tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21077983
Tiểu thuyết
20.09.2011
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

VII. Điện Cần Chánh xây về hướng nam, chính tịch 5 gian, tiền tịch 7 gian, đông tây có hai chái, nền cao 2 thước 3 tấc, trùng thiềm trùng lương, lợp ngói hoàng lưu ly, mặt trước trang sức bằng pháp lam, trên nóc thiết bầu rượu bằng pháp lam. Mặt nam có 3 bệ đá để lên xuống, mặt bắc hai bệ, đông tây mỗi mặt một bệ.


Gian giữa thiết ngự tọa là ngai vàng của vua đặt trên cái bệ, bên cạnh một cái bàn để trà thuốc.


Trước sân điện Cần Chánh có hai cái đỉnh lớn, đặt lên trên hai cái ghế xây bằng đá, ngay sau cửa Đại Cung Môn.


Minh Mạng đang ngồi phe sớ tấu, thì viên tổng thái giám đầu đội mũ được trang trí bằng hoa và các hoa văn, hòe vàng, áo lễ phục có viền trắng bằng lụa bỏ thống xuống hai bên và dài đến thắt lưng, bước vào. Ông ta không râu, béo phì, da nhẽo, giọng sắc nhọn cao the thé như giọng của phụ nữ nhưng rất chói tai, mật tấu với vua, mới đây Lê Chất đã gặp gỡ hoàng tôn Đán ở phủ bà Thái trưởng công chúa Ngọc Du.


Minh Mạng giật mình. Biết đâu Chất chẳng có âm mưu tôn lập hoàng tôn Đán như Thành, Duyệt ngày trước. Ông liền nghĩ cách phá cái âm mưu đó. Muốn thể phải đặt ra quy định chỉ những người thuộc dòng của ông mới được quyền nối ngôi vua, còn những người thuộc dòng các anh em của ông thì không được phép kế vị.


Ông truyền cho tổng thái giám phải giữ bí mật việc này để ông liệu cách xử trí sao cho êm đẹp.


Khi còn tại vị(1), Gia Long đã quy định cách viết tộc phả nhà Nguyễn: con cháu Nguyễn Hoàng vào Nam thì chép theo họ tôn thất Nguyễn Phúc, con cháu của Nguyễn Hoàng ở Bắc và các chi trước Nguyễn Hoàng ở Thanh Hóa thì thuộc về công tính họ Nguyễn Hựu. Như vậy là đã có sự phân biệt thân sơ, nhưng với các hoàng tử con của Gia Long và con cháu của họ thì vẫn chưa có sự phân biệt. Để tránh tranh chấp trong nội bộ hoàng gia, đảm bảo đế nghiệp lâu dài cho mình và cho con cháu mình, Minh Mạng tìm ra phép đặt tên đôi khá chặt chẽ và tế nhị dễ chấp nhận đối với các hoàng tử anh em ruột của mình. Biết rằng anh em mình ai cũng yêu thơ, Minh Mạng đã thảo ra 11 bài thơ, trong đó có bài “Đế hệ thi” và 10 bài “Phiên hệ thi”. Mỗi bài 20 chữ, chữ có nghĩa tốt và uyên bác dùng làm tiền từ cho 20 đời nối tiếp sau kể từ Minh Mạng.


Bài “Đế hệ thi”:


Miên, Hường, Ưng, Bửu, Vĩnh,


Bảo, Quý, Định, Long, Trường.


Hiền, Năng, Kham, Kế, Thuật,


Thế, Thoại, Quốc, Gia, Xương.


Bài “Phiên hệ thi” tặng Định Viễn Công Bính, con thứ 6 vua Gia Long:


Tịnh, Hoài, Chiêm, Viễn, Ái,


Cảnh, Ngưỡng, Mẫn, Thanh, Kha.


Nghiễm, Khác, Do, Trung, Đạt,


Liêu, Trung, Tập, Cát, Đa.


Theo phép này, tất cả các con trai của Minh Mạng đều phải có tên bắt đầu bằng chữ “Miên”, cộng với một chữ do gia đình tự đặt, tất cả các con trai của thế hệ “Miên” đều có tên bắt đầu bằng chữ “Hường” cộng với một chữ do gia đình đặt, tất cả các con trai của thế “Hường” đều có tên bắt đâu bằng chữ “Ưng” cộng với một chữ do gia đình tự đặt... và cứ thế cho đến chữ thứ 20 của bài thơ.


Đối với 10 bài “Phiên hệ” cũng vận dụng như vậy.


10 phiên hệ gồm dòng Anh Duệ (hoàng thái tử Cảnh), Kiến An, Định Viễn, Diên Khánh, Điện Bàn, Thiệu Hóa, Quảng Oai, Thường Tín, Yên Khánh, Từ Sơn).


Theo lệ này hoàng trưởng tử Chủng con Minh Mạng còn có tên Miên Tông, hoàng tôn Đán con Anh Duệ hoàng thái tử Cảnh còn có tên Mỹ Đường.


Mục đích việc này nhằm từ đây chia các hoàng tử vua Gia Long làm hai hệ: đế hệ và phiên hệ. Đế hệ được kế thừa kế nghiệp, phiên hệ là bờ rào bao quanh bảo vệ đế hệ. Khi ban bố cách đặt tên này, Minh Mạng nói: Trẫm không dám so sánh với nhà Chu xưa ở Trung Nguyên nối năm được 700 năm, nối đời được 30 đời. Nhờ các tiên đế ta tính nhân đức, chính sự ân huệ tốt, họ Nguyễn Phúc được cội sâu gốc bền, nghiệp lớn tốt thịnh. Trẫm chỉ giơ tay lên trán cầu trời cho từ nay về sau con cháu ta nhận nối cơ đồ lớn, được hưởng 500 năm, tức là hơn 20 đời, chẳng dám mong nhiều hơn!


Cùng năm ban hành phép đặt tên này, 23 hoàng tử của vua Minh Mạng thảy được đổi tên lấy Miên đứng đầu: Miên Tông, Miên Định, Miên Nghi, Miên Hoành, Miên An…


Từ đó trở đi, hễ sinh thêm hoàng tử, đầy 100 ngày phải làm lễ “bão kiến” (ẵm đến ra mắt vua) chiếu theo “Đế hệ thi” mà cho tên. Có tên mới chấm dứt dùng tên cũ.


Làm xong thơ, Minh Mạng đến cung Từ Thọ để thăm mẹ là Thuận Thiên Hoàng thái hậu.


Cung Từ Thọ có một dãy hành lang rất dài gọi là trường lang, trên có mái che nối liền cung này với nơi vua ở (điện Trung Hòa), với Thái Bình lâu, Nhật Thành lâu và Duyệt Thị đường. Trước mặt cung có cổng lớn ra vào gọi là Thọ Chỉ môn, vượt qua cửa này sẽ đến một cái sâu rộng với một tấm bình phong đồ sộ, hai bên sân này ở phía tay trái có nhà Tả Trà, ở phía tay phải có lầu Tịnh Minh. Sau lưng cung Từ Thọ là điện Thọ Ninh, bên trái là tạ Trường Du, bên phải là am Phước Thọ. Một dãy hành lang có mái che nối liền tất cả các công trình này với cung Từ Thọ.


Mặt bằng cung Từ Thọ hình chữ nhật, được xây dựng theo kiểu nhà kép như ở điện Thái Hòa. Mái cung lợp ngói âm dương. Tòa nhà thì rộng rãi nhưng bộ mái lại khá thấp, nền cũng thấp cho nên thiếu phần cao ráo, sáng sủa. Hàng cột hiên ở mặt trước cung không đứng ở trên nền cao như thường thấy mà lại dựng dưới bậc thềm, hình dáng cột thon nhỏ.


Mặt mái trước tiền doanh cung Từ Thọ được cắt ra thành ba mảng theo chiều ngang. Trên mái dải cổ diêm nằm giữa lớp mái thứ nhất và lớp mái thứ hai có trang trí những bức họa nhiều màu sắc trong từng ô hộc, trên bờ nóc và bờ quyết và dải cổ diêm của các tầng mái khác cũng thế.


Ở giữa bờ nóc có trang trí hình con phụng. Ở hai đầu bờ nóc và ở cuối các đoạn của bờ quyết nơi gócv mái lại trang trí bằng hình những con phụng khác quay đầu vào giữa bờ nóc. Chỉ có ở tầng mái cuối là trang trí hình con giao.


Bộ dàn trò của cung Từ Thọ làm bằng gỗ lim đánh bóng. Toàn bộ cung chia làm 7 gian 2 chái, trước cung và sau cung đều có mái hiên.


Hệ thống vì kèo ở tiền doanh được kết cấu theo kiểu chồng rường gồm 3 tầng giá thủ đỡ lấy kèo và đòn nóc chạy xuyên suốt 7 gian nhà. Trên mặt gỗ của các vì kèo có chạm nổi những hình hoa lá cách điệu. Khắp mặt các liên ba được chia thành từng ô hộc, hình vuông hoặc hình chữ nhật và được trang hoàng bằng những hình chạm nổi theo những chủ đề trang trí cổ điển như lư trầm hay lẵng hoa.


Qua khỏi tiền doanh người ta thấy hệ thống vì kèo của mái thừa lưu được chạm lộng rất tinh vi trang nhã. Tiếp đến là chính doanh, phần chính của tòa nhà. Hai gian bên trái và hai gian bên phải được vách đố ngăn lại thành cái buồng rộng dành riêng cho Hoàng thái hậu làm nơi ăn ngủ, còn lại ba gian giữa có kê bục cao dùng làm nơi tiếp khách.


Hoàng Thái hậu mặc áo ngoài màu cổ đồng trùm lên các áo ở lớp trong màu túy lục, tử đờn, mặt quần tím xếp con 5 lá, đi giày “chín thoa” là thứ giày Tàu thêu thùa rất tinh vi, dưới dày đến chín lớp, làm cho mỗi bước đi ống quần xòe ra dịu dàng như cánh dơi.


Hoàng Thái hậu nghe tin báo vua đến, từ trong buồng bước ra gian giữa, ngồi trên sập sơn son thếp vàng. Minh Mạng vào, quỳ xuống vấn an mẹ. Hoàng Thái hậu ban cho vua ngồi trên sập, nhưng vua chỉ rón rén ghé ngồi ở một góc sập.


Hoàng Thái hậu tính cần kiệm, từng đặt nhà dệt, nuôi tằm trong cung thân đến trông nom để làm vui. Khi Minh Mạng còn nhỏ, bà luôn dạy bảo, kèm cặp con học hành, nên Minh Mạng rất chăm học và học rất giỏi. Bà sinh được 4 con trai, con trưởng là Minh Mạng, con thứ hai là Kiến An Công tên là Đài, thứ ba là hoàng tử Hiệu chết sớm, thứ tư là Thiệu Hóa Công tên là Chẩn. Minh Mạng thưa với mẹ chuyện Đài ăn tiêu hoang phí, xin mẹ răn dạy thêm cho. Thấy Hoàng Thái hậu mắt có sắc giận, Minh Mạng lại kể chuyện Chẩn hơn Hoàng trưởng tử Chủng có 4 tuổi, chú cháu cùng học với nhau, mà Chẩn rất có lễ, coi trọng Chủng. Hoàng Thái hậu lúc ấy mới tươi cười, nói:


- Thấy Chẩn noi gương hoàng huynh nó trước đây chăm chỉ học hành ta rất mừng. Chỉ hiềm vì nó sức yếu, lắm bệnh, nên ta cũng không dám đốc thúc quá nhiều. Còn Đài, ta sẽ khuyên bảo nó dè sẻn trong việc chi tiêu, nếu nó vẫn quen thói cũ xa hoa hoang phí, ta sẽ không cho nó vào cung thăm ta nữa.


Minh Mạng xin mẹ đừng lo buồn, cố gắng ăn uống, nghỉ ngơi giữ gìn sức khỏe. Hoàng Thái hậu nói:


- Ta biết hoàng đế chăm lo công việc suốt ngày, há nỡ lấy tuổi già mà làm lụy cho con, cho nên hàng ngày cố gắng ăn thêm, tự thấy tâm thần thảnh thơi, hoàng đế không phải lo.


Ngừng một lát, thái hậu lại nói, giọng trầm buồn:


- Trước đây cũng vì bà chánh phi không hiền, nên mẹ con ta đã phải chịu bao đắng cay khổ sở. Con có nhớ hồi nhỏ mẹ từng dạy con bài thơ Cù mộc trong Kinh Thi hay không? Người chủ tam cung lục viện phải như cây cả cho sắn bìm dựa vào. Nay ngôi Hoàng quý phi trong cung chưa lập, mà con lại có nhiều phi tần, người nào cũng muốn chiều lòng con để được phong chức ấy, nên con phải hết sức cẩn thận. Gần đây mẹ nghe nói con rất sủng ái con Huỳnh Thị Liễu, mẹ thấy con có tính tình không được nết na thùy mị, nếu con lập làm Hoàng quý phi, e không có lợi cho hoàng gia và triều đình…


Minh Mạng giật mình. Mới đây phó tổng trấn Gia Định thành Huỳnh Công Ly có dâng con gái là Huỳnh Thị Liễu cho ông. Thấy nàng xinh đẹp, ông cũng đem lòng quyến luyến, nàng cũng hết sức chiều chuộng ông, khiến ông có phần xiêu lòng…


Thái hậu lại nói:


- Ta xem trong số các phi chỉ có Hiền phi tên Chính là đoan trang phúc hậu hơn cả. Còn trong hàng tần thì Thục tần tên Bửu là giỏi văn chương thơ phú. Thục tần thường vào chầu ẵm theo cháu Miên Thẩm(1) đứa nhỏ đã thuộc lòng vanh vách thơ Đường, chắc là do mẹ nó dạy nó. Được vợ hiền con giỏi là phúc lớn Trời ban, con không nên say mê tửu sắc để trong nhà được luôn vui vầy ấm áp.


Minh Mạng cúi đầu xin tuân theo lời mẹ.


Sau điện Cần Chánh là điện Trung Hòa làm năm Gia Long thứ 10 (1811). Điện xây về hướng nam, nền cao 2 thước 3 tấc, chính tịch 7 gian, tiền tích hậu tịch đều 9 gian, đông tây có hai hiên. Mặt trước và sau mỗi mặt có ba bệ đá để lên xuống, tả hữu mỗi bên một bệ. Điện làm theo kiểu trùng thiềm trùng lương, lợp ngói hoàng lưu ly, trên nóc và mấy đường quyết trang sức bằng pháp lam.


Trước điện là một cái sân rộng, giữa có đường dũng đạo lát đá, trước sân có ao sen rồi đến một cái bình phong, sau bình phong là nơi vua ở.


Khoảng giữa điện Trung Hóa và điện Cao Minh Trung Chính, bên tả có viện Dưỡng Tâm làm năm Gia Long thứ 9 (1810) xây về hướng đông, trùng thiềm, lợp ngói âm dương, là nơi vua đến nghỉ ngơi xem sách khi nhàn rỗi.


Phía đông viện Dưỡng Tâm có Thanh Hạ thư lâu xây về hướng tây, phía bắc thư lâu có Đạm Như thi xá xây về hướng bắc.


Về phía đông có vườn Thiệu Phương làm năm Minh Mạng thứ 9 (1828), chung quanh có tường bao bọc, cửa chính xây về hướng nam, giữa vườn có hồi lang đi ra bốn phía và tiếp mái với nhau như hình chữ “Vạn” nên gọi là Vạn Tự hồi lang, nơi bốn góc hồi lang dùng hai đường, hai hiên. Tây nam đường gọi là Di Nhiên đường xây về hướng nam. Đông bắc đường gọi là Cẩm Xuân đường xây về hướng bắc. Tây bắc hiên gọi là Hàm Xuân hiên xây về hướng hướng tây. Phía tây Vạn tự hồi lang có hai lạch nước gọi là Ngự câu, trên bờ đông của lạch có núi trích thúy.


Sau một đêm, mỗi canh có một cung nữ hầu “ngự ngơi”, Minh Mạng thường dậy vào khoảng giữa giờ Mão. Năm thị nữ chia nhau thay quần áo, trang điểm chải chuốt từng nếp áo, từng móng tay của nhà vua, đồng thời sắp xếp từng đồ vật xung quanh sao cho thật đẹp đẽ.


Các cung nữ mặc áo rộng màu đỏ hoặc màu lục, tóc rẽ giữa, bịt khăn để hai mái tóc vòng xuống như hình cánh cung, thay nhau vào điện Trung Hòa - nơi vua ở để chầu thỉnh vua.


Các thái giám mặc áo dài bằng lụa xanh dệt cái hoa ở mảng trước ngực bưng đến những bình đồ ăn đậy kín, ngoài có dán nhãn ghi tên. Có 30 món ăn, do mỗi đầu bếp ở Thượng Thiện Đường phụ trách một món. Ngoài những cao lương mỹ vị như yếu sào, nem công, vi cá, bào ngư, cửu khổng, chả phượng, còn có những món thường xuyên như gà tần, cá dìa, cá đối hấp, gà quay lò cả con, tôm rồng, bồ câu hầm, chả nướng, chân heo ninh, ngỗng quay... Vua chỉ ăn một mình, thích món gì thì chọn món ấy, đồ ăn được đựng trong chén kiểu. Gạo vua dùng phải thật trắng, là gạo gie An Cựu chọn lựa từng hạt, nấu trong một om đất do làng Phước Tích sản xuất, mỗi om đất chỉ được sử dụng một lần. Đũa vua dùng bằng tre hay bằng kim giao phải thay đổi hàng ngày.


Khi “ngự thiện”, Minh Mạng uống rượu thuốc “Minh Mạng thang” để kích thích tiêu hóa ăn cho ngon miệng. Toa thuốc này còn có tên “nhất dạ ngũ giao tam hữu dậng” (một đêm ngủ với 5 bà, 3 bà có bầu). Toa thuốc do quan Ngự y Lê Quốc Chước bắt mạch, bốc thuốc và đích thân sao ngâm thuốc dâng lên. Thang thuốc này cấm chỉ việc sao chép, nhưng vì nó quá thần hiệu, bên các quan trong triều cũng bí mật sao chép để dùng riêng, có người nói trong đó có những vị như sa sâm, câu kỷ tử, bạch truật, đào nhân, đương quy, mộc qua, thục địa, tục đoạn, phòng phong, nhục quế, tần giao, độc hoạt, bạch thược, trần bì, khương hoạt, phục linh, đại hồi, cam thảo, đại táo, xuyên khung, đỗ trọng, thương truật.


5 cung nữ chia nhau quạt lông, chước tửu, đàn hát hầu vua. Vua ăn xong, lại dâng tăm bông. Tăm làm bằng loại tre rất tốt, thân chuốt tròn, một đầu vót thon dần cho thành mũi nhọn ở đầu kia. Đầu lớn của tăm được chẻ thành hàng trăm mảnh nhỏ như sợi chỉ, dập dập cho mềm rồi lật ngược ra xung quanh đầu tăm. Đầu nhọn dùng để xỉa răng, đầu mềm dùng để chùi răng cho sạch.


Một bà phi bưng một khay đựng bánh tráng, bánh trứng chim, bánh khảo, bánh gai dâng cho vua tráng miệng. Những bánh này do các bà thay nhau mua sắm, làm ra đế cung tiến. Bữa nay đến lượt bà Hiền phi dâng bánh. Bà tên Ngô Thị Chính, con của Chưởng cơ Ngô Văn Sở.


Sau khi bà Chính phi Hồ Thị Hoa sinh Hoàng trưởng tử Miên Tông rồi mất, bà Hiền phi và bà Lễ tần Nguyễn Gia thị con của phó vệ úy Nguyễn Gia Quý là hai vương phi được Minh Mạng sủng ái nhất.


Hiền phi khép nép tâu:


- Tâu Ngài Ngự, bánh của thần thiếp làm có vừa miệng Ngài Ngự không ạ?


Minh Mạng cười!


- Bánh của Phi làm rất ngon, nhưng ăn mãi cũng chán miệng. Nếu Phi làm được những thứ bánh dân dã như bánh bèo, bánh nậm, bánh khoái cho ta ăn đổi món thì rất hay.


Minh Mạng còn nhớ hồi mình còn nhỏ đã có lần được ăn một bữa bánh bèo ở quán dưới chân núi Ngự Bình. Từng chén bánh bột lọc trắng trong trên rắc tôm chấy vàng cùng hành phi, tép mỡ rụm dòn lại chấm bằng thứ nước chấm đặc biệt là nước mắm thứ gộc, hòa trộn với mỡ, đường, tỏi, ớt giã nhỏ thơm cay. Nhìn những cánh hoa bèo trắng với nhị vàng tỏa quanh đã thích mắt, càng thích hơn khi được múc từng cánh hoa bèo trắng ấy lên để thưởng thức. Thật tuyệt vời cái hương vị mát bùi của bánh, thơm ngon của nhân nhị, ngọt ngào quyện với cay cay của nước chấm và dòn rụm dòn tan của tóp mỡ, thơm lừng mùi hành phi. Đúng là miếng ngon nhớ đời.


Hiền phi mừng rỡ:


- Muôn tâu, hồi thần thiếp còn ở nhà đã học làm những thứ bánh ấy, xin nguyện trổ nghề mọn để làm đẹp lòng thánh thượng.


- Hay lắm. Từ ngày có bà Cung trung giáo tập họ Nguyễn vào cung dậy bảo, Phi học tập có được tấn tới không?


- Muôn tâu, ngoài Tứ thơ, Ngũ kinh và Bắc sử, bà còn dạy chúng thần thiếp học làm thơ nôm, nên lớp học không buồn tẻ mà rất vui. Bà còn đọc cho chúng thần thiếp nghe bài thơ “Qua đèo Ngang” bà mới làm trên đường từ ngoài Bắc vào Kinh.


- Phi có thuộc bài thơ ấy không, đọc cho ta nghe thử.


Hiền phi cất giọng đọc:


Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,


Cỏ cây chen đá lá chen hoa.


Lom khom dưới núi tiều vài chú,


Lác đác bên sông rợ mấy nhà.


Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,


Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.


Nghe đọc đến đây, Minh Mạng cau mày. Thì ra người tài nữ đất Bắc này vẫn còn mong nhớ nhà Lê. Nghe đến hai câu cuối:


Dừng chân đứng lại, trời non nước,


Một mảnh tình riêng ta với ta.


Vua gật gù tán thưởng. Bà Cung trung giáo tập tên là Nguyễn Thị Hinh là vợ của Tri huyện Thanh Quan Lưu Nguyễn Uẩn, nên thường gọi là bà Huyện Thanh Quan. Nghe tiếng bà là người tài năng và có đức độ. Minh Mạng mời bà vào cung để dạy các phi tần.


Người trong đội Thượng Trà bưng bộ đồ trà bằng sứ ký kiểu Trung Hoa dâng cho vua thưởng trà. Chén vẽ sơn thủy Việt Nam có đề hai câu thơ nôm của bà Thanh Quan:


Như in thảo mộc trời Nam lại,


Đem cả sơn hà đất Bắc sang.


Vừa nhấp trà, Minh Mạng vừa tủm tỉm cười, nhớ lại chuyện mấy hôm trước ông viết hai chữ “Phúc”, “Thọ” thật lớn để ân tứ cho một vị đại thần. Ông vời bà Thanh Quan vào hỏi chữ viết như thế nào. Bà khen:


Phúc tối hậu, Thọ tối trường.


Câu này có nghĩa: Phúc rất dày, Thọ rất dài. Ban đầu Minh Mạng hơi ngơ ngác, sau nhìn kỹ lại ông mới hiểu ý bèn mỉm cười và gật đầu. Thì ra bà Thanh Quan đã ngầm chê mình viết chữ Phúc báo phục phịch và chữ Thọ dài lêu đêu! Vì lời chê khéo léo và văn vẻ nên Minh Mạng không giận mà còn trọng bà hơn. Ít lâu sau, bà xin Minh Mạng miễn cho làng Nghi Tàm quê bà cái lệ tiến chim sâm cầm. Sâm cầm là một giống chim mùa thường hay về đậu hàng đàn trên mặt hồ Tây ở Bắc Thành. Thịt chim ăn bổ như sâm nên gọi là sâm cầm. Bọn quan lại địa phương muốn lấy lòng vua nên buộc dân làng phải nộp sâm cầm để cung tiến, khiến dân làng phải ra sức săn bắt chim rất khổ, không có thời giờ làm công việc chài lưới, đồng áng. Nếu không đủ số chim theo lệ, thì lý trưởng bị chăng trói, đánh đập. Viên lý trưởng làng Nghi Tàm là Lý Râu thấy quan hạch không đủ số chim, đã cầm cả lồng chim đập chết, rồi nằm xuống chịu đòn thay cho dân. Mông đít Lý Râu bị roi quất lằn ngang lằn dọc, thịt nát tóe máu nhưng ông vẫn kiên gan chịu đựng. Dân làng nhớ đến bà Thanh Quan đang ở Kinh liền cử người vào gặp bà, nhờ bà nói với vua xin tha cho dân khỏi phải tiến chim sâm cầm. Minh Mạng đã nghe lời bà, bãi bỏ cái lệ đó.


Qua chuyện này, Minh Mạng càng hiểu thêm về cái tệ hà hiếp, nhũng nhiễu dân chúng của quan lại địa phương. Muốn ngăn chặn việc vơ vét, bóc lột dân của quan lại, Minh Mạng đã quy định chặt chẽ chế độ tiền lương cho quan lại. Từ chánh Nhất phẩm đến tòng Cửu phẩm cách nhau chừng 18 bậc, tiền lương cũng chênh nhau khoảng 18 đến 20 lần. Ngoài ra, tri phủ, đồng tri phủ, tri huyện, tri châu còn có khoản tiền “dưỡng liêm” từ 20 đến 50 quan tùy theo cương vị khác nhau. Nhà vua nghiêm trị bọn quan lại tham nhũng. Mặc dầu như vậy nhưng cái tệ ức hiếp, sách nhiễu dân vẫn chưa trừ bỏ được.


Hết tuần trà, Minh Mạng đến chái đông điện Cần Chánh để làm việc trong một căn phòng thoáng rộng có nhiều cửa kính. Bên cạnh một vài thị nữ cung kính đứng hầu để lo việc mài son, châm thuốc, dâng trà.


Đầu tiên, vua cầm bút son phê vào thẻ thỉnh an của các hoàng tử do thái giám dâng lên, trong đó vua cho biết tình trạng sức khỏe của mình.


Tiếp đó, vua phê các văn án. Xem đến bản án quan Tư vụ Nội vụ Nguyễn Đức Tuyên ăn bớt nhựa thông công quỹ, Minh Mạng nhớ lại trước đây có viên lại không dùng thước để gạt thăng đong thóc thuế, thường dùng tay để dễ bề lạm dụng, vua lập tức sai chặt tay tên lại đó. Vua nghĩ một viên lại nhỏ lương thấp ăn bớt của dân còn bị nghiêm trị, huống hồ Nguyễn Đức Tuyên quan lớn lương cao mà còn ăn bớt của công thì tội còn nặng hơn nhiều. Vua phê án ra lệnh chặt tay Nguyễn Đức Tuyên để răn các quan về tội tham nhũng.


Xem đến bản án người làm việc ở kho Kinh là Trần Công Trung đòi ăn tiền làm khó dễ dân chung. Minh Mạng nhớ trước đó Quảng Đức và Quảng Trị gạo đắt, triều đình cho xuất 23.000 hộc thóc để bán cho dân. Người lính kho Kinh là Đặng Văn Khuê đong thóc để bán mỗi hộc kém một vài cáp, vua liền sai chém Khuê. Minh Mạng liền phê vào bản án: “Vụ án Đặng Văn Khuê năm Minh Mạng thứ ba đã theo luật nghiêm trị, thế mà bọn Trung còn công nhiên làm bậy, không kiêng sợ gì, tuy tang vật không quá 10 lạng, nhưng luật quý ở chỗ làm cho lòng người kính sợ, nếu nhu nhơ để sổng một mạng ấy thì e sau này những kẻ khinh nhờn pháp luật sẽ nhiều ra không thể giết hết được. Truyền đem Trần Công Trung ra chém ở chợ Đông”.


Năm ấy, ở Võ khố, bạc thoi phát ra, cứ một lượng bị cắt xén mất một nửa chỉ còn chín tiền mà thôi.


Vua thấy thoi bạc nào cũng bị cắt ngắn. Kho lại là Hoàng Văn Nhẫn bị chất vấn, nhưng không chịu khai đúng sự thật và cũng không chịu thú tội. Vua tức khắc ra lệnh bắt giam đương sự giao cho bộ Hình tra xét. Bản án dâng lên, vua ra lệnh chém Hoàng Văn Nhẫn. Trong khi hành quyết tội nhân, bọn quan lại Võ Khố bị bắt buộc quỳ xuống mà xem.


Giám lâm (trưởng kho) là bọn Trần Tử Vân và Nguyễn Đăng Tín đều bị cách chức.


Không chỉ nghiêm trị những quan lại nhỏ, ngay cả các quan văn, võ cấp cao mắc tội, Minh Mạng cũng thẳng tay trừng trị.


Vệ úy Nguyễn Lương Huy và Phó vệ úy Đoàn Dưỡng chia nhau đi tuần tiễu hải phận thuộc các tỉnh Nam Định và Nghệ An. Bắt gặp thuyền người Thanh có chở lén thuốc phiện, hai ông này cho thuộc hạ ra cướp lấy thuốc phiện.


Bộ hình được vua sai xét xử và đề nghị. Vua hạ lệnh cho đình thần chiếu án thi hành: Người mang lén thuốc phiện bị xử giảo giam hậu(1). Thuyền trưởng và bọn thuộc hạ đều bị tội lưu. Thuốc phiện tịch thu nhập kho. Lương Huy bị xử trảm giam hậu. Thủ phạm Hồ Công Mão bị trảm quyết và treo đầu. Đoàn Dưỡng chưa bị bắt giam, đã chết.


Đề đốc Kinh thành là Nguyễn Văn Phương đem lính Võng thành vây bắt con bò đen, con bò chạy ra, Phương cầm súng bắn, bắn lầm phải một người lính bị thương. Minh Mạng phê án: “Pháp luật nghiêm ngặt có cho bậy bạ như thế đâu. Hơn nữa, Phong là quan võ chức to, đánh gươm bắn súng vốn là nghề nghiệp của mình, lại bắn lầm phải lính. Thử nghĩ xem quan võ bất tài như thế, còn dùng làm việc gì được. Truyền giáng bổ Phương làm Thành thủ úy đài Trấn Hải, bắt bồi thường 10 lạng bạc cho người lính bị thương”.


Khi thành Hà Tiên bị giặc đánh, Tuần phủ Trịnh Đường tham tang tới 1000 quan tiền công ở kho đem xuống thuyền chạy trốn, có viên nguyên án sát Đặng Văn Nguyên trông thấy. Đến khi tỉnh lỵ đã thu phục, Trịnh Đường lại tâu man là tiền ở kho bị giặc lấy mất. Đến đây Tham tán Hồ Văn Khuê, nhân Đặng Văn Nguyên phát giác mới chỉ đích danh tham hặc. Bản án dâng lên, Minh Mạng phê: “Trịnh Đường trước đây có lỗi đã được gạt bỏ vết xấu mà lại dùng. Để Hà Tiên thất thủ, vội bỏ thành trì đất đai mà chạy! Bản tâm của y chính là nhằm lợi dụng lúc có giặc cướp để làm gian tham đó, thực đáng ghét! Truyền xử Trịnh Đường vào tội giảo quyết(1), còn Đặng Văn Nguyên biết việc mà không tâu ngay, bị kết án trảm giam hậu”


Minh Mạng không chỉ xử nghiêm đối với người ngoài, mà ông còn xử rất nghiêm khắc ngay với các em và con của mình.


Kiến An Công Đài, em ruột Minh Mạng, sai thuộc viên trong phủ là Lê Văn Quát ra Bắc thành mua ngựa. Quát đi tắt lên Cao Bằng yêu sách của dân. Tuần phủ Lạng Sơn Hoàng Văn Quyền đem việc tâu lên. Quát bị xử tử, Đài bị phạt bổng một năm.


Điện Bàn Công Phổ, em trai Minh Mạng, đặt càn quan chức, làm riêng ấn tín. Việc phát giác ra, Phổ đến cửa khuyết xin nhận tội. Minh Mạng ra lệnh phạt bổng thân công ba năm, triệt bỏ thuộc binh đi, không chuẩn cho theo ban chầu mừng. Còn phó trưởng sử phủ đệ ấy là Nguyễn VănBảo giao xuống bộ Hình trị tội.


Hoàng tử Miên Phú, con trai Minh Mạng, đêm đến cùng với bọn phủ thuộc là Hoàng Văn Vân, Bùi Văn Nghị và Bùi Văn Quế phi ngựa ở phía tả ngoài hoàng thành. Miên Phú về trước, mấy người phủ thuộc còn cho ngựa chạy thi. Có một bà già đi bên đường tránh không kịp, bị ngựa của Vân xéo chết. Minh Mạng biết tin đó, bèn sai ngay Tôn Nhân phủ Tôn Thất Bằng, các đại thần Trương Đăng Quế, Phan Bá Đạt, Nguyễn Công Hoán và Hoàng Quýnh cùng điều tra, xét hỏi. Khi thành án, Minh Mạng phê chuẩn: Miên Phú bị tước mũ áo, cách mất lương bổng hằng năm, đóng cửa ở nhà riêng để tự xét mình, sửa lỗi, không cho ra ngoài một bước, không được lại dự vào hàng các hoàng tử, chỉ gọi tên là Phú thôi. Hoàng Văn Vân bị chém ngay, Bùi Văn Nghị, Bùi Văn Quế đều bị phát vãng đi Ai Lao sung quân. Khi đến chỗ phát phối đánh cho 100 hồng côn. Hơn thế nữa, Minh Mạng còn nghiêm răn: “Người đàn bà già bị chết đã có đền mạng, đáng lý không nên cho tiền mai táng nữa. Nhưng nghĩ lại: già nua thất thểu ở giữa nơi kinh thành, thực đáng thương xót. Vậy chuẩn cho cứ tên Phú bắt phải đền cho con của người chết 200 lạng bạc, để giữ công bằng, quyết không có lý nghị thân nghị quý. Phàm các em và con cháu ta chớ nên coi khinh, lấy thân để thử pháp luật. Gương sáng chẳng xa, ai nấy phải kính cẩn đó!”


- Diên Khánh Công Tấn, vì việc riêng, tự tiện đánh roi viên Thị trung cai đội Lê Văn Hương. Quan Lệnh Tôn Nhân phủ Tôn Thất Dịch đem việc ấy tâu lên. Minh Mạng đang ngự ở Tiện điện(1) các tước công đều ở đấy. Vua quay lại trông Tấn, rỏ nước mắt trách rằng: “Lê Văn Hương kia cũng là mệnh quan của triều đình, có tội nên tâu lên, sao có thể tự tiện trách phạt bằng roi. Vả phép của Tiên đế là phép chung của thiên hạ, anh em ta há được dùng riêng ư? Em không thấy Tiên đế thiết tha quở trách Định Viễn Công Bính ư? Khi ấy Định Viễn Công có lỗi nhỏ, anh vì Định Viễn Công hai ba lần cầu xin miễn cho, Tiên đế còn không tha, sở dĩ phải làm thế là vì lo các Hoàng thân, các tước công sinh trưởng ở chốn giàu sang cậy được ân yêu, khinh thường phạm đến pháp luật, cho nên không thể không nghiêm ngặt trách phạt để làm răn sau này. Nay anh lấy lòng Tiên đế làm lòng mình mà yêu em, em cũng nên lấy lòng mình mà yêu anh, cùng nhau cẩn thận giữ phép đã thành để giữ tiếng tốt đến không cùng, chớ làm việc phi pháp như thế nữa”. Tấn cúi dập đầu tạ.


Ít lâu sau, Tấn lại nhân việc riêng, bắt giữ dân phủ Thừa Thiên, cùng kẻ sai dịch thuộc phủ ấy, quan coi phủ đem việc tâu lên.


Minh Mạng gọi đến khiển trách gắt gao, lại dụ rằng: “Dân là gốc của nước, nếu dân không yêu vua giúp vua thì làm sao mà hưởng sự giàu sang được, mày đã không cùng ta chia lo mọi công việc, lại làm cho ta thêm sự ưu phiền, như vậy lòng mày có yên chăng?” Vua bắt Tấn chịu phạt trượng, cách chức trưởng lại của phủ Diên Khánh, sung làm lính thuộc phủ.


Chưa được bao lâu, Tấn lại cho lính đến tỉnh Bình Định, tìm con hát, bắt ngang cả dân lành, việc ấy đến tai vua.


Vua sai lập tức bắt kẻ thuộc binh đem về nơi can phạm chém đầu cho mọi người thấy, phạt lương bổng của Tấn một năm.


Tấn thấy vua không nhắc gì đến chuyện Tấn cho tên thương nhân Diệp Liên Phong được cải trang thuyền buôn bằng mọi hình thức, dán các thứ nhãn hiệu, mạo nhận là thuyền nhà Thanh để được miễn thuế, trong lòng hí hửng. Vụ đó mới béo bở, là kế làm ăn lâu dài, chứ còn ba cái lẻ tẻ này có nhằm nhò gì!


(còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »