng Châu, tương tự là một loại thịt kho theo kiểu nấu ăn Việt nam ta pork stew,nhưng công thức có nhiều phần khác biệt. Bìnhthường, dùng một miếng thịt lợn (heo), nửa nạcnửa mỡ, khoảng 2 tấc (thốn hứa ) và ướp bằng tửu hương 酒香jiǔ xiang. Tương truyềnTô Tử bị gửi đi xa lánh ở Hoàng Châu, nơi sinhhoạt hoàn toàn bần khốn, cụ biến hóa công thứctiền nhân, bằng cách hầm lửa nhỏ liu riu thịt lợnvà nước hàng (sauce) tửu hương. Phát khởi thửthái 此菜cĭ cài từ Hoàng Châu huángzhou, Đông Pha nhục phát dương và nổi tiếng ở Tống phủ Hàng Châu 杭州 háng zhouvà trở thành danh thái tại đây.Chim Việt Cành Nam 25 Tương truyền còn kể Đông Pha đệ nhất vị mĩ thực gia(gourmet), thường thích ăn Ngũ Liễu ngư9 五柳wŭ liŭ yú, một loại cá sống ở Tây Hồ giữa hai tỉnhChiết Giang 浙江 zhè jiang và Hàng Châu 杭州, nổitiếng danh thái vị đạo tiên mĩ 味道 (delicioustaste) phún hương dụ nhân (attractiveodor). Thường được gọi là Đông Pha Ngư. Tô Đông Pha vịnh những món ăn cá với nhiều bài thơ, và ông


thích tự mình nấu các món ăn cá với nhiều gia vị khác nhau. Món chân giò lợn thì có tên mĩ miều là Đông Pha Trửu tử玻肘子dong bo zhǒu zi. Văn hóa ăn uống cho thấy người Tàu ngoài cách thức trình bày mỹ thuật các món ăn, còn thích đặt tên cho những món ăn với nhiều điển tích. Cuối bài mạn phép cảm ơn Ông Bạn Phạm Nguyên Hanh, đã đọc bản thảo nhiều lần và chỉ giáo cho những lỗi và sai lầm.


Gavilan Springs Lễ Tạ Ơn ngày Tiểu Tuyết Canh Thân (13) Tháng Tân Hợi (tháng 10) năm Đinh Hợi – 22/11/2007


9 Ngũ Liễu Ngư ý nói cá nấu, có năm khứa mỏng như lá liễu.


 


Tư liệu của Nguyễn Đắc Xuân

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sài Gòn cà phê chó mèo: 'một cún khác đã nghếch chân tè tiếp' - Tư liệu 26.03.2017
Không vỉa hè, những con đường bắt người Sài Gòn đi bộ 'phải phạm luật giao thông' - Nhiều tác giả 24.03.2017
Tôn Vũ (Tôn Tử) & Binh pháp Tôn Tử - Tư liệu 23.03.2017
Tôn Tẫn, Bàng Quyên - Tư liệu 23.03.2017
Danh nhân Đông Tây kim cổ (3) - Lương Văn Hồng 23.03.2017
Kho báu trong lăng Thoại Ngọc Hầu: Chiếc mão trang trí bằng 5 lượng vàng ròng - Lương Chánh Tòng 22.03.2017
Kho báu trong lăng Thoại Ngọc Hầu: Chiếc kính mắt châu Âu - Lương Chánh Tòng 22.03.2017
Rao bán vỉa hè giá trăm triệu - Tư liệu 20.03.2017
Chợ Cũ Sài Gòn - Lê Văn Nghĩa 19.03.2017
Ảnh hưởng của Trung Quốc đối với chế độ Pol Pot - Tư liệu 19.03.2017
xem thêm »