tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20034129
Tiểu thuyết
22.09.2011
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

VIII. Lê Văn Duyệt đến thăm xưởng thuyền chiến ở về phía đông thành một dặm dọc theo bờ sông Tân Bình quanh qua sông Bình Trị. Xưởng gác và che thuyền hải đạo, là đồ nghề bén nhọn của thủy chiến nước Nam, chiến hạm, kiểu giống tàu buôn không buồm, nhưng nhỏ, ghe sơn đen, ghe sơn đỏ. Ghe chiến cụ, thân lớn và dài, dày và bền, đặt nhiều mái chèo, ngoài sơn dầu đen gọi là ghe đen, sơn đỏ gọi là ghe đỏ. Lại có ghe lê, tức ghe thuyền được chạm trổ vẽ vời từ đầu đến đuôi, đều là dụng cụ thủy chiến. Xưởng dài đến 3 dặm.


Xem hết một lượt, Lê Văn Duyệt gọi Dương Văn Nhã, Đặng Vĩnh Ưng đến bảo:


- Trước đây ta đã được xem những chiếc thuyền du hồ gọi là họa lương ở bên Tàu, nay các ngươi cũng nên dựa theo kiểu cách ấy chế tạo ra chiếc thuyền lớn, nhưng đằng này được trang hoàng hơn. Có thể coi như một pháo đài thu nhỏ lại và xây nổi trên mặt nước. Trong thuyền có phòng có viện người có thể thẳng mình đi lại ra vào, không phải khom lưng cúi đầu gì. Tứ phía chạm sơn thếp khéo léo, hai bên có cửa sổ nhìn ra ngoài sông. Trước mũi đặt súng thần công. Trên nóc lại có một tầng xinh xắn, đủ chỗ bày một tiệc rượu cho dăm người phong nhã, ngồi đánh chén ngắm trăng đón gió thảnh thơi.


Dương Văn Nhã, Đặng Vĩnh Ưng vâng lệnh đến Chợ Lớn tìm được người khách trú Mạch Tấn Giai, đã được thấy thuyền họa lương ở Tây hồ bên Tàu, sai đôn đốc thợ đóng một chiếc thuyền lớn theo như kiểu cách Lê Văn Duyệt đã dặn. Sau khi đóng xong, lại sai Trần Văn Tha chỉ huy đội thuyền này.


Ít lâu sau, người ta thấy xuất hiện một đội binh thuyền trên sông Tân Bình. Dẫn đầu là một tiền đội chiến thuyền đi mở lối, trước mũi đặt súng thần công, binh sĩ đội nón chóp sơn, mặc áo nẹp xanh, những tay chèo cũng vậy. Thuyền lớn như nhau, trong sơn đen ngoài thếp vàng choáng lộn, một viên cai đội mặc nhung y, đeo mã tấu, tay cầm trống khẩu, đánh tung tung nhịp nhàng, ra hiệu cho ba chục mái chèo đồng thời cày nước. Thủy thủ vừa chèo vừa hát khúc quân ca, nghe rất du dương, hùng dũng.


Đến đại thuyền của Duyệt, mình rộng hơn, lá cờ phất phới ở đầu mũi thuyền bày ra sáu chữ lớn: “Gia Định thành Tổng trấn Lê”. Bám vào thuyền lớn là những xuồng nhỏ để kịp thời di động.


Sau đại thuyền là chiếc thuyền “nhà bếp”, kho chứa đầy đồ ăn thức uống, để có thể đi trên sông biển dài ngày.


Sau hết lại một đoàn chiến thuyền đi đoạn hậu, số đông gấp hai tiền đội, nghi vệ cũng đàng hoàng như vậy.


Thấy đoàn đại thuyền ung dung nhàn nhã trảy qua, hương chức mặc áo tấc xanh cùng dân chúng bày hương án ở hai bên đường bái vọng “Thượng công”.


Thuyền đi đến đâu, lại cho vời những danh ca danh cầm trong vùng đến đàn hát giúp vui cho tiệc rượu quan Tổng trấn khoản đãi các thân hào và văn thân địa phương. Mọi người đều ca ngợi sự khoan dung và đức độ của quan Tổng trấn, coi ngài như một vị phúc tinh được giáng xuống trời Nam, làm cho dân chúng Lục tỉnh yên vui no ấm.


Một lần, đoàn thuyền của Lê Văn Duyệt ra đến mé biển thì thấy mấy chiếc thuyền buôn trương cờ hiệu Đại Thanh nhưng phu chèo là người Nam ngang nhiên vượt qua trạm thu thuế của ta không dừng lại. Ông ngạc nhiên truyền hai đội tiền và hậu vây chặt mấy chiếc thuyền buôn lại, rồi áp sát vào chiếc thuyềnlớn nhất, bắt người chủ thuyền đến hầu.


Binh sĩ dẫn người chủ thuyền đến trước mặt Duyệt.


Ông hỏi:


- Ngươi tên là gì?


- Bẩm quan lớn, tiểu nhân là Diệp Liên Phong.


- Ngươi có bằng sắc gì của nhà Đại Thanh cấp cho không?


Diệp Liên Phong lúng túng:


- Bẩm... không... ạ...


- Thế tại sao ngươi dám trương cờ Đại Thanh lên đầu thuyền?


Diệp Liên Phong run sợ:


- Bẩm, tiểu nhân phải giả làm thuyền của nhà Thanh, mạo nhận là thuyền miễn thuế để khỏi phải nộp thuế ạ...


Lê Văn Duyệt nghiêm khắc:


- Ai cho phép ngươi làm việc này?


- Bẩm đó là do ông Diên Khánh Công em Ngài Ngự nói giúp với quan Tham Tri bộ Hộ làm ngơ cho việc đó ạ…


Lê Văn Duyệt sai quân trói Diệp Liên Phong và đám phu thuyền lại, rồi nhảy lên mấy chiếc thuyền buôn khám xét, thì thấy ngoài hàng hóa mua từ Mã Lai về, dưới gầm thuyền chứa đầy á phiện.


Lê Văn Duyệt bèn làm biên bản, bắt Diệp Liên Phong ký vào, rồi sai một tiểu đội lính áp giải mấy chiếc thuyền buôn nộp lên triều đình.


Thì ra sau chuyến làm ăn trót lọt chở vật liệu xây dựng đài Trấn Hải đến cho Lê Chất, Diệp Liên Phong cứ quen mùi làm tới. Y lại nhờ Diên Khánh Công đến nói lót với quan Tham tri bộ Hộ, viên này hạ lệnh cho các trạm thu thuế miễn thuế cho các thuyền buôn trương cờ nhà Thanh. Ngày càng vớ bẫm, y lai ra sức đấm mõm cho Diên Khánh Công và quan Tham tri bộ Hộ.


Nhận được sớ tâu của Lê Văn Duyệt, Minh Mạng lập tức cho đòi Diên Khánh Công Tấn, bắt tâu bày. Thấy Tấn chối tội, vua cho giải Diệp Liên Phong vào đối chất.


Diệp Liên Phong nói:


- Tôi đã biếu cho ông một ngàn nén vàng và một con sư tử bằng ngọc, ông lại bảo tôi phải biếu cho quan Tham tri bộ Hộ một ngàn nén bạc và một con lạc đà bằng vàng, ông còn chối gì nữa.


Minh Mạng còn truyền Diệp Liên Phong ký vào bản cung khai, rồi sai giam Diên Khánh Công và Diệp Liên Phong vào thiên lao, lại giữ bí mật việc này không để cho quan Tham tri bộ Hộ biết.


Đêm ấy, Minh Mạng cải trang làm một người thường dân lam lũ, đánh bộ áo cộc rách, đội chiếc nón lá đã tơi bươm bướm, từ trong cấm thành lẻn ra cửa Hậu bô, vòng lên đến sau dinh các bộ, thì gặp trời mưa to, phải đứng ẩn núp dưới một cây cổ thụ. Lúc ấy đường sá vắng tanh, không có một bóng người qua lại. Đứng lâu mỏi cẳng ông đành ngồi bệt xuống gốc cây, áo quần lấm ướt thảm hại.


Sau một chặp một bóng người lù lù, từ phía sau vườn Hậu bô đi lại, đến cổ thụ cũng ghé vào ẩn mưa, cách chỗ vua ngồi vài bước.


Dưới làn chớp nhoáng, ông nhận thấy người ngồi gần mình, hình như đã có tuổi, đầu cạo trọc lóc mặc áo đen rách tã, dưới đóng khố, tay cầm một đoạn dây thừng và một vật gì dài và sáng, trông như thanh sắt. Cũng trong giây phút nhờ có ánh sáng nhấp nháy ấy, hắn ta đưa mắt nhìn ông rồi thở dài: ý chừng thương hại cùng phường rách rưới nghèo khổ gặp nhau.


Hắn gợi chuyện trước:


- Khổ quá! từ tối đến giờ, chưa làm ăn gì được lại gặp mưa tầm tã!... Còn đằng ấy cũng chưa vớ được món nào hay sao mà ngồi chết dẫm ở đây thế hử?


Hắn nói khe khẽ, làm như sợ có người thứ ba nào nghe, mặc dầu trời tối đêm khuya, tứ phía vắng ngắt.


Vua nghe hỏi, sửng sốt:


- Anh này nói chuyện bá láp gì, tôi nghe không hiểu…


- Hừ! rõ khéo vờ vịt... Cùng làm cái nghề “lương thượng quân tử”(1) với nhau, đêm hôm gặp gỡ thì ta nói chuyện làm ăn may rủi mà nghe, việc cóc gì phải giấu giếm chứ... Đằng ấy trông bộ dạng tớ có phải là bộ hạ của quan đề đốc Hộ thành đâu mà còn giả vờ giữ kẽ cho mất công.


- Ồ, thế ra anh làm nghề ăn trộm à?


- Tớ thì tớ can đảm trả lời đằng ấy rằng: chính thế! Thừng đây!... Thuổng đây! Thừng để làm thang mà leo. Thuổng để đào tưởng khoét vách. Những đồ nghề này, đằng ấy còn lạ quái gì! À, nhưng đằng ấy đi làm ăn với hai tay không, thế thì vào bậc đại bợm đấy.


Vua nín lặng không nói gì. Chớp nhoáng, ông thấy hắn ta nhe hàm răng vổ, cười mà hỏi lại:


- Còn anh?... Thật anh không phải là Đạo chích?


- Không! Không! nhà vua đáp. Tôi cũng là con nhà nghèo thì có, nhưng không phải là ăn trộm.


- Thế anh làm nghề nghiệp gì? Đi đâu đêm hôm mưa gió mà ngồi vò võ thế này?


–Tôi ở thôn quê ngoài Quảng Trị kia, cày thuê cuốc mướn làm ăn lương thiện, chứ trộm đạo mà sống, không khi nào tôi chịu làm, anh ạ! Thà cam chết đói.


- Giỏi! Ban nãy tôi trông mặt bắt hình dong, cũng tưởng anh là “lương thượng quân tử”; giờ xin bỏ hai chữ trên, để lại hai chữ quân tử cho anh. Nhưng tôi xin hỏi ông quân tử lần mò đến kinh thành làm chi mà trông bộ tịch bơ vơ khốn khổ như thế?... À, tôi ngu thật, nghe tiếng anh nói vang động như chuông, không luân lạc đến nghề trộm đạo cũng phải.


- Tôi cốt vô kinh tìm người thân thuộc làm việc trong bộ, không ngờ họ đổi đi xa mất rồi. Tôi lang thang mãi trong thành, một đồng một trự chẳng có, mà cửa thành đóng cả, đành ngồi đây chờ sáng ra về… Té ra anh lại biết xem tư ký nữa sao?


- Không, tôi có xem tướng xem số gì được đâu. Có điều trời phú cho cái khiếu riêng là nghe tiếng nói có thể nhớ người; một khi nghe tiếng ai nói, chẳng bao giờ tôi quên.


- Anh ạ! tôi cũng thế, chẳng biết tướng số gì, nhưng tôi xem anh vạm vỡ, khỏe mạnh, lại có đôi chút chữ nghĩa, sao không tìm nghề lương thiện mà sinh nhai? Làm chi cái nghề Đạo chích, đêm hôm lặn lội nguy hiểm; còn lo bị bắt thì tù tội khổ thân.


Tên trộm có ý cảm động, chắt lưỡi và nói:


- Thú thật với anh, tôi nguyên là chân học trò ngông cuồng tự phụ; hồi đời tiên đế tại vị, cha con ông tiền quân Thành bị tội chết oan, tôi có làm mấy bài thơ cảm khái thời thế. Người chung quanh đua nhau truyền tụng. Bọn quan lại tham nhũng ở tỉnh tôi, đòi tôi phải lễ một trăm nén bạc, không thì họ buộc vào khoản “yêu thư yêu ngôn”. Tôi bay lên trời cũng chẳng khỏi lăng trì trảm quyết. Cơ khổ, bán cả gia viên điền sản nhà tôi lấy mười nén cũng không đắt.


Tôi phải lén bỏ quê hương, biến danh ẩn tính, đem mẹ già cùng vợ con thơ dại vào nương náu ở đây... Anh nghĩ xem một thằng sợ tội, có bao giờ dám chường mặt tìm công việc tử tế làm ăn?... Vì phải nuôi lão mẫu thê nhi, lâu dần tôi trụy lạc đến nghề ăn trộm…


 Nhưng ăn trộm mặc lòng, tôi cũng làm một cách lương thiện đáo để, anh ạ!


Nhà vua hất hàm về phía tên trộm và trợn tròn hai mắt, như người được thấy xuất hiện trước mắt mình một bậc dị nhân hay một con quái vật:


 - Anh nói chướng quá!... Ăn trộm mà còn có thứ ăn trộm lương thiện?


- Tôi đoán ngay anh không tin!... Tên trộm thản nhiên đối đáp. Nhưng thật quả trộm đao cũng có cách làm cho lương thiện, hữu ích... Là vì...


- Là vì…? Vua hỏi săn đón nóng biết.


- Là vì tôi chỉ lấy của bọn làm quan…


- Bọn ấy mất của cải vật dụng về tay anh, dễ thường như thế không phải thiệt thòi đau đớn cho họ cũng như kẻ khác à?


- Không, tôi nói chưa hết thì anh đã vội lấy tay bịt họng tôi lại... Chả trách thân ở nhà quê mới lên bỡ ngỡ chưa nghe khét tiếng kinh thành lão Vích, một tên đại bợm hơn mười năm nay chuyên ăn trộm của bọn quan ăn hối lộ tham tàn và tụi nhà giàu cho vay cắt cổ. Ngoài hai hạng khả ố đó, người khác dù để vàng bạc ngoài ngõ, hay đặt tận tay nó, nó cũng không phạm tơ hào.


- Thế anh tức là lão Vích ấy?


- Chính là tôi.


- Nhưng anh làm sao phân biệt ông quan nào thanh liêm hay tham nhũng?


- Khó gì! Con mắt chúng tôi Trời sinh ra để mà dòm thấy trong đêm tối, anh ạ... Nghề mình làm ăn, bắt buộc phải dò la những cử động ám muội của họ, không thể nào sai... Quyểnsổ quan lại ở kinh thành, cho tới đường lối, tôi tớ, tục quen mỗi nhà, đều ghi chép rành mạch ở trong đầu óc tôi đây này... Hễ tôi chõm món nào là đúng món ấy. Ban ngày họ bóc lột dân, đêm tối mình lột lại họ, thiên đạo tuần hoàn là nghĩa như thế…


Nhà vua lẳng lặng, nghĩ thầm trong trí: mình đây thống ngự bách quan, mà kẻ nào thanh liêm, kẻ nào tham nhũng, dễ thường không biết rõ bằng lão Vích. Nhưng muốn thử tới cùng cho biết, ông nói khích:


- Anh khéo nói bẻm, bộ anh mà biết hết được nhà các quan, vả lại…


Không đợi ông nói dứt câu, lão Vích chặn ngang, có ý hờn mát:


- Hừ! Có khó khiếc gì? Muốn rõ hư thực, lát nữa ngớt mưa anh đi theo tôi.


- Theo anh đi ăn trộm?


- Ừ, đi theo tôi mà xem... Cho anh đứng ngoài canh chừng, tôi vào trong làm gì mặc tôi, khi tôi chuyền đồ qua tường, thì anh đỡ lấy, rồi chúng ta chia đôi với nhau... Tài thượng phân minh thị trương phu(1), biết chưa?... Thôi, trời đã ngớt mưa, chúng ta nhổ rễ lên được rồi, chứ ngồi mãi thì sáng mất.


- Ừ, đi thì đi…


Nhà vua vội vã đứng phắt dây.


Hai người men theo chân tường bóng cây, định qua trước Lục bộ, vào xóm Giác Hoàng rồi xuống Đông Ba, nơi có nhà riêng các quan ở triều. Lão Vích trỏ mỗi nhà quan, nói chủ nhân đỗ khoa nào, làm chức gì, trong nhà có mấy người, nhân phẩm tính hạnh như thế nào, nhất nhất kê khai lý lịch rõ ràng, dường như lão là con ma xó vậy.


Vua thử chỉ một nhà cạnh đấy:


- Ta vào quách nhà này, trong dáng chững chạc, hẳn có tích súc.


- Ấy chết, không nên. Đây là nhà quan thượng thư bộ Binh, trông thế nhưng mà thanh bạch, chẳng có gì đâu. Vì ông ta thanh liêm có tiếng, chả ăn lễ của ai bao giờ. Đến nỗi con gà thúng gạo cũng từ chối, nói rằng bổng lộc vua ban cho, thừa sự ăn mặc. Ta chớ nên lấy của nhà ấy, tội nghiệp.


- Còn ngôi nhà đối diện thì sao?


- Ối chà! Cái nhà này giá châm cho nó một mồi lửa cũng đáng... Thằng cha này trước dã nghiễm nhiên trấn thủ một trấn ngoài, bóc lột dân có tiếng, bị án tham tang, giáng tam cấp, khéo lo chạy được về kinh làm hữu thị lang bộ Hình, nhưng vẫn chứng nào tật ấy, ăn của đút ra phá. Có điều của chìm của nổi, nó chuyển cả về một biệt thự ở bên An Cựu, chứ không để đây. Tôi đã dò la kỹ rồi, để hôm nào sang tận An Cựu sửa cho nó một mẻ, báo thù hộ dân.


Đi quanh co mãi, sau cùng đến một cổng dinh, lão Vích buông tay nhà vua mà nói:


- Đây là nhà lão tham tri bộ Hộ là chúa tham nhũng, ăn hối lộ. Tôi đã theo dõi kỹ, thấy nhiều chủ thuyền buôn người khách trú thì thụt đến nhà lão đút lót để nhờ vả này khác.


Vua mừng thầm nói:


- Thế thì đêm nay ta sửa nhà này quách.


- Ừ. Anh đứng núp sau tường canh chừng đợi tôi nhé hễ động thì làm hiệu cho biết - Lão huýt lên một tiếng sáo để vua bắt chước - Tôi giao hẹn trước với anh, hễ lấy được của cải thì chia đôi, mỗi thằng một nửa…


- Bao nhiêu của cải, công phu anh lấy, về phần anh tất. Tôi chỉ cần lấy bộ áo chầu và ống sắc của lão, để bắt lão đem tiền chuộc, là đủ lộ phí về quê.


- Được rồi... Miệng nói chân bước, chớp mắt lão Vích nhảy phóc qua tường, lủi vào bóng tối.


Nhà vua đứng đợi bên ngoài.


Cách hơn nửa giờ, một bọc to tướng chuyền qua mặt tường ra trước, tiếp đến lão Vích ra sau.


Trong bọc có nhiều đồ vàng bạc quý giá, một bộ áo chầu và một ống đựng sắc. Đúng lời ước hẹn, lão Vích trao bộ áo chầu và ống sắc cho vua.


Nhà vua cuộn áo chầu ống sắc ôm vào nách, lão Vích thì vác cái bọc trên vai. Hai người đi tới bên vườn Hậu bô thì từ giã nhau: nhà vua trở về cung, lão Vích lên ngả Trường thi.


Vô phúc cho lão, chỉ còn độ dăm chục bước thì về đến nhà, bị lính tuần bắt được, đưa cả người lẫn tang vật về nhà Hộ thành.


Ngày hôm sau, quan Tham tri bộ Hộ đến dinh Hộ thành trình báo về việc nhà mình mất trộm đêm qua. Quan đề đốc nói là đã bắt được kẻ trộm và trả lại của mất trộm cho quan Tham tri, nhưng bắt quan Tham tri phải làm giấy biên nhận từng vật một, trong số đó có một con lạc đà bằng vàng. Quan Tham tri kiểm điểm lại chỉ thấy mất hai vật mà quan lớn cho là quan hệ nhất: ống sắc và áo chầu.


Vì phận sự trị an trong thành mà cũng vì tình đồng liêu, quan đề đốc Hộ thành tận lực tra xét vụ trộm này, phải dùng tới cách căng nọc lão Vích:


- Mi lấy trộm của nhà quan Tham tri, còn áo chầu và ống sắc mi cầm bán cho ai rồi, phải khai thiệt ra mau. Không thì chết đòn!


- Bẩm quan lớn, con vừa lấy xong được một lúc thì bị lính bắt liền, nào kịp cầm bán choai? Lão Vích bình tĩnh trả lời ở trước roi vọt.


- Mi không cầm bán thì hai vật ấy đâu? Dễ thường tự nhiên nó biến mất đi được à?... Lính! đập cho nó hai chục hèo... Nó không chịu khai thì đem lò than kềm sắt ra đây.


Lão Vích cắn răng chịu đòn không hề kêu khóc. Xong hiệp roi ấy quan đề đốc gạn hỏi:


- Bây giờ mi chịu nói thiệt chưa nào?


- Thà con chịu tội; dù có nói thiệt, chắc quan lớn cũng không tin! Lão Vích thưa.


- Cứ nói!


- Bẩm, con chia phần cho người ta.


- Nó ở đâu, tên là gì, để tao sai lính đi tróc nã lập tức, lấy đồ trả lại sự chủ. Mi phải biết hai món ấy quan hệ đến thế nào?


- Bẩm, người ta tên gì, ở đâu, quả con không biết.


 - Thằng này nói láo! Bạn cùng nghề ăn sương với nhau, há lẽ mi không biết à?


- Bẩm quan lớn, con không dám man khai tí nào. Vì đêm khuya mưa gió, con gặp hắn ta giữa đường, thì rủ đi làm ăn nhờ hắn canh chừng bên ngoài, rồi sau chia phần. Thật quả không từng quen nhau và trời tối như mực, cũng chẳng nhìn rõ mặt được nữa.


Đoạn, lão Vích đem chuyện gặp gỡ ban đêm kể rõ đầu cuối, rồi kết thúc:


- Có điều, con tài nhớ tiếng nói; nhất là tiếng người ấy nói kêu như chuông, giá lại được nghe tiếng nói thì con nhận ra ngay.


Vụ trộm lạ lùng này tra xét dở dang tới đó, lão Vích vẫn bị giam cầm trong ngục, trong khi lính Hộ thành đi dò la tung tích áo chầu ống sắc của quan Tham tri.


Cố nhiên, chuyện lạ đưa tới thâm cung, do đám cung nhân thị vệ làm tai mắt, nhà vua cười thầm và rất chú ý.


Mấy hôm sau, một con voi chiến của vua nuôi ở Hậu bô, đau bụng hay làm sao không biết, tự dưng lồng lên phá chuồng và đạp tung cửa nhà cây cối chung quanh, nhiều quản tượng kềm giữ toát mồ hôi và suýt chết mới yên. Nha môn Hộ thành đem mấy chục tù phạm đến giúp sức binh lính, dọn dẹp sửa sang những chỗ hư hại. Trong số tù nhân ấy có cả lão Vích.


Nhà vua vi hành ra xem, có quan đề đốc Hộ thành theo hầu, nhưng ông đứng cách xa chỗ mọi người hì hục làm việc, vả lại có hàng phên liếp ngăn, họ không thể trông thấy.


Vua hỏi quan đề đốc:


- Đã tìm thấy áo chầu và ống sắc cho quan Tham tri chưa?


Câu này ông dụng ý nói tiếng thật to, coi như quan đề đốc Hộ thành có bệnh điếc tai vậy.


Lão Vích đang khom mình cuốc đất ở phía sau hàng rào, bỗng dưng buông tay, hớt hơ hớt hải chạy đến bên thầy đội và nói ra vẻ vui mừng khôn tả:


- Thầy làm ơn bắt hộ... Tôi nhớ tiếng nói rõ ràng... Đích thị hắn ta đấy…


- Hắn ta nào? Thầy đội hỏi gắt.


- Thì cái người lấy phần áo chầu ống sắc đêm nọ ấy mà!... Thầy bắt ngay không hắn trốn mất, hắn vừa nói tiếng bô bô đó…


Sợ hãi xanh mặt, thầy đội vội vàng đưa tay bưng miệng lão Vích, một tay thì cầm roi vụt trên mình lão túi bụi:


- Thằng này phạm thượng... chết chém bay đầu đi bây giờ... Người vừa nói to tiếng, là Ngài Ngự đấy, biết chưa?


Đồng thời quan đề đốc Hộ thành ở bên kia hàng rào, gọi thầy đội và bảo:


- Ngài Ngự truyền không được đánh đập tù phạm nghe không!


Một lát, nhà vua bảo quan đề đốc theo về trong nội và nói:


- Người đi với lão Vích đêm ấy chính là ta... Nó nghe tiếng nói nhớ người thật đúng. Ngày mai, nhà ngươi bổ nó làm một chân cai hay đội ở Hộ thành... Sau đó, nhà ngươi đem tấm biên lai quan Tham tri nhận lại của mất trộm nộp cho ta.


Hôm sau, nhà vua cho đòi quan Tham tri bộ Hộ vào trong nội, phán:


- Nghe nói quan Tham tri mất áo chầu nên không dám vào chầu, nay ta đã tìm thấy để trả lại cho khanh.


Viên Tham tri sợ hãi thất sắc. Vua lại nói:


- Trong tờ biên lai khanh nhận lại của mất trộm có ghi khoản một con lạc đà bằng vàng, vậy vật đó ở đâu ra?


Quan Tham tri mặt xám như gà cắt tiết, ấp úng mãi không nói được. Vua phán:


- Tên thương nhân Diệp Liên Phong bị bắt đã khai là hối lộ cho ngươi một con lạc đà vàng, có đúng như vậy không?


Quan Tham tri vội quỳ sụp xuống, lạy nhu tế sao, xin cúi đầu nhận tội.


Vua ra lệnh giam quan Tham tri vào ngục, chờ đem sang bộ Hình xét xử, cùng với Diệp Liên Phong(1).


Bấy giờ cả triều đình mới vỡ chuyện, ai nấy lo giữ chức phận trung thành, sợ nhà vua bất thần đêm hôm vi hành dò xét.


Quân lính canh phòng ngoài cửa biển cũng ngày đêm tuần tra, khám xét các thuyền buôn có vẻ khả nghi, nếu thấy có chuyện phi pháp thì bắt dâng nộp lên vua. Các trạm thu thuế hải quan cũng cố hết sức làm tròn phận sự, không để con buôn lậu thuế làm thiệt hại cho công khố.


Minh Mạng quyết không để xảy ra tình trạng Lê Văn Duyệt bắt được kẻ gian giao nộp cho mình, khiến mình bẽ mặt với ông ta.


*


Gian phòng rộng hình vuông, ba phía bỏ trống, giữa có nhiều bàn trải vải đỏ để tiếp khách, trên có trái cây và bánh gói giấy đủ màu, ly tách để uống rượu, trà. Phía sau là một chiếc bục khá cao dành riêng để khi vua đến ngự, trên đặt cỗ ngai trước mặt có một cái bàn để tách và hộp đựng đường làm bằng ngọc thạch, một cái mâm nhỏ và vành cao tuyệt khéo. Bên phải và bên trải là hai chiếc ghế dành cho các quan, tướng hầu cận và bảo vệ vua. Sau lưng treo một bức sáo đan thưa.


Gian phòng không được sáng sủa lắm. Hàng cột và những cây đà ngang làm bằng gỗ nguyên thân màu đen càng tăng thêm vẻ u tối. Trên trần nhà có vẽ hình mây bay, nhiều ngôi sao, mảnh trăng khuyết trên nền xanh. Người ta thấy hai, ba cánh cửa sập để dùng trong lúc diễn tuồng. Vài cây đèn lồng đong đưa dưới cây sào dài, vài cây đuốc để trên bàn và dưới đất không đủ sức soi sáng cả gian nhà quá rộng. Nhiều chiếc chiếu trải trên mặt đất giữa phòng làm sân khấu.


Đây là gian phòng để trình diễn hát bội do Định Viễn Công Bính, em trai vua Minh Mạng lập ra. Bính rất say mê hát bội nên đã lập một ban hát trong phủ. Ngoài những đào kép chuyên nghiệp được tuyển mộ, Bính thấy con gái nhà lành nào xinh đẹp lại dùng quyền thế bắt ép phải vào phủ, sai thầy tuồng dạy cho hát múa, đóng trò.


Ngoài tính thích vui chơi múa hát, Bính còn có “máu” thương mại, thường liên hệ buôn bán với người Hoa, người Xiêm, Nhật Bản thường lui tới thương cảng Bao Vinh, phố chợ Gia Hội và kinh đô Phú Xuân. Phủ gần bờ sông, nên Bính muốn lập một cái chợ cho thân nhân, xóm làng mua bán, vui chơi. Chợ Gia Lạc một năm mở một lần vào ba ngày Tết.


Mới đây, Bính được Phan Huy Ký một thương gia lớn, đem dâng một cô đào nhan sắc tuyệt vời lại hát múa, đóng trò rất giỏi do được Ký nhờ người huấn luyện từ trước. Bính rất yêu mến đào Hường, nên đào Hường nói gì Bính cũng nghe theo. Đào Hường nói giúp cho Ký được dùng thuyền công đi buôn để mong trốn thuế. Chỉ nhìn thấy chiếc thuyền sơn đỏ, trên cắm lá cờ để mấy chữ “Định Viễn Công phủ”, là các viên chức thu thuế đều phải chịu cho đi qua, không dám chặn lại khám xét xem có hàng hóa hay không, và như vậy Ký tránh khỏi nộp thuế.


 Đào Hường cậy được Bính yêu càng thêm nhõng nhẽo, kiêu kỳ. Nàng không chịu dùng chung mũ áo với các đào khác, bảo những thứ này có mùi hôi. Bính phải may những bộ giáp, bào bằng gấm vóc hết sức lộng lẫy cho nàng mặc. Riêng về chiếc mũ, nàng đòi phải có chiếc mũ dát vàng, trên đính những hạt châu, ngọc. Ở kinh đô chỉ có một người thợ làm mũ giỏi, chuyên làm mũ Cửu Long và mũ miện cho vua. Bính liền gọi ông ta đến chế mũ. Nhưng vì trời mưa lụt, thợ mũ không đến được. Bính tức giận sai bắt người thợ mũ vào đánh đòn đến nỗi không đứng lên nổi. Sau đó Bính bắt ông ta phải làm gấp cho xong chiếc mũ, để kịp cho buổi chiều diễn tuồng mừng ngày Đại khánh sinh nhật nhà vua, Bính sẽ mời vua đến ngự lãm vở tuồng do đào Hường đóng vai chánh, để qua đó vua hài lòng ban ơn mưa móc. Nếu mọi người biết thiên tử thường ngự giá đến nhà mình thì thế mình sẽ vững hơn bàn thạch.


Chờ mãi không thấy vua đến, Bính đã sốt ruột, lo lắng. Nếu vua không đến thì uổng cả cái công sửa soạn, sắp xếp của mình trong hàng tháng trời nay. Ký đã dâng cho Bính một số vàng ngọc lớn, do đó thừa sức chi dùng trong việc mua sắm những y phục, dụng cụ sắm tuồng đẹp nhất cũng như các thứ rượu trà bánh trái hảo hạng.


Bỗng có tiếng đàn sáo vang lên. Bính vội chạy ra ngoài cửa phủ, quỳ phục xuống để đón loan giá. Kiệu long đình vừa hạ, vua Minh Mạng bước xuống, đầu đội mũ bình thiên tròn giản dị như kiểu văn nhân, mặc hoàng bào bằng vóc vàng không thêu thùa lòe loẹt, đi hia đen. Những người khiêng kiệu, cầm tàn quạt, kiếm và đội bát âm dừng lại ở ngoài, chỉ có các viên quan hộ giá và thị vệ túc vệ đi theo vua vào trong phòng. Minh Mạng ngồi xuống long ỷ, thị thần và đề đốc ngự lâm quân ngồi hai ghế hai bên, các hoàng tử, thân công ngồi sau bàn trải vải đỏ còn thị vệ, túc vệ dàn ra đứng hầu. Thị vệ đặt lên chiếc mâm một túi vải đựng đầy thuốc điếu dài và nhỏ, một đồng hồ báo thức, một cái gương nhỏ, rồi rót trà vào tách dâng lên vua. Phía sau bức sáo, một đoàn thị nữ tiến ra dâng trà, bánh, trái cây cho các vị khách quý.


Bính xin phép vua cho được bắt đầu diễn tuồng. Giàn nhạc giáo đầu gồm khoảng hai mươi nhạc công ngồi xổm đánh trống, gẩy đàn, thổi kèn inh ỏi. Trước mặt họ có một cái trống lớn, Bính ngồi sau trống thân cầm chầu.


Các đào kép trong vở tuồng ăn mặc chững chạc ra sân khấu lạy chào vua đoạn trưng ra những tấm trướng thêu những chữ lớn tỏ lòng tôn kính và chúc nhà vua sống lâu. Sau lớp giáo đầu các diễn viên bắt đầu biểu diễn.


Đào Hường bước ra sân khấu trong vai Phàn Lê Huê với bộ giáp bào lộng lẫy và chiếc mũ dát vàng nạm châu ngọc sáng lóng lánh, nàng múa võ một hồi rồi trụ bộ, sau đó cất tiếng nói lối xưng danh rồi hát một điệu khách. Vừa dứt câu hát, Bính sung sướng nện liền hai tiếng trống tỏ ý khen ngợi nàng khéo trình diễn.


Tiếp đó đến lớp Tiết Đinh San khôi vàng giáp bạc ra giao chiến với Phàn Lê Huê, vừa múa kiếm vừa đánh đỡ nhảy nhót trong đôi hia cao cổ mũi uốn cong lên đế bằng nỉ thật dày nhịp theo tiếng trống chiến dồn dập. Phàn Lê Huê thấy tướng địch đẹp trai thì mê lúng liếng đôi mắt tống tình, rồi giả vờ thua chạy vào phía trong dụ cho Tiết Đinh San đuổi theo..


Vừa hết một hồi, Bính quỳ xuống trước mặt xin ý kiến vua nhận xét về vở hát. Vua Minh Mạng nói:


- Ta thấy vở tuồng này trội nhất là cái mũ của Phàn Lê Huê. Vậy hoàng đệ mang cái mũ tới đây, để ta coi xem tinh xảo đến mức nào, rồi ta sẽ liệu ban thưởng cho.


Bính sợ hãi vội vàng lấy chiếc mũ dâng lên vua. Minh Mạng cầm xem rồi hỏi:


- Đẹp thật! Những vàng ngọc dát nạm trên mũ là đồ giả hay đồ thật thế này?


Bính run sợ lắp bắp:


- Dạ dạ, muôn tâu bệ hạ... đó là đồ... đồ…


- Ta đã nhìn kỹ đây là những đồ vàng, ngọc thật, ngay đến mũ cửu long và mũ miện của ta, cũng không dám dùng đến những bảo vật này. Lương bổng của người có bao nhiêu ta đã biết, vậy ngươi lấy đâu ra tiền để sắm chiếc mũ này…


- Dạ... dạ... thần... thần…


- Có điều ta thấy chiếc mũ làm khéo thì phải thưởng công cho người chế mũ. Vậy người chế mũ đâu? Ngươi đòi đến đây để ta ban thưởng cho y…


- Dạ... thần không biết…


- Ngươi không biết nhưng ta biết. Người thợ ấy bị ngươi đánh một trận thừa sống thiếu chết, lại phải suốt ngày đêm làm mũ cho ngươi, nên sau đó bị bệnh nặng đang nằm liệt giường. Ngày trước ngươi đã bắt con người ta vào làm con hát, ta biết chuyện nhưng vì nghĩ tình anh em, nên đã tạm bỏ qua vì thấy ngươi mới lần đầu phạm tội, nhưng đến lần này thì phải trừng trị. Nếu vì tình riêng mà khoan thứ thì luật pháp của triều đình ra sao? Vả chăng việc làm mũ phường trò là không cần gấp mà phải bách xúc người ta trong khi mưa lụt, có đáng không?


- Dạ... muôn tâu, thần xin cam chịu lỗi…


- Hơn nữa làm chiếc mũ này lại quá xa xỉ, người lấy tiền ở đâu ra, có phải là lấy của tên gian thương Phan Huy Ký không? Vừa rồi quan tuần hải đã bắt được chiếc thuyền mang hiệu “Định Viễn Công phủ” chở đầy nha phiến lậu từ Hạ Môn trở về nên đã cho tịch thu tang vật và bắt giữ can phạm rồi.


Bính nghe nói hoảng hốt quỳ rạp xuống đất lạy xin khoan hồng. Minh Mạng nghiêm khắc:


- Ngươi may mắn sinh vào nơi cành lá ngọc, được đặc ân hưởng bổng lộc, đã không phải lo lắng công việc gì thì cứ ngâm thơ uống rượu làm vui, an hưởng phúc trời có hơn không. Cớ sao lại cậy thế hoàng gia, ức hiếp lương dân thông đồng với kẻ gian tà làm tổn hại công khố Nhà nước. Há chẳng biết bổng lộc của ngươi là do công sức của dân đóng góp hay sao? - Quay lại nhìn các vị hoàng tử, thân công, vua nói tiếp: - Từ nay trẫm hạ nghiêm lệnh, tất cả các hoàng tử, thân công không có phận sự không được giao dịch với người bên ngoài về việc công, cấm từ quan chí dân không ai được thỉnh thác người trong hoàng gia, nếu chuyện vỡ lở ra thì cả hai bên đều bị nghiêm trị. Người làm việc nước lo lắng cho dân, mới xứng đáng đội mũ, nếu không chiếc mũ ấy chẳng qua là chiếc mũ phường trò mà thôi. Chiếc mũ này là tang vật ăn hối lộ, ta sẽ tịch thu sung vào kho lại phạt ngươi một năm lương để bù vào số tiền thuế thiếu hụt.


Dứt lời vua truyền túc vệ lột phăng chiếc mũ công tước của Bính, lôi ra ngoài phạt một trăm trượng rồi giao sang phủ Tôn nhân xét xử.


(còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
xem thêm »