tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21055900
Tiểu thuyết
18.11.2016
Henryk Sienkiewicz
Quo Vadis
Chương 17, 18, 19 & 20

Chương XVII


 


Quả thực lão Khilon muốn trừ khử ông Glaukox, người mặc dù đã cao tuổi song hoàn toàn không phải là một ông già cạn kiệt sức lực. Hồi trước lão quen biết ông cụ, phản bội ông, bán cho bọn cướp, phá tan gia đình ông, cướp sạch tài sản của ông và đẩy ông vào chỗ chết. Tuy nhiên lão chịu đựng ký ức về những sự kiện ấy rất nhẹ nhàng, vì lão bỏ ông cụ đang hấp hối lại một mình không phải trong quán trọ mà giữa cánh đồng gần Minturnae, song lão chỉ không lường trước nổi một chuyện duy nhất là ông Glaukox có thể chữa lành các vết thương và đến được Roma. Vậy nên khi vừa trông thấy ông trong nhà nguyện, lão đã hoảng hồn thật sự và thoạt tiên lão muốn từ bỏ việc tìm kiếm Ligia. Nhưng mặt khác Vinixius còn khiến lão hoảng hồn hơn. Lão hiểu rằng cần phải lựa chọn giữa nỗi sợ hãi ông Glaukox và sự săn đuổi cùng sự trả thù của một vị quý tộc hùng mạnh, người mà chắc chắn sẽ được sự giúp sức của một người thứ hai còn hùng mạnh hơn - ông Petronius. Vì thế lão Khilon không do dự nữa. Lão nghĩ rằng có kẻ thù nhỏ bé dù sao vẫn tốt hơn là có kẻ thù lớn, và mặc dù bản chất hèn nhát của lão run rẩy chút ít trước những biện pháp gây đổ máu, song lão cho rằng việc giết ông Glaukox nhờ tay kẻ khác là chuyện cần thiết phải làm.


Bây giờ lão chỉ lo đến việc chọn người, và trong việc đó lão đã nẩy ra ý hay ho mà lão vừa hé ra với Vinixius. Thường ngủ qua đêm trong các tửu quán giữa những kẻ vô gia cư, vô tín ngưỡng và tôn giáo, lão dễ dàng tìm ra những kẻ sẵn sàng nhận làm bất cứ việc gì, song lại cũng dễ gặp hơn những kẻ mà một khi đã đánh hơi thấy lão có tiền chúng sẽ khử ngay lão, hoặc sau khi đã cầm tiền ứng của lão chúng sẽ bắt lão phải nộp toàn bộ số tiền bằng cách dọa sẽ nộp lão cho bọn vigin. Thật ra, từ một lúc nào đấy, lão Khilon cũng thấy kinh tởm bọn người vô lại, kinh tởm những hình hài tục tằn và khủng khiếp chui rúc trong những ngôi nhà đáng ngờ ở khu Xubur hoặc khu Zatybre. Đánh giá mọi người bằng thước đo của mình, không cần đi sâu lắm vào những tín đồ Thiên chúa cùng học thuyết của họ, lão cũng vẫn nghĩ rằng lão sẽ tìm ra phương cách thích hợp trong số những tín đồ ấy, rằng họ có vẻ đáng tin hơn những người khác, lão quyết định đến với họ và trình bày câu chuyện sao ho người ta sẽ thực hiện nó không vì tiền mà vì lòng mộ đạo.


Để nhằm mục đích ấy, chiều tối lão tìm tới nhà ông cụ Euryxius, người mà lão biết rằng sẽ tận tụy với lão bằng cả tấm lòng và sẽ làm mọi chuyện hầu có thể giúp ích được cho lão. Tuy nhiên, vốn thận trọng, lão không định bụng sẽ nói cho ông biết những ý đồ thực sự của mình - những ý đồ chắc chắn sẽ mâu thuẫn với đức tin của ông già, phẩm hạnh và lòng kính Chúa của ông. Lão chỉ muốn tìm được những người sẵn sàng thực hiện mọi việc, và khi ấy, lão mới trình bày sự việc sao cho họ sẽ phải giữ kín chuyện ấy trong vòng bí mật vĩnh viễn vì e sợ cho chính bản thân mình.


Sau khi đã chuộc được con trai ra, ông già Euryxius thuê một trong những quầy hàng nhỏ đầy rẫy gần Đại Hý trường để bán quả ô liu, bánh tấm bột cứng và nước pha mật ong cho những người đến xem các cuộc đua. Khilon gặp ông lão đang ở nhà dọn dẹp quầy hàng, lão bắt đầu nói về việc đã đưa lão tới đây. Giúp tiền cho ông cụ, lão đã tính rằng ngươi ta sẽ đền bù cho lão bằng lòng biết ơn. Hiện nay lão cần có hai ba người khỏe mạnh và can đảm để gạt bỏ một mối hiểm họa đang đe dọa không những chỉ bản thân lão mà toàn thể những người Thiên chúa giáo. Lão nghèo thật vì tất thẩy những gì lão có đều đã đưa cho ông Euryxius, tuy nhiên lão sẽ trả công cho những người nọ, với điều kiện họ phải tin tưởng lão và thực hiện trung thành tất cả những gì lão ra lệnh.


Ông lão Euryxius và cậu con trai là Quatux lắng nghe vị Mạnh thường quân của họ với tư thế gần quỳ sụp xuống. Cả hai đều nói rằng họ sẵn sàng làm tất cả những gì mà lão yêu cầu vì tin rằng mọi người thánh thiện như lão không thể có hành động trái với giác thuyết của Đấng Crixtux.


Khilon cam đoan với họ là đúng thế, rồi ngước mắt nhìn lên trời giả vờ cầu nguyện, lão suy nghĩ xem có nên nhận sự hy sinh thành tâm của họ hay không, cái đó có thể tiết kiệm cho lão một nghìn xextecxi. Tuy nhiên, sau một lúc cân nhắc, lão bỏ ý định này. Ông Euryxius đã già, có thể cái chính không phải tuổi tác mà âu lo và bệnh hoạn đã làm cho ông cụ héo hắt đi, Quatux thì mới mười sáu tuỏi, mà Khilon lại cần những người khéo léo và trước nhất phải khỏe mạnh. Còn về chuyện một nghìn xextecxi thì lão tính trước rằng, nhờ cái ý đồ hay hớm mà lão đã nghĩ ra, trong bất cứ trường hợp nào lão cũng vẫn có thể tiết kiệm được phần lớn số tiền đó.


Hai bố con nài nỉ thêm một lúc nữa, nhưng khi lão từ chối một cách cương quyết thì họ cũng đành thôi. Quatux bèn nói:


- Con biết ông thợ nướng bánh Đemax, thưa ngài, ở chỗ ông ta có nhiều nô lệ và những người làm thuê. Một trong những người làm thuê ấy khỏe đến nỗi có thể địch nổi không chỉ hai mà cả bốn người, chính mắt con đã trông thấy bác ta nhấc bổng một tảng đá mà trước đó cả bốn người không nhích nổi khỏi chỗ.


- Nếu đó là một người kính Chúa và dám xả thân vì anh em thì hãy cho ta được làm quen với y - Khilon nói.


- Bác ấy là tín đồ Thiên chúa, thưa ngài - Quatux đáp - vì ở chỗ ông Đemax phần lớn là những người Thiên chúa giáo làm việc. Họ gồm có công nhân kíp ngày và kíp đêm, bác ta thuộc về kíp đêm. Nếu ngay bây giờ ta tới đó thì sẽ gặp đúng vào bữa tối của họ và có thể nói chuyện thoải mái với bác ta được. Ông Đemax ở gần Emporium đấy ạ.


Lão Khilon rất hài lòng ưng thuận. Emporium nằm dưới chân đồi Aventyn nghĩa là cách không xa Đại Hý trường. Có thể không cần phải đi vòng chân đồi mà cứ đi dọc sông, qua Porticus Aemilia thì còn rút ngắn chặng đường hơn nữa.


- Ta già rồi - Khilon bảo khi họ đi vào dưới hàng cột - thỉnh thoảng đầu óc cứ lú lẫn cả đi. Phải! Đấng Crixtux của chúng ta bị phản bội bởi một người trong số học trò của Người. Nhưng lúc này ta lại không sao nhớ ra tên của kẻ phản bội ấy.


- Juđa, thưa ngài, hắn treo cổ tự tử rồi - Quatux đáp, trong bụng ngạc nhiên không hiểu sao có người lại có thể quên cái tên ấy.


- A, phải rồi! Juđa! Cảm ơn con! - Khilon nói.


Họ im lặng đi một hồi lâu. Đến Empirium, nơi lúc này đã đóng cửa họ đi vượt qua và vòng quanh những kho thóc trong đó người ta vẫn phát chẩn lương thực cho mọi nười, họ vòng sang trái, hướng về phía những ngôi nhà kéo dài dọc theo Via Ostiensis cho tới tận đồi Textaxiux và Forum Pixtorium. Tới đó, trong vọng ra tiếng ngũ cốc rơi rào rào. Quatux bước vào trong nhà, còn lão Khilon, vốn không thích xuất hiện ở chỗ đông người và luôn luôn sống trong tình trạng lo sợ một định mệnh nào đó rất có thể sẽ xui khiến lão chạm trán với thầy thuốc Glaukox, dứng lại bên ngoài.


"Không hiểu cái tay Herkulex đang làm nghề xay bột này - lão nghĩ thầm và ngắm vầng trăng đang chiếu sáng - là người thế nào nhỉ, nếu hắn là một thằng đểu cáng nhưng là kẻ thông minh thì mình sẽ phải tốn kém ít nhiều đây, nhưng nếu hắn là một tín dồ Thiên chúa và lại ngốc nghếch thì ắt hẳn sẽ làm không công mọi chuyện mình yêu cầu".


Dòng suy nghĩ của lão bị đứt đoạn bởi Quatux từ trong nhà bước ra với một người đàn ông nữa, người này chỉ mặc một chiếc áo tunica được gọi là kiểu exomix, may chéo để hở cả cánh tay và ngực phải. Đám thợ thường dùng kiểu áo này vì nó cho phép cử động hoàn toàn thoải mái. Lão Khilon nhìn người mới tới và thở phào nhẹ nhõm hài lòng, bởi vì trong đời lão chưa bao giờ được trông thấy một cánh tay và một khuôn ngực nào như thế.


- Thưa ngài - Quatux nói - đây chính là người anh em mà ngài muốn gặp.


- Cầu cho bằng an của những người theo Đấng Crixtux hằng ở cùng anh - Lão Khilon cất tiếng - còn còn, Quatux,  con hãy nói cho anh ta biết liệu ta có đáng tin tưởng hay không rồi con hãy quay về, nhân danh Chúa, vì không nên để cho người cha già nua của con phải ở nhà cô độc một mình.


- Đây là một vị thánh thiện - Quatux nói - đã hiến dâng toàn bộ gia sản để chuộc cháu - một kẻ mà Người không hề biết mặt - ra khỏi cảnh đời nô lệ. Cầu Đức Chúa, Đấng Cứu Thế của chúng ta, sửa soạn cho Người một phần thưởng trên thiên đàng.


Nghe thấy thế, người thợ khổng lồ cúi xuống hôn tay lão Khilon.


- Người anh em của tôi tên gì nhỉ? - lão Hi Lạp hỏi.


- Thưa cha, lúc rửa tội, người ta đặt tên cho tôi là Urban.


- Vậy thì Uban, người anh em của tôi này, anh có chút ít thì giờ để chúng ta có thể chuyện trò thoải mái hay chăng?


- Công việc của chúng tôi mãi đến nửa đêm mới bắt đầu, lúc này người ta mới đang chuẩn bị bữa tối thôi ạ.


- Thế có nghĩa là khá đủ thời gian - vậy ta hãy ra bờ sông, ở đó anh sẽ nghe những lời tôi nói.


Họ đi và ngồi xuống bờ sông lát đá trong sự tĩnh mịch chỉ bị khuấy động bởi tiếng những hạt ngũ cốc rơi rào rào và tiếng những làn sóng vỗ ì oạp phía dưới sông. Lão Khilon nhìn thẳng vào mặt người thợ, một khuôn mặt mặc dù mang những nét u buồn và hơi dữ tợn tựa như mặt của những kẻ dã man sinh sống ở Roma nhưng lão vẫn thấy có vẻ chân thành và tốt bụn.


"Chính phải! - lão nhủ thầm trong dạ - Đây là một người tốt bụng và ngu ngốc, kẻ sẽ giết lão Glaukox không công!".


Rồi lão hỏi:


- Urban này, anh có yêu Kính Đức Chúa Crixtux không?


- Tôi kính yêu Người với tất cả tấm lòng, với cả trái tim - người thợ đáp.


- Thế còn những người anh em của mình? Còn những người chị em và những người đã dạy anh chân lý và lòng tin vào Đấng Crixtux?


- Tôi cũng mến họ, thưa cha.


- Vậy thì cầu cho anh được bằng an!


- Và cả người cũng thế, thưa cha!


Lại im lặng - chỉ xa xa có tiếng những hạt ngũ cốc rào rào và bên dưới kia rì rào dòng sông.


Khilon nhìn vầng trăng sáng và bằng một giọng chậm rãi, thẻ thọt, lão bắt đầu kể về cái chết của Đấng Crixtux. Dường như lão không nói cho Uban nghe mà gợi lại cho chính mình cái chết kia, hoặc như lão đang thổ lộ với cả thành phố đang say ngủ điều bí ẩn của cái chết nọ vậy. Có cái gì đó thật cảm động và long trọng. Người thợ khóc, và khi Khilon bắt đầu nức nở và đau đớn rằng vào giây phút lâm chung của Đấng Cứu thế không có lấy một ai, không có lấy một kẻ nào bảo vệ Người - nếu khôn tránh khỏi bị đóng đanh câu rút thì ít nhất cũng tránh khỏi bị lũ lính tráng và bọn Do Thái nhục mạ, thì những nắm tay của người đàn ông dữ tợn nọ siết chặt lại trong nỗi tiếc hận và lòng cuồng nộ sôi sục bị nén chặt. Cái chết khiến bác xúc động tâm can, nghĩ tới bọn người đã nhục mạ. Con Chiên bị đóng đanh trên thập tự, tâm hồn chất phác trong bác sôi sục cả lên và bác bị cuốn lôi vào một ước muốn trả thù hoang dã.


Bỗng lão Khilon hỏi đột ngột.


- Urban này, anh có biết Juđa là kẻ nào chứ?


- Biết, biết chứ. Nhưng nó đã tự treo cổ mất rồi còn đâu! - người thợ kêu lên.


Trong tiếng kêu của bác dường như có nỗi nuối tiếc rằng tên phản bội đã tự trừng phạt mình và không thể rơi vào tay bác nữa.


Lão Khilon nói tiếp:


- Song nếu như hắn không treo cổ, nếu như một người tín đồ Thiên chúa bắt gặp hắn trên đất liền hay trên mặt biển, thì liệu anh ta có nên trả thù hắn về những cực hình, về dòng máu và cái chết của Đấng Cứu thế chăng?


- Thưa cha, có ai lại không trả thù này.


- Bằng an được cùng anh, hỡi kẻ tôi đòi của Chúa. Phải! Có thể bỏ qua những điều nhục mạ đối với bản thân, nhưng ai có quyền bỏ qua những điều xúc phạm tới Đức Chúa? Nếu rắn sinh ra rắn, sự dữ sản sinh sự dữ và sự phản bội đẻ ra sự phản bội, thì từ cái nọc độc của Juđa lại sinh ra một tên phản bội thứ hai; nếu tên kia bán đứng Đấng Cứu thế cho bọn Do Thái và lũ binh lính La Mã, thì tên này hiện đang sống giữa chúng ta lại muốn bán những con chiên của Người cho lũ sói và nếu như không ai ngăn chặn trước sự phản bội, nếu như không ai đập nát đầu con rắn độc đúng lúc, thì cái chết đang đón đợi tất thẩy chúng ta, và mất đi cùng với chúng ta là cả lòng thành kính đối với Con Chiên nữa.


Người thợ nhìn lão vẻ vô cùng lo lắng, dường như không thật hiểu rõ những điều bác vừa nghe tháy. Còn lão Hi Lạp thì lấy một góc áo khoác che đầu bắt đầu lặp đi lặp lại với giọng nói như vọng len từ dưới đất:


- Thương thay cho anh em, những tôi con của Đức Chúa chân chính, thương thay cho anh em, hỡi các nam nữ tín đồ Thiên chúa giáo!


Im lặng lại bao trùm, lại chỉ còn nghe thấy tiếng rào rào của hạt ngũ cốc, tiếng hát âm âm của những người thợ xay và tiếng xôn xao của dòng sông.


- Thưa cha - mãi sau người thợ mới hỏi - đứa phản bội là ai vậy?


Lão Khilon cúi đầu. Thằng phản bội là ai ư? Hắn là con trai của Juđa, là con đẻ của thứ nọc độc của y, hắn giả danh là người Thiên chúa và lui tới các nhà nguyện chỉ để tố giác những người anh em trước Hoàng đế, rằng họ không thừa nhận Hoàng đế là thần, rằng họ đánh thuốc độc các vòi nước phun, giết chóc trẻ con và rằng họ muốn triệt phá cái thành phố này sao cho không một hòn đá nào còn nguyên vẹn nữa. Chỉ vài ngày nữa thôi người ta sẽ ra lệnh cho bọn lính cấm vệ bắt hết các cụ già, đàn bà và trẻ con mang đi giết, như đã hành hình những người nô lệ của viên quan Peđanius Xekunđa vậy. Và tất thẩy những chuyện đó là do chính tên Juđa thứ hai kia gây nên. Nếu như tên Juđa thứ nhất không bị ai trừng phạt, nếu như hắn không bị ai trả thù, nếu như không một ai bảo vệ Đấng Crixtux trong giờ lâm nạn cực hình, thì liệu có ai chăng sẽ trừng trị tên Juđa, thứ hai, có ai chăng sẽ đánh giập đầu con rắn độc trước khi Hoàng đế nghe lời hắn, có ai chang sẽ trừ khử hắn, có ai chăng sẽ bảo vệ những người anh em, bảo vệ lòng tin và Đấng Crixtux tránh khỏi bị diệt vong?


Urban, từ nay giờ vẫn ngồi yên lặng trên bờ đá chắn, đột ngột đứng bậy dậy nói:


- Tôi sẽ làm việc đó thưa cha.


Lão Khilon cũng đứng dậy, lão nhìn mặt người thợ giây lâu, nét mặt được ánh trăng chiếu sáng, rồi khoan thai đưa cánh tay đặt nhẹ lên đầu bác.


- Con hãy đi vào những người Thiên chúa giá - lão nói một cách trang trọng - và hỏi những người anh em về gã thầy thuốc Glaukox. Khi người ta trỏ gã cho con, thì nhân danh Đấng Crixtux, con hãy giết gã đi...


- Glaukox à?... - người thợ nhắc lại dường như muốn khắc ghi vào tấm khảm cái tên ấy.


- Con biết y hay sao?


- Không, tôi không quen. Có tới hàng nghìn tín đồ Thiên chúa ở Roma và không phải ai cũng biết nhau. Nhưng đêm mai anh chị em đồng đạo sẽ họp mặt nhau ở Oxtrianum, tất thảy mọi người, bởi vì vị Sứ đồ của Đấng Crixtux đã đến, Người sẽ thuyết giáo tại đó, và ở đó anh em sẽ chỉ mặt gã Glaukox cho tôi.


- Ở Oxtrianum rư? - Lão Khilon hỏi lại - Có nghĩa là bên ngoài các cổng thành? Tất thẩy anh chị em đồng đạo? Ban đêm à? Ở Oxtrianum, ngoài cổng thành à?


- Vâng thưa cha. Đó là cái nghĩa địa của chúng ta nằm giữa Via Xataria và Via Nomentama. Vậy ra người không biết rằng Đức Sứ Đồ sẽ thuyết giáo tại đó ư?


- Hai hôm nay ta không có nhà nên không nhận được thư của Người, ta cũng không biết Oxtrianum ở đâu vì ta mới từ Koryntơ đến đây cách đây chưa bao lâu, tại Koryntơ ta cai quản họ đạo ở đấy... Nhưng phải rồi! Nếu Đấng Crixtux đã gieo vào lòng con niềm phấn hứng như thế thì con của ta đêm mai hãy đi tới Oxtrianum, tìm bằng được tên Glaukox trong số những người anh em và trừ khử hắn trên đường hắn quay trở về thành phố, điều này sẽ rửa sạch mọi tội lỗi cho con. Và cầu cho bằng an hằng ở cùng con!


- Thưa cha...


- Gì thế con, hỡi nô bộc của Con Chiên.


Trên nét mặt người thợ hiện rõ vẻ lúng túng. Cách đây chưa lâu bác vừa mới giết một người - mà cũng rất có thể tới hai người -  trong khi luân lý của Đấng Crixtux lại cấm việc sát sinh.  Thực ra bác không giết họ trong lúc tự vệ vì ngay cả điều ấy cũng bị nghiêm cấm. Bác cũng không giết họ vì lợi nhuận, lạy Đấng Crixtux che chở... Chính ngài giám mục đã giao cho bác những người anh em để họ giúp đỡ bác, song ngài cũng không cho phép sát sinh, còn bác, bác đã giết người mặc dù không muốn thế. Thượng đế đã bắt bác phải có một sức mạnh hơn người... Giờ đây bác đang ăn năn sám hối một cách nặng nề... Những người khác ca hát trong khi xay bột, còn bác như một kẻ bất hạnh cứ ăn năn hoài về tội lỗi của mình, về việc mình đã xúc phạm tới Con Chiên... Bác đã cầu nguyện, đã than khóc biết bao lâu nay rồi! Bác đã cầu xin Con Chiên tha thứ cho bác bao lần rồi! Cho tới nay bác vẫn cảm thấy mình sám hối hãy còn chưa đủ... Ấy vậy mà giờ đây bác lại hứa sẽ đi giết một tên phản bội... Cũng được thôi! Chỉ có những điều xúc phạm tới bản thân thì mới cần phải tha thứ, bác sẽ giết hắn ngày mai ở Oxtrianum, ngay trước mắt tất cả anh chị em đồng đạo. Nhưng trước hết, tên Glaukox nọ cần phải được xét xử bởi những bậc cao đạo nhất trong số những người anh em bởi đức giám mục hay bởi chính Sứ đồ. Giết hắn chỉ là chuyện vặt, thậm chí giết một kẻ phản bội còn là điều sung sướng như giết mọt con chó hay một con gấu mà thôi, nhưng nếu như tên Glaukox chết một cách vô tội thì sao? Làm sao bác có thể gánh thêm một tội giết người mới, thêm một tội lỗi mới, một điều xúc phạm mới đối với Con Chiên trong linh hồn mình?


- Không có thì giờ để lập tòa ánh, con ạ - Khilon đáp - vì kẻ phản bội sẽ đi thẳng từ Oxtrianum đến Anxum gặp Hoàng đế, hoặc sẽ trốn tránh trong nhà một vị quý tuộc mà hắn đang phục vụ, nhưng đây, ta cho con cái dấu hiệu này, sau khi giết chế Glaukox con hãy trình Đức giám, thì cả Đức giám lẫn Đại Sứ đồ sẽ ban phước cho hành động của con.


Vừa nói thế lão vừa lấy ra một đồng tiền, lục tìm con dao trong thắt lưng, lão dùng lưỡi dao khắc lên đồng xextecxi một dấu chữ thập, rồi đưa cho người thợ.


- Đây là bản án cho Glaukox đồng thời cũng là dấu hiệu cho con. Sau khi trừ khử Glaukox, nếu con trình cái này lên Đức giám thì Người sẽ xá tội cho con ngay cả vụ giết người mà con đã làm một cách không hề cố ý kia.


Người thợ bất giác chìa tay nhận đồng tiền, nhưng trí óc bác hẳn còn nhớ quá rõ nét vụ giết người đầu tiên kia nên bác chợt cảm thấy sợ hãi.


- Thưa cha - bác nói như với giọng van lơn - thế có nghĩa là người sẽ gánh chịu trên lương tâm mình hành động này và chính người đã nghe tên Glaukox bán đứng anh em chúng ta?


Lão Khilon hiểu rằng cần phải đưa ra một bằng chứng nào đó, niêu ra một cái tên họ nào đó, nếu không trái tim người khổng lồ này sẽ bị nỗi ngờ vực len vào. Bỗng một ý nghĩ hay ho nảy ra trong đầu lão.


- Con hãy nghe đây. Uban - lão bảo - Ta sinh sống tại Roma đây ta truyền bá giáo thuyết của Đấng Crixtux cho một người thiếu nữ nô tỳ cùng quê với ta tên là Eunixe. Cô ta là nô tỳ chuyên lo trang phục ở nhà một người bạn của Hoàng đế, một gã Petronius nào đó. Đó, chính trong ngôi nhà ấy ta đã được nghe lão Glaukox nhận việc bán rẻ tất thẩy những người anh em Thiên chúa giáo, ngoài ra hắn còn hứa với một tên đồng bọn khác của Hòang đế là Vinixius rằng sẽ tìm bằng được cô gái trong đám tín đồ Thiên chúa...


Nói tới đây lão ngừng lại va ngạc nhiên nhìn người thợ vì mắt bác chợt long lên như mắt thú dữ, mặt bác bỗng đổi thành nét giận dữ và đáng sợ.


- Con làm  sao thế? - lão hỏi như sợ hãi.


- Không, thưa cha. Ngày mai tôi sẽ giết chết Glaukox...


Song lão Hi Lạp im lặng, lát sau lão ôm lấy vai người thợ, quay mặt bác cho ánh trăng chiếu thẳng vào mặt rồi nhìn bác chăm chú. Rõ ràng là trong tâm khảm lão chần chừ không hiểu nên hỏi tiếp để lôi tất cả ra ánh sáng hay tạm thời cứ hẵng tạm bằng lòng với những gì lão đã biết hoặc đoán ra được.


Cuối cùng cái tính cẩn thận bẩm sinh vẫn thắng.


Lão thở dài một lần, hai lần, rồi đặt lại bàn tay lên đầu người thợ, lão hỏi lại bằng một giọng trang trọng và nghiêm trang:


- Vậy khi rửa tội còn được đặt tên là Urban?


- Vâng, thưa cha.


- Cầu cho con hằng bình an, Urban con!


 


Chương XVIII


 


Petronius gửi Vinixius:


"Anh thật hỏng mất rồi, anh cháu thân yêu ạ([1])!" Rõ ràng nữ thần Venux đã khiến anh loạn trí, tước mất của anh trí tuệ, trí nhớ và khả năng suy nghĩ về bất cứ thứ gì khác ngoài ái tình. Một lúc nào đó anh hãy đọc lại những gì mà anh đã viết để trả lời cậu và anh sẽ nhận ra rằng hiện giờ đầu óc anh quả là hững hờ với tất cả những gì không phải cô nàng Ligia, rằng anh chỉ quan tâm đến mỗi mình nàng, luôn luôn quay trở lại chuyện về nàng và quanh quẩn quanh nàng như một con diều hâu lượn quanh con mồi mà nó đã chọn. Thề có Ponlukx! Anh hãy tìm ra cô nàng thật nhanh vào, bằng không, nếu lửa không thiêu cháy anh thành tro thì hẳn anh cũng sẽ biến thành một con Nhân sư Ai Cập, mà như người ta thường nói, quá say mê nữ thần Izyx mặt nhợt nhạt nên đã trở nên điếc đặc, hờ hững với tất cả mọi thứ và chỉ chờ đến đêm để được giương đôi mắt đá nhìn người tình.


Đêm đêm anh cứ việc chạy lùng khắp thành phố trong bộ quần áo cải trang, anh cứ việc cùng với nhà triết học của anh lui tới các nhà nguyện của đám dân Thiên chúa giáo. Tất cả những gì tạo nên niềm hy vọng và giết thì giờ đều đáng ca ngợi cả. Nhưng xin anh hãy vì tình gắn bó với cậu mà làm hộ một việc: tên Urxux, nô lệ của Ligia, hình như là một con người sức lực phi thường, vậy hãy thuê Kroton để cả bộ ba các anh tiến hành những cuộc thám hiểm. Như thế an  toàn hơn và có lý trí hơn. Chắc chắn rằng những người Thiên chúa giáo - nếu như bà Pomponia và Ligia thuộc về đạo này - không phải là những người như số đông chúng ta vẫn hiểu, tuy nhiên, qua chuyện bắt cóc Ligia, họ cũng đã chứng minh rằng họ không đùa cợt khi ai đó động chạm đến một con chiên trong đàn của họ. Nếu như anh trông thấy Ligia, cậu biết rõ rằng anh không thể cầm lòng nổi và anh sẽ muốn lôi nàng đi ngay lập tức, nhưng làm sao anh và lão Khilon có thể làm nổi chuyện đó cơ chứ? Còn Kroton thì sẽ làm được, dù cho tới mười thằng cha khỏe như Urxux bảo vệ nàng đi chăng nữa. Anh đừng để cho lão Khilon bóc lột, nhưng đừng tiếc tiền đối với Khilon. Trong tất cả những lời khuyên mà cậu có thể gửi tới anh, có lẽ lời khuyên này là tốt hơn cả.


Ở đây người ta đã thôi không còn nói tới Tiểu Auguta và chuyện cô bé bị chết vì bùa phép nữa. Một đôi khi Poppea cũng còn nhắc tới chuyện đó, nhưng đầu óc của Hoàng thượng đang bận bịu về chuyện khác kia, mà nói cho cùng thì nếu như diva Auguxta hiện đang ở trong trạng thái tâm tính đổ thay thì chắc trong lòng ả, kỳ ức về đứa bé kia cũng đã bị xóa sạch rồi. Đã hơn chục ngày nay chúng tôi lưu lại Neapolix, mà chính xác hơn ở Baiae. Giá như anh có thể suy nghĩ về bất cứ điều gì thì chắc hẳn những tiếng vang về việc chúng tôi đến đây cũng phải vọng tới tai anh, vì cả La Mã chắc hẳn không bàn tán về chuyện gì khác. Chúng tôi đã đi thẳng một mạch tới Baiae, nơi mà những tưởng niệm về người mẹ cùng những giày vò trong lương tâm đè nặng lên chúng tôi. Nhưng anh có biết Ahenobarbux đã tiến đến chỗ nào rồi không? Đến chỗ mà thậm chí tội giết mẹ đẻ đối với ngài cũng chỉ là một đề tài làm thơ và là nguyên cớ để diễn những vở bi hài kịch. Hồi trước ngài chỉ cảm thấy những cắn rứt thật sự khi còn là thằng hèn nhát. Còn giờ đây, một khi ngài đã tin rằng, thế giới vẫn đang nằm dưới chân ngài như xưa, rằng không hề có vị thần nào trả thù ngài cả, thì ngài lại giả vờ làm ra vẻ lương tâm cắn dứt để làm xúc động lòng người bằng chính số phận của ngài. Thỉnh thoảng ngài lại choàng dậy giữa đêm khuya và bảo rằng bị những nữ thần Furie săn đuổi, ngài đánh thức chúng tôi, ngài nhìn ngoảnh lại đằng sau lưng, ngài đóng vai một tên diễn viên hài kịch đang nhập vai Orext - mà là một tên diễn viên xoàng - ngài đọc thơ Hi Lạp và nhìn xem chúng tôi có thán phục hay chăng. Còn chúng tôi thì dĩ nhiên là thán phục sát đất rồi! Và thay vì bảo ngài: "Thôi đi ngủ đi, thằng hề!" thì chúng tôi lại lên dây bi thảm và chúng tôi bảo vệ cho Người nghệ sĩ vĩ đại tránh khỏi các thần Furie. Thề có Kaxtor! Có lẽ ít nhất anh cũng chỉ cần biết rằng ngài đã công diễn ở Neapolix. Người ta đã lùa bọn vô lại Hi Lạp từ Neapolix và các thành phố lân cận tới, chúng khiến cho sân khấu sặc sụa mùi tỏi sống và mùi mồ hôi, đến nỗi cậu thành tâm cảm ơn Thượng đế rằng thay vì ngồi trên hàng đầu giữa các cận thần thì cậu lại cùng với Ahenobarbux ở sau sân khấu. Nhưng anh có tin là ngài đã run sợ không? Ngài đã run đấy. Ngài cầm tay cậu áp vào tim, trái tim quả thực đang đập nhịp dập dồn. Hơi thở ngài ngắn, và đúng vào lúc phải bước ra sân khấu thì ngài tái nhợt như một miếng giấy da cừu, trán tháo mồ hôi hột. Mà ngài thừa biết là tất cả các hàng ghế đều có bọn lính cấm vệ ngồi chực sẵn, mang theo gậy để khi cần thiết sẽ bắt mọi người phải sôi nổi lên. Nhưng không cần đến thế. Không một đàn khỉ nào ở vùng Kartagin lại biết gào thét như đám vô lại này. Nói thật để anh biết, mùi tỏi sộc cả lên tận sân khấu. Còn Nerô thì cúi chào, hai tay áp vào tim, gửi những cái hôn gió và bật lên khóc. Rồi ngài nhào lên như một thằng say rượu: "Tất cả mọi thắng lợi có thấm gì so với thành công của ta?" Còn bên dưới đám vô lại vẫn cứ hú lên và vỗ tay vì chúng biết rõ rằng chúng vỗ tay cho chính ân sủng, quà tặng, công việc làm, vé xổ số của chúng, cho một buổi biểu diễn mới của ông Hoàng đế hề. Và thậm chí cậu cũng không ngạc nhiên gì về việc bọn chúng đã vỗ tay, vì cho tới nay bọn chúng đã được trông thấy cảnh tượng như thế này bao giờ đâu cơ chứ. Còn ngài, chốc chốc ngài lại xuýt xoa: "Đó, người Hi Lạp là thế đó! Người Hi Lạp là thế đó!" Và cậu cảm thấy rằng, từ lúc ấy trở đi, lòng căm thù của ngài đối với La Mã ngày một lớn lên. Tuy vậy ngài cũng vẫn phái các điệp sứ mang tin thắng lợi về  Roma và trong những ngày này các cậu đang chờ đón lời cảm ơn của Nguyên lão viện. Ngay cuộc công diễn đầu tiên của Nerô, ở đây đã xảy ra một tai nạn kỳ lạ. Nhà hát bỗng nhiên đổ sập, nhưng đổ sau khi người ta đã ra về hết. Cậu đã đến hiện trường và không hề thấy người ta lôi một xác người nào ra khỏi đống đổ nát. Nhiều người, trong đó cả người Hi Lạp, xem đó như là cơn giận của các thần vì sự xem thường quyền lực của Hoàng đế, còn ngài ngược lại, lại khẳng định rằng đó là ân huệ của các thần linh bảo trợ cho tiếng hát của ngài cũng như những người nghe ngài hát. Vì thế trong tất cả các thần miếu người ta dâng thêm các lễ vật mới cùng những lời tạ ơn, còn đối với ngài, đó lại là một niềm cổ vũ mới cho chuyến đi tới Akhai. Tuy vậy vài ngày trước đây ngài có nói rằng ngài sợ, không hiểu dân Roma sẽ nói gì về chuyện đó và không hiểu họ có nổi loạn chăng, một phần vì yêu quý ngài, phần nữa vì việc phân phát ngũ cốc và các trò vui rất có thể sẽ bị trễ nải do sự vắng mặt lâu hơn nữa của Hoàng đế.


Tuy vậy chúng tôi vẫn đi Benventơ để chiêm ngưỡng sự xa hoa của lũ thợ g giầy do Vatynius trình bày, rồi từ đó, dưới sự bảo trợ của những người anh linh thiêng của nữ thần Helena, chúng tôi sẽ tới Hi Lạp. Còn nói riêng về cậu thì cậu cũng nhận thấy một điều là nếu anh sống giữa bọn điên thì anh cũng sẽ trở thành thằng điên, tệ hơn nữa, anh sẽ tìm ra một vẻ đẹp nào đó trong sự điên rồ. Hi Lạp và cuộc hành trình với hàng nghìn chiếc đàn tranh một cuộc diễu hành khải hoàn của chiến  thần Bak, giữa các tiên nữ và đồng nữ thờ thần rượu đội những vòng lá sim thơm, lá nho và cành giao, các cỗ xe thắng cương hổ, những hoa cùng vòng hoa, những chiếc gậy thần quấn dây thường xuân của thần Đionizox những tiếng hò reo: evoe! Âm nhạc, thi ca và nữ thần Helepa vỗ tay, tất thẩy những thứ đó đều hay ho cả, nhưng ở đây chúng tôi còn nuôi những ý tưởng dũng cảm hơn nữa kia. Chúng tôi muốn tạo ra một đế chế Đông phương thần thoại nào đó, quốc gia của những cây cọ, của vầng dương, của thi ca, của thực tại được biến thành giấc mơ và cuộc đời biến thành một thứ lạc thú duy nhất. Chúng tôi muốn quên đi cái kinh thành Roma, muốn đặt cán cân thế giới ở đâu đó giữa Hi Lạp, Á châu và Ai Cập, muốn sống cuộc sống không phải của con người mà của các linh thần, không biết thế nào là chuyện trần tục, lạc lối giữa hành lang bằng vàng dưới bóng cánh buồm màu huyết dụ lênh đênh, trên Arkhipelag, muốn được là Apolon, Ozyryx và Baan trong cùng một con người, muốn rực hồng trong ánh bình minh, vàng rực với vầng dương và lấp lánh bạc cùng vầng nguyệt, muốn được làm chủ nhân, được ca hát và mơ tưởng... Và anh biết không, rằng cậu, con người dẫu sao cũng vẫn còn một đồng ý hí và một xu lương tri, ấy vậy mà vẫn để cho những chuyện viễn tưởng kia lôi cuốn, và để cho chúng cuốn lôi bởi vì dẫu chúng không thể nào có thực thì dù sao chúng cũng thật phi thường và vĩ  đại... Cái đế chế thần thoại ấy sẽ là một thứ mà mai sau, mai sau, sau những thế kỷ dài dằng dặc nữa, sẽ vẫn là mộng tưởng đối với con người. Giá nữ thần Venux không hóa thân thành một nàng Ligia hay ít ra cũng thành một nữ tỳ như Eunixe, giá như cuộc sống không được trang điểm bởi nghệ thuật, thì bản thân cuộc sống thật trống rỗng và trăm lần mang bộ mặt khỉ. Song Râu Đỏ không hiện thực hóa những ý tưởng của y đâu, vì rằng trong cái vương quốc thần thoại nọ của thi ca và của Đông phương sẽ không thể nào có chỗ cho sự phản bội, sự đê tiện và cái chết, trong khi đó dưới cái vỏ thi sĩ, trong y lại chỉ có một chàng kịch sĩ hài kịch tầm thường, một tên đánh xe ngớ ngẩn và một tên bạo chúa nông cạn. Tuy nhiên chúng tôi vẫn cứ bóp cổ những kẻ làm chúng tôi  thất vọng theo một cách nào đó như thường. Lão Torkvatux Xylanux đáng thương chỉ còn là một bóng ma. Mấy ngày trước đây hắn đã phải tự mở phanh mạch máu của mình. Lekanius và Lixynius run rẩy nhận chắc chấp chánh quan, còn ông lão Trazeas cũng không thể tránh khỏi chết, vì tử thần vốn anh minh. Cho tới nay Tygelinux vẫn chưa soạn nổi cho cậu bản án bắt cậu phải tự mở phanh mạch máu. Cậu hãy còn cần thiết, không chỉ với vai trò eleganliae arbiler mà còn như một người, mà nếu thiếu đi thì niềm vui và hương vị thơm tho của chuyến đi Akhai có thể sẽ không còn. Tuy nhiên nhiều lúc cậu nghĩ rằng sớm muộn rồi cũng phải kết thúc ở đó, và anh có biết những khi ấy cậu nghĩ ra điều gì không: đó là sao cho Râu Đỏ không được nhận chiếc bình xứ Miren của cậu, chiếc bình mà anh đã biết và đã thán phục đấy. Nếu khi cậu chết mà anh ở bên cậu thì cậu sẽ tặng anh chiếc bình đó, còn nếu anh ở xa, cậu sẽ đập vỡ nát nó ra. Song trước mặt chúng ta hãy còn có thành Beneventơ của bọn thờ giầy, còn có Hi Lạp với những hội thế vận và nữ thần Fatum, kẻ chỉ cho từng người một con đường chưa từng biết và không thể lường trước. Anh khỏe nhé, nhớ thuê Krlolon, nếu không người ta sẽ cướp Ligia của anh lần nữa đấy. Lúc nào anh thôi cần đến lão Khilon hãy gửi lão đến cho cậu, dù cậu đang ở bất cứ nơi đâu. Rất có thể cậu sẽ biến lão ta thành một tên Vatynius thứ hai và những vị chấp chính quan cùng các ngài nguyên lão nghị viện sẽ phải run lên trước lão như đã từng run rẩy trước vị hiệp sĩ thợ giầy nọ. Đó là một cảnh tượng thật đáng trông thấy. Nếu anh tìm lại được nàng Ligia, hãy báo cho cậu biết để cậu dâng thiên nga và bồ câu lên thần miếu hình tròn nơi đây thờ nữ thần Venera cầu nguyện cho anh chị. Có lần cậu nằm mơ thấy Ligia đang ngồi trên đầu gối của anh và tìm những nụ hôn của anh. Hãy cố gắng để giấc mơ đó là giấc mộng báo trước. Cầu cho bầu trời của anh không gợn một bóng mây đen nào, và nếu có mây, cầu cho chúng có màu sắc và hương hoa hồng. Mong anh khỏe, tạm biệt anh!".


 


Chương XIX


 


Vinixius vừa đọc xong thì lão Khilon đã không một tiếng động ló người vào thư viện mà không một ai báo trước, vì gia nhân được lệnh để cho lão ra vào bất kể giờ nào, ngày cũng như đêm.


- Cầu người mẹ thánh linh của ông cụ tổ Eneas đại lượng của ngài - lão nói - sẽ ban ơn phước cho ngài, thưa ông chủ, giống như người con trai thần thánh của nữ thần Mai đã rủ lòng thương tôi vậy.


- Thế nghĩa là gì? - Vinixius hỏi và bật dậy khỏi cái bàn mà chàng đang ngồi.


Lão Khilon ngẩng đầu lên nói:


- Eureca!([2])


Chàng quý tộc trẻ tuổi xúc động đến nỗi suốt giây lâu không thốt được một lời nào.


- Ngươi đã trông thấy nàng rồi ư? - mãi sau chàng hỏi.


- Tôi đã nhìn thấy tên Urxux, thưa ngài, và đã trò chuyện với hắn.


- Và ngươi biết hiện chúng đang ẩn trú nơi đâu?


- Không, thưa ngài. Giá là kẻ khác thì vì sự tự tôn, chắc hắn đã để lộ cho tên Ligi biết rằng hắn đã đoán được y là ai. Kẻ khác hẳn đã cố gắng tìm hiểu xem y sống tại đâu và chắc chắn đã được nhận một quả cân mà sau đó mọi sự trên đời đối với hắn đều trở nên vô nghĩa, hoặc sẽ khiến cho tên khổng lồ nọ nghi ngờ và có thể ngay trong đêm nay y sẽ kiếm cho cô gái một chỗ ẩn náu khác. Tôi đã không hành động như thế, thưa ngài. Tôi chỉ cần biết rằng tên Urxux hiện đang làm việc cho một tên chủ cối xay bột gần Empirum tên là Đemax - giống như tên một người nô lệ giải phóng của ngài - tôi chỉ cần có thế thôi và giờ đây, một tên nô lệ tin cẩn nào đó của ngài sáng sớm mai có thể đi theo hút y và phát hiện ra chỗ họ đang ẩn trốn. Thưa ngài, còn tôi, tôi chỉ mang tới cho ngài điều đoán chắc rằng, nếu tên Urxux còn đang ở nơi đây thì nàng Ligia thần nữ hiện đang có mặt tại Roma, và tin thứ hai là đêm hôm nay hầu như chắc chắn là nàng sẽ có mặt ở Oxtrianum.


- Tại Oxtrianum? Đó là nơi nào vậy? - Vinixius ngắt lời, rõ ràng là chàng muốn chạy ngay tới chỗ được chỉ.


- Một nhà mồ cổ nằm ngay giữa Via Xalaria và Nomentana. Vị pontifex maximus (chức sắc cao nhất) của đạo Thiên chúa mà tôi đã thưa cùng ngài, người mà người ta cho rằng còn lâu nữa mới tới, hiện đã tới đây và đêm nay chính tại nghĩa địa ấy, ông ta sẽ làm lễ rửa tội và thuyết giảng. Bọn họ vẫn giấu giếm giáo thuyết của mình, vì mặc dù cho tới nay chưa có đạo luật nào cấm đoán nó, nhưng người ta vẫn căm ghét họ nên họ phải thận trọng. Chính tên Urxux nói cho tôi hay rằng tất cả mọi người không trừ một ai đêm nay sẽ tập trung tại Oxtrianum, vì ai cũng muốn được gặp và được nghe người học trò số một của Đấng Crixtux, mà người ta gọi là Sứ đồ. Và bởi vì giữa bọn họ thì đàn bà cũng ngang bằng với đàn ông, nên có lẽ trong số đàn bà con gái chỉ vắng mặt bà Pomponia, vì bà ta không thể giải thích thế nào cho ông Aulux - người vẫn thờ cúng các vị thần cổ xưa - rõ tại sao đêm hôm bà lại ra khỏi nhà; còn nàng Ligia, thì thưa ngài, nàng được Urxux và các vị bề trên của họ đạo che chở nên chắc chắn hẳn nàng sẽ đến dự cùng với các phụ nữ khác.


Vinixius, người cho tới lúc này vẫn sống như trong cơn mê sảng, chỉ có tồn tại bởi niềm hy vọng, giờ đây, khi niềm hy vọng ấy có cơ trở thành hiện thực, chàng bỗng cảm thấy rời rã cả người, hệt như một người bộ hành kiệt sức lúc vừa về tới đích. Lão Khilon nhận thấy điều đó và quyết định lợi dụng ngay:


- Thưa ngài, các cổng thành quả có người của ngài canh gác và chắc chắn bọn Thiên chúa giáo cũng biết rõ điều đó. Nhưng họ không cần các cổng thành đâu. Sông Tyber cũng không cần cho họ, và mặc dù từ sông tới mạn ấy rất xa, họ cũng chẳng ngại gì chuyện chuốc thêm đường đất để được gặp vị "Đại Sứ Đồ". Mà nói cho cùng, họ có thể có hàng nghìn cách để vượt tường thành và tôi biết chắc rằng họ có.


Tại Oxtrianum ngài sẽ tìm thấy nàng Ligia, thưa ngài, và thậm chí nếu như - điều mà tôi không nghĩ là có thể xảy ra - nàng không có mặt tại đấy, thì cũng sẽ có tên Uxtux, vì tên này đã hứa với tôi là sẽ giết chết lão Glaukox. Chính hắn nói với tôi là hắn sẽ sẽ có mặt tại đó và sẽ giết lão, ngài có nghe rõ chăng, thưa ngài hộ dân quan cao quý? Vậy thì hoặc là ngài sẽ đi theo sau hắn và sẽ tìm biết được nàng Ligia đang ở nơi nào, hoặc ngài sẽ ra lệnh cho người của ngài bắt hắn như bắt một tên sát nhân, và một khi đã nắm được hắn trong tay, ngài sẽ bắt hắn khai ra nơi hắn dấu nàng Ligia. Thế là tôi đã hoàn thành công việc của tôi rồi nhé! Nếu là kẻ khác, thưa ngài, hẳn sẽ phịa với ngài rằng y đã nốc cùng Urxux cạn cả mười vò rượu nho hảo hạng nhất trước khi moi được điều bí mật, kẻ khác hẳn đã nói với ngài rằng đã phải chịu thua Urxux một ngàn đồng xextecxi trong trò scriptae duodecim hoặc đã mua cái tin ấy với giá hai ngàn đồng... Tôi biết là người đã hoàn trả lại gấp đôi số tiền ấy, tuy vậy, ít nhất cũng một lần trong đời... à, đó là tôi muốn nói, như mọi lần trong đời, tôi phải trung thực, bởi tôi vẫn hy vọng rằng - như ngài Petronius đại lượng đã từng nói - tất thẩy mọi khoản chi tiêu cùng mọi niềm hoài vọng của tôi sẽ bị lòng hào phóng của ngài vượt xa.


Song Vinixius là một người lính, chàng không những chỉ quen tự lo liệu trong mọi tình huống mà còn biết hành động nữa, nên chàng thắng phút yếu lòng của mình và bảo:


- Ngươi sẽ không phải thất vọng về lòng hào phóng của ta, nhưng trước hết ngươi phải đi cùng ta tới Oxtrianum đã.


- Tôi phải đi tới Oxtrianum sao? - lão Khilon hỏi lại, lão không hề muốn tới đó chút nào - Tôi, thưa ngài hộ dân quan tôn kính, chỉ hứa sẽ chỉ ra chỗ ở của nàng Ligia cho ngài, chứ có hứa sẽ bắt cóc nàng đâu... Xin ngài hãy nghĩ hộ xem chuyện gì sẽ xảy đến với ôi, một khi con gấu xứ Ligi kia, sau khi xé xác lão Glaukox, lại biết được rằng đã xé xác lão một cách hoàn toàn vô căn cứ? Liệu hắn có xem tôi (nói cho đúng thì quan niệm như thế là sai) như thủ phạm của vụ giết người ấy chăng? Xin hãy nhớ, thưa ngài, rằng triết gia càng vĩ đại bao nhiêu thì lại càng khó trả lời những câu hỏi ngu ngốc của bọn người vai u thịt bắp bấy nhiêu, vậy nên tôi làm sao có thể trả lời được nếu y hỏi tại sao tôi lại kết tội lão thầy thuốc Glaukox? Còn nếu ngài nghi là tôi định đánh lừa ngài thì xin ngài hãy trả tiền cho tôi khi nào tôi chỉ được cho ngài thấy ngôi nhà nàng Ligia đang ở; còn hôm nay, chỉ xin ngài hé cho tôi thấy chút xíu lòng hào phóng của ngài mà thôi, để nếu như ngài bị (cầu ất cả linh thần tránh cho ngài khỏi điều ấy) một tai nạn nào đó, thì tôi cũng khỏi phải chịu cảnh thiệt thòi không được một chút ân thưởng. Trái tim ngài hẳn không bao giờ chịu đựng nổi một chuyện như thế đâu.


Vinixius bước đến cái hòm đặt trên những chiếc chân bằng đá cẩm thạch, được gọi là arca, và lấy ra một túi tièn, chàng dúi cho lão Khilon.


- Túi này đựng những đống xerupulum - chàng bảo - Khi nào Ligia về lại nhà ta, nhà ngươi sẽ được nhận một túi tiền như thế này nhưng đựng đầy những đồng aureux([3])


- Lạy thần Jupiter! - lão Khilon kêu lên.


Song Vinixius đã nhíu đôi lông mày.


- Tại đây nhà ngươi sẽ được ăn, sau đó ngươi có thể nghỉ ngơi. Từ giờ tới chiều ngươi sẽ không được rời khỏi đây, đêm đến ngươi sẽ đi cung ta tới Oxtrianum.


Trên nét mặt lão Hi Lạp thoáng hiện vẻ sợ hãi và ngần ngại trong một giây, nhưng sau đó lão định thần lại và nói:


- Nào ai cưỡng chống ngài  đâu cơ chứ! Xin ngài hãy đón nhận những lời này như một lời bói tốt lành,  giống như vị anh hùng vĩ đại trong thần miếu Ammon của chúng ta đã từng đón nhận những lời tương tự. Còn tôi thì những đồng tiền "vặt vãnh" này (lão lắc lắc túi tiền) đã chinh phục tôi rồi, chưa nói tới chuyện được đi cùng ngài, điều quả thực là niềm sung sướng và vinh hạnh cho tôi.


Song Vinixius đã nóng nảy ngắt lời lão và chàng bắt đầu hỏi tỉ mỉ về những chi tiết cuộc nói chuyện của lão với Urxux. Từ những lời trò chuyện đó có thể rút ra một điều rõ ràng là: hoặc ngay trong đêm nay nơi ẩn náu của Ligia sẽ được tìm ra, hoặc có thể bắt cóc nàng khi nàng từ Oxtrianum quay trở về. Chỉ cần nghĩ tới đó là một niềm vui bồng bột đã trào dâng trong lòng Vinixius. Giờ đây, khi chàng đã gần như cầm chắc sẽ đoạt lại được Ligia tì cả nỗi tức giận cùng niềm oán trách đối với nàng chợt biến mất. Vì niềm vui sướng ấy, chàng có thể tha thứ cho nàng mọi lỗi lầm. Chàng chỉ còn nghĩ về nàng như nghĩ về một sinh linh thân yêu và đầy thèm muốn, chàng có cảm giác như trở về. Chàng những muốn gọi đám nô lệ đến và lệnh cho họ trang trí nhà cửa bằng các tràng hoa dây cuốn. Thậm chí lúc này đây chàng cũng không còn oán bác Urxux nữa. Chàng sẵn lòng tha thứ cho mọi người tất thẩy mọi điều. Lão Khilon, người mà cho tới nay chàng vãn cảm thán gờm ghét bất chấp những công trạng của lão, lần đầu tiên bỗng trở nên một con người thú vị và không tầm thường trong mắt chàng. Chàng thấy như ngôi nhà bỗng trở nên rực rỡ, mắt người và những khuôn mặt người rạng rỡ hẳn ra. Chàng lại cảm nhận được tuổi trẻ và lạc thú của cuộc đời. Nỗi cay đắng buồn thảm vừa qua chưa thấm thía chi một khi chàng vẫn còn yêu Ligia. Mãi tới giờ đây khi chàng hy vọng sẽ có được nàng, chàng mới hiểu ra điều ấy. Nỗi khát khao nàng thức dậy trong chàng như đất đai được mặt trời sưởi ấm tỉnh thức lúc sang xuân, song giờ đây dục vọng của chàng hình như ít mù quáng hơn và ít hoang dã hơn, mà nhiều vui sướng và giàu âu yếm hơn. Chàng cảm thấy trong lòng có một nghị lực vô biên và chàng tin chắc rằng một khi mắt chàng trông thấy Ligia rồi thì dù tất cả các tín đồ Thiên chúa giáo trên toàn thế giới - thậm chí ngay cả chính Hoàng đế - cũng không thể nào cướp lại nàng được nữa.


Còn lão Khilon, được nỗi vui sướng của chàng tiếp thêm can đảm, cũng cất tiếng góp những lời khuyên. Theo lão chớ nên vội xem là chuyện này đã được giải quyết xong mà nên giữ thận trọng tối đa vì nếu không mọi sự sẽ hóa ra công cốc hết. Lão cũng cầu khẩn Vinixius, khuyên chàng chớ có bắt Ligia ngay tại Oxtrianum. Cả bọn nên tới đó với những chiếc mũ trùm đầu che mặt, và chỉ nên ẩn vào một góc tối nào đó để quan sát tất cả mọi người mà thôi. Khi nào thấy Ligia thì tốt nhất nên đi theo nàng với một khoảng cách đủ xa để xem xem nàng vào nhà nào, sáng sớm mai mới dùng một lực lượng nô lệ mạnh bao vây ngôi nhà ấy và bắt nàng giữa ban ngày. Vì nàng là con tin và thuộc quyền Hoàng đế nên hoàn toàn có thể làm chuyện đó mà không sợ phạm pháp. Còn nếu như không thấy nàng ở Oxtrianum thì sẽ đi theo sau Urxux và kết quả cũng tương tự như thế. Còn tại nghĩa địa, trước một số đông người thì không thể thành công được, vì có thể làm cho mọi người để ý, và khi ấy bọn Thiên chúa giáo chỉ cần tắt tất cả đèn đóm  - giống như trong lần bắt cóc đầu tiên - và tản ra hoặc ẩn mình trong bóng tối trong những hang ổ chỉ có họ biết. Ngược lại, cần phải võ trang, và tốt nhất nên dẫn theo hai người tin cẩn và khỏe mạnh để khi cần họ sẽ hộ vệ cho.


Vinixius thừa nhận rằng lão hoàn  toàn có lý, đồng thời chàng cũng nhớ tới lời khuyên của ông Petronius nên chàng ra lệnh cho các nô lệ mời Kroton đến gặp chàng. Lão Khilon, kẻ biết tất cả mọi người ở Roma, yên lòng hơn nhiều khi được nghe tên chàng lực sĩ nổi tiếng, người mà lão đã hơn một lần thán phục sức khỏe phi thường trên võ đài, và lão tuyên bố rằng lão nhất định sẽ đi Oxtrianum. Lão cảm thấy rằng với sự giúp đỡ của Kroton, cái túi tiền đựng đầy những đồng aureus có vẻ dễ đoạt được hơn nhiều.


Thế là lão vui vẻ ngồi vào cái bàn ăn mà lát sau viên quản gian chính sảnh gọi lão tới, trong khi ăn lão kể cho bọn nô lệ nghe rằng lão đã cung cấp cho ông chủ của họ một thứ thuốc cao tuyệt vời, chỉ cần bôi vào móng những con ngựa xoàng xĩnh nhất cũng khiến cho chúng vượt xa tất cả những con tuấn mã khác. Một tín đồ Thiên chúa đã truyền dạy cho lão cách chế loại cao này, vì những tín đồ Thiên chúa cao tuổi còn giỏi về phép thuật và phú chú hơn cả những người Texalia, mặc dù sứ Telia cũng lừng danh vì phép phủ thủy bùa chài. Các tín đồ Thiên chúa vô cùng tin tưởng lão, còn vì sao họ lại tin lão thì bất cứ người nào hiểu được con cá có ý n nghĩa gì đều có thể đoán được dễ dàng. Vừa trò chuyện ba hoa vừa chăm chăm nhìn vào mặt những người nô lệ với hy vọng sẽ phát hiện ra tín đồ Thiên chúa trong bọn họ và sẽ báo cho Vinixius biết. Nhng khi cái hy vọng ấy tiêu tan thì lão bèn ăn uống nhiều vô kể, đồng thời không tiếc lời khen ngợi đầu bếp và cam đoan là sẽ cố gắng mua lại của Vinixius tay đầu bếp ấy. Sự vui vẻ của lão chỉ bị vẩn đục bởi mỗi một ý nghĩ là đến đêm sẽ phải đi Oxtrianmu, song lão cũng tự an ủi rằng dù sao lão cũng được mặc quần áo cải trang, lại đi trong đêm và cùng với hai người đồng hành, một người là vị lực sĩ số một của cả Roma, còn người kia là một nhà quý tộc đồng thời là võ quan cao cấp. "Dù cho bọn họ có phát hiện ra Vinixius đi nữa - lão nhủ thầm - thì chắc họ cũng không dám động chạm tới chàng, còn ta thì bọn họ sẽ là những kẻ thông minh nếu như họ trông thấy được cái chóp mũ của ta".


Rồi sau đó lão nhớ lại cuộc chuyện trò với người thợ và nhưng điều nhớ lại ấy khiến lão một lần nữa lại được cổ vũ. Lão không hề nghi ngờ gì nữa người thợ ấy hẳn chính là Urxux. Qua những điều trao đổi với Vinixius và những người đưa Ligia ra khỏi hoàng cung, lão biết sức lực phi thường của con người này. Cho nên khi ở nhà ông Euryxius lão dò hỏi về những người rất khỏe mạnh, thì chẳng có gì lạ là người ta đã chỉ Urxux cho lão. Rồi sự lúng túng và cơn tức giận tiếp đó của người thợ khi được nghe nhắc tới Vinixius và Ligia cho phép nghi ngờ rằng những người kia có quan hệ mật thiết với bác ta; người thợ cũng còn nói tới việc sám hối vì đã giết chết một con người, còn Urxux thì đã giết chết Ataxynux; và cuối cùng diện mạo của người thợ hoàn toàn phù hợp với những gì Vinixius mô tả về bác người Ligi này. Chỉ có cái tên bị thay đổi đi là có thể gay nghi ngờ, song lão Khilon biết rằng khi chịu lễ rửa tội, dân Thiên chúa giáo thường nhận những cái tên mới.


"Nếu Urxux giết chết Glaukox - lão Khilon bụng bảo dạ - thì càng hay, còn nếu y không giết, đó cũng là một dấu hiệu tốt, vì nó chứng tỏ rằng chuyện giết người đối với tín đồ Thiên chúa khó khăn biết chừng nào. Mình đã phải mô tả cái lão Glaukox nọ như chính con đẻ của Juđa và là kẻ phản bội của tất cả dân Thiên chúa, mình đã ăn nói hùng hồn đến nỗi đá chắc cũng phải cảm động mà hứa hẹn là sẽ rơi xuống đầu lão Glaukox, ấy vậy mà mình phải vất vả lắm mới thuyết phục được con gấu xứ Ligi kia đẻ y hứa sẽ ra tay với lão... Y do dự, không muốn, kể lể nỗi niềm hối tiếc và ăn năn của y. Rõ ràng là chuyện đó không trôi trong đám bọn họ... Những điều bản thân bị xúc phạm thì cần phải tha thứ, những chuyện xúc phạm của người khác cũng không nen báo thù, ergo: hãy suy nghĩ thử xem nào. Khilon, có gì có thể đe dọa nhà ngươi kia chứ? Lão Glaukox không được phép trả thủ người kia mà... Còn Urxux, nếu không giết Glaukox vì cái tội to như chuyện phản bội toàn thể những người Thiên chúa, thì lại càng không thể giết ngươi vì cái tội nhỏ bé là phản bội một người Thiên chúa giáo. Vả chăng, một khi mình đã trỏ cái tổ chim gáy cho con bồ câu đại dữ dằn kia rồi, mình sẽ lập tức rửa sạch hai bàn tay khỏi mọi chuyện và chuyển về Neaploix sinh sống. Đám dân Thiên chúa cũng hay nói tới một sự rửa tội nào đó, chắc hẳn đó là phương pháp mà nếu như có chuyện ấy một cách dứt khoát. Cái đám tín đồ Thiên chúa này mới tốt làm sao, ấy thế mà người ta nói về họ mới tệ hại làm sao! Ôi, lạy các thần linh! Công lý trên thế giới này là thế đấy! Mình thì lại yêu cái giáo thuyết này ở chỗ nó không cho phép người ta giết người. Nhưng nếu nó đã cấm giết người thì chắc nó cũng không cho phép ăn cắp, lừa đảo, làm chứng giả mạo, và thế thì mình cũng không thể nói là nó dễ thực hiện. Rõ ràng nó không chỉ dạy người ta biết chết trung thực như những kẻ khắc kỷ mà còn biết sống trung thực. Khi nào mình giàu có được ngôi nhà như nhà này, với ngần kia nô lệ, thì chắc mình sẽ là tín đồ Thiên chúa cho tới khi nào còn thuận lợi cho mình. Vì người giàu có thể cho phép bản thân làm được tất cả mọi chuyện, kể cả chuyện đức hạnh nữa... Phải! Đó chính là thứ tôn giáo dành cho người giàu, và vì thế mình không biết tại làm sao trong đám bọn họ lại có tới bấy nhiêu kẻ nghèo. Nó mang lại gì cho họ và tại sao họ lại để cho đức hạnh bó tay? Khi nào đó mình phải nghiền ngẫm kỹ chuyện này mới được. Còn bây giờ,  thì thưa thần Hermex, thật vinh quang cho người đã giúp tôi tìm được con dũi kia... Nhưng nếu thần làm việc đó vì hai con chiên non một tuổi lông trắng với những chiếc sừng mạ vàng, thì quả thực tôi không sao nhận ra thần nữa đấy! Hãy tự xấu hổ đi, hỡi kẻ giết Argo! Một vị thần thông minh thế kia mà không biết trước ngay từ đầu rằng mình sẽ chẳng nhận được gì hết. Thay vì lũ chiên, tôi xin dâng hiến cho thần lòng biết ơn của tôi, còn nếu như thần thích hai con vật nọ hơn lòng biết ơn của tôi, thì chính thần sẽ là con thứ bá, và cùng lắm thì thần cũng chỉ có thể là mục đồng chứ không thể là thần linh được. Hãy liệu chừng đấy, để cho với tư cách là một triết gia tôi không chứng minh cho mọi người thấy rằng làm gì có thần, và khi ấy người ta sẽ thôi không dâng hiến lễ vật lên thần nữa đâu! Nên sống tốt với các triết gia thì hơn".


Vừa tự nhủ như thế với bản thân và trò chuyện với thần Hernniex, lão vừa duỗi mình ra chiếc ghế dài, dọn tấm áo khoác dưới đầu và ngủ thiếp đi trong lúc đám nô lệ đang dọn dẹp bát đĩa. Mãi tới khi Kroton đến, lão mới tỉnh dậy - đúng hơn là bị đánh thức dậy. Khi ấy lão bèn bước vào gian chính sảnh thông thiên và thích thú ngắm nghía cái thân thể lực lưỡng của viên lanixta, một đấu sĩ siêu hạng, thân hình khổng lồ dường như chật cả gian chính sảnh. Kroton vừa ngã giá xong và đang nói với Vinixius:


- Thề có Herkulex! Thật hay, thưa ngài, rằng hôm nay ngài cho gọi tôi, bởi vì sáng ngày mai tôi đã lên đường đi Beneventơ, nơi mà ngài Vatynius cao quý cho vời tôi tới để trình diễn cho Hoàng thượng xem cuộc đấu với một tên Xyfacx nào đó, một tên da đen khỏe nhất mà Phi châu sản sinh ra từ trước tới nay. Thưa ngài, ngài có hình dung ra cảnh xương cốt của hắn sẽ gẫy vụn trong đôi cánh tay tôi như thế nào không, nhưng ngoài ra, tôi sẽ dùng nắm đấm đập giập đầu hắn ra nữa.


- Thề có Poulukx! - Vinixius đáp - Ta chắc là anh sẽ hành đọng như thế, Kroton à.


- Và ngài hành động thật tuyệt vời! Lão Khilon nói thêm - Phải! - Ngoài ra ngài còn đập giập đầu hắn nữa! Một ý định tuyệt vời, một hành động thật xứng với ngài. Tôi xin sẵn sàng đánh cuộc là ngài sẽ quại vỡ đầu hắn. Nhưng xin ngài, thưa Herkulex của tôi, hãy bôi dầu vào tay và hãy chợp mắt một lúc đã, vì xin ngài hãy biết cho, rằng ngài sẽ có chuyện với thần Kakus thật sự đấy. Người canh  giữ cô gái mà ngài Vinixius tôn quý đây muốn tìm hình như là người có sức khỏe phi thường đấy.


Lão Khilon nói thế chỉ cốt để động đến lòng tự ái của Kroton, nhưng Vinixius nói tiếp:


- Chính thế, bản thân ta chưa trông thấy chuyện ấy, nhưng người ta nói rằng y mà đã nắm được sừng bò tót thì có thể lôi nó tới đâu cũng được.


- Ối chà! - lão Khilon kêu lên, lão không thể hình dung là Urxux lại khỏe đến thế.


Song Kroton mỉm cười khinh thị.


- Thưa quý ngài - hắn nói - tôi xin dám chắc là bằng cánh tay này tôi có  thể bắt giữ bất kỳ kẻ nào theo lệnh ngài, còn cánh tay thứ hai này tự vệ chống lại cả bẩy  tên Ligi như hắn, tôi sẽ mang được cô thiếu nữ về nhà cho ngài, dù cho toàn thể bọn Thiên chúa ở Roma có kéo theo tôi như một đàn sói xứ Kalalui đi chăng nữa. Nếu như tôi không làm được chuyện ấy, tôi xin chịu bị đánh đòn ngay trên thành cái bể nước này.


- Xin ngài đừng cho phép anh ta làm chuyện ấy, thưa ngài - lão Khilon kêu lên - Nếu bọn chúng dùng đá nhện vào chúng ta thì sức lực phỏng có thể giúp ích được gì? Sao lại không cướp cô gái đi từ nhà mà không hề nguy hiểm cho cả nàng lẫn bản thân mình?


- Phải như thế, Kroton à - Vinixius nói.


- Tiền của ngài, ý muốn của ngài! Chỉ xin ngài nhớ hộ cho, rằn ngày mai tôi đã phải đi Beneventơ rồi đấy.


- Chỉ tính riêng trong thành phố đã có tới năm trăm tên nô lệ - Vinixius đáp lại.


Rồi chàng ra hiệu cho cả hai ra ngoài, còn chàng đến thư phòng ngồi viết những dòng sau đây cho ông Petronius:


"Lão Khilon đã tìm thấy Ligia. Tối hôm nay cháu sẽ cùng lão và Kroton đến Oxtrianum và cháu sẽ bắt nàng ngay hoặc bắt từ nhà nàng vào sáng mai. Cầu các thần rót xuống cậu tất cả mọi sự như ý. Chúc cậu khỏe, cậu thân yêu, vì niềm vui sướng không cho phép cháu viết dài hơn nữa!"


Và đặt chiếc bút sậy xuống, chàng bắt đầu đi tản bộ bằng những bước nhanh nhẹn, vì bên cạnh niềm sướng vui đang tràn ngập lòng chàng, chàng còn rất nóng ruột. Chàng tự nhủ rằng chỉ ngày mai Ligia sẽ có mặt tại nhà chàng. Chàng không biết nên đối xử với nàng ra sao, chàng chỉ cảm thấy rằng nếu nàng muốn yêu chàng thì chàng sẵn lòng làm nô lệ của nàng. Chàng nhớ lại điều nàng Akte đoán chắc rằng chàng đã từng được yêu và chàng xúc động đến tận tâm can. Vậy có nghĩa là chỉ cần chiến thắng một sự hổ thẹn trinh nữ nào đó vượt qua những thể thức gì đó mà chắc giáo thuyết Thiên chúa bắt  buộc? Nhưng nếu thé, thì một khi Ligia đã ở trong nhà chàng và bị thuyết phục bởi lời nói hoặc bị chinh phục bằng sức lực, hẳn nàng sẽ phải tự nhủ: "Chuyện đã rồi", và sau đó nàng sẽ tuân phục và được yêu chiều.


Lão Khilon bước vào làm gián đoạn dòng suy nghĩ khoan khoái nọ của chàng.


- Thưa ngài - lão Hi Lạp nói - tôi vừa chợt nghĩ đến một chuyện: Nếu bọn Thiên chúa giáo dùng những dấu hiệu đó, tấm vé vào cửa nào đó, ai không có không được vào Oxtrianum thì sao? Tôi được biết rằng tại các nhà nguyện thường như vậy và tôi đã được nhận một tấm vé như thế từ tay lão Euryxius. Xin ngài hãy cho phép tôi đến chỗ lão hỏi cho rõ và xin mấy vật hiệu kia, nếu như chúng quả là cần thiết.


- Được thôi, hỡi nhà thông thái cao quý - Vinixius vui vẻ đáp - Ngươi nói như một con người nhìn xa trông rộng và thật đáng khen. Vậy thì ngươi hãy tới chỗ Euryxius hoặc chỗ nào ngươi thích, nhưng để cho chắc thì ngươi hãy để cái túi nho nhỏ mà ngươi vừa được nhận lại trên bàn này.


Vốn là người không lúc nào thích rời tiền bạc, lão Khilon nhăn mặt, tuy vậy lão cũng thực hiện mệnh lệnh rồi bước ra. Từ Karyn đến Hý trường, nơi có quầy hàng nhỏ của ông Euryxius, không mấy xa, nên lão quay về khá lâu trước khi trời tối.


- Thưa ngài, đây là các vật hiệu. Giá không có những thứ này thì hẳn người ta sẽ không cho chúng ta vào. Tôi cũng đã dò hỏi thật kỹ lưỡng đường đi, đồng thời tôi bảo với lão Euryxius rằng tôi chỉ cần có các vật hiệu cho đám bạn bè, còn tôi thì sẽ không đi vì đối với người già cả như tôi thì xa quá, hơn nữa, ngày mai thế nào tôi cũng gặp Đức Đại sứ đồ, người sẽ nhắc lại cho tôi nghe những đoạn hay nhất trong bài thuyết giáo của người.


- Sao thế, ngươi sẽ không đi à? Ngươi phải đi! - Vinixius nói.


- Tôi biết rằng tôi phải đi, nhưng tôi sẽ che đầu che mặt thật kỹ mới đi và tôi khuyên các ngài cũng nên làm như vậy, nếu không chúng ta có thể làm cho lũ chim hoảng sợ.


Quả thực họ bắt đầu sửa soạn quần áo ngay vì đêm đã xuống. Họ mặc những chiếc áo choàng kiểu Gan có mũ trùm đầu, mang theo đèn, ngoài ra Vinixius còn trang bị cho mình và các bạn những chiếc dao ngắn mũi cong. Lão Khilon thì đòi thêm một búi tóc giả mà dọc đường đến nhà Euryxius lão đã tự trang bị cho mình, rồi họ vội vã đi để đến cho kịp cổng thành Nomentan trước khi cổng thành đóng.



(Còn tiếp)


Nguồn: Quo Vadis, tiểu thuyết của Henryk Sienkicvicz - Nobel Văn học 1905.


Nguyễn Hữu Dũng dịch và giới thiệu. NXB Văn học in lần đầu 1985-1986, sau đó tái bản nhiều lần. Những lần mới nhất là: năm 2011; năm 2016- Kỷ niệm 100 năm ngày mất của Đại văn hào Ba Lan. Lời bạt của nhà văn Triệu Xuân: Nhà văn, Dịch giả Nguyễn Hữu Dũng và Quo Vadis.



Dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan: Henryk Sienkicvicz. Quo Vadis. Anstwwy InstytutWydawniezy. Warszawa - 1977.


www.trieuxuan.info


 



 







([1]) Tiếng La tinh trong nguyên bản: Carissime.




([2]) Tìm ra rồi (La tinh)




([3]) Scripulum hoặc scrupulum là một loại tiền vàng nhỏ, có giá trị bằng một phần ba đồng Đenar (tức là đồng aureux).



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.Chương 34
6.Chuong 32 & 33
7.Chương 30 & 31
8.Chương 28 & 29
9.Chương 27
10.Chương 26
11.Chương 25
12.Chương 24
13.Chương 23
14.Chương 22
15.Chương 21
16.Chương 17, 18, 19 & 20
17.Chương 15 & 16
18.Chương 14
19.Chương 12 & 13
20.Chương 10 & 11
21.Chương 8 & 9
22.Chương 7
23.Chương 5 & 6
24.Chương 3 & 4
25.Chương 2
26.Chương 1
27.Lời Giới thiệu
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »